Chương 1. Cơ sở lý luận về công nghệ thông tin, cải cách thủ tục hành chính và chính sách Chương 2. Đánh giá tác động của chính sách thúc đẩy ứng dụng CNTT vào cải cách thủ tục hành chính tại quận Thanh Xuân. H nh thành một số giải pháp thúc đẩy ứng dụng CNTT vào cải cách thủ tục hành chính chính tại quận Thanh Xuân.
13 Footer Page 18 of 107. Header Page 19 of 107. PHẦN NỘI DUNG CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG VÀ CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH 1. Công nghệ thông tin và cải cách hành chính 1.
Công nghệ thông tin CNTT ( Tiếng Anh: Information Technology ) hay là IT là ngành sử dụng máy tính và phần mềm máy tính để chuyển đổi, lưu trữ, bảo vệ, xử lý, truyền và thu thập thông tin. - Theo UNESCO1, CNTT bao gồm việc sử dụng các ứng dụng máy tính, công nghệ viễn thông và tin học trong việc truy cập và cung cấp thông tin riêng và chung. Nó cho phép mọi người giao tiếp và trao đổi thông tin giới hạn trong không gian số (cyberspace), làm việc tại văn phòng áo và thiết lập một xã hội tri thức. - Theo Hiệp hội CNTT của Mỹ (ITAA)2, CNTT là việc nghiên cứu, thiết kế, phát triển, triển khai thực hiện, hỗ trợ hoặc quản lý các hệ thống thông tin điện tử, chủ yếu là các phần mềm máy tính và phần cứng máy tính, CNTT bao hàm việc sử dụng các máy tính điện tử và phần mềm máy tính để chuyển đổi, lưu trữ, bảo vệ, xử lý, truyền và nhận thông tin an toàn.
Phan Đình Diệu, CNTT là ngành công nghệ về xử lý thông tin bằng các phương tiện điện tử, trong đó nội dung xử lý thông tin bao gồm các kh u cơ ản như thu thập, lưu trữ, chế biến và truyền nhận thông tin.17] - Theo Chỉ thị 58-CT/TW của Bộ Chính trị, CNTT là thuật ngữ dùng để chỉ các ngành khoa học và công nghệ liên quan tới thông tin và các quá trình xử lý thông tin. Theo quan niệm này thì CNTT là hệ thống các phương pháp 1 IDC site, IDC Finds More of the World’s Population Conecting to the Internet in New Ways and Embracing Web 2.0 Activities, http://www.jsp?Container Id=pr US21303808 2 Information Technology Association of America (ITAA), Information Technology Definition, http://www.org/es/docs/Information%20Technology%20Definitions.pdf 14 Footer Page 19 of 107. Header Page 20 of 107. khoa học, công nghệ, phương tiện, công cụ, bao gồm chủ yếu là các máy tính, mạng truyền thông và hệ thống các kho dữ liệu, nhằm tổ chức, lưu trữ, truyền dẫn và khai thác, sử dụng có hiệu quả các nguồn thông tin trong mọi lĩnh vực hoạt động kinh tế, xã hội, văn hóa…của con người.[1] - Theo Luật CNTT (2007), CNTT là tập hợp các phương pháp khoa học, công nghệ và công cụ kỹ thuật hiện đại để sản xuất, truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đổi thông tin số.2] Nh n chung các quan điểm đều cho rằng CNTT là ngành nghiên cứu, sản xuất phần mềm và phần cứng máy tính, đồng thời cũng là nghành KH&CN về thông tin và xử lý thông tin, sử dụng công cụ, phương tiện chủ yếu là máy tính điện tử.
Riêng khái niệm về CNTT của Luật CNTT cần sử dụng “thông tin” thay cho “thông tin số”. Bởi lẽ, thông tin số là chỉ một dạng biểu diễn thông tin được xử lý và lưu trữ bằng các phương pháp số, hay còn gọi là dữ liệu (data). Trong một quy trình xử lý thông tin của CNTT bao gồm: đầu vào là thông tin, xử lý thông tin (số) và đầu ra là thông tin hoặc tri thức. Có thể nói rằng khái niệm CNTT của Chỉ thị 58-CT/TW của Bộ Chính trị đưa ra là hoàn chỉnh và phù hợp với mục đích nghiên cứu của Luận văn.
Vì vậy, thuật ngữ CNTT trong Luận văn sẽ được hiểu theo quan điểm này. CNTT ra đời đã có những chuyển dịch đáng kể về công nghệ. Những chuyển dịch này làm cho việc xử lý thông tin tự động hiệu quả hơn, việc sử dụng các thiết bị tin học dễ dàng hơn, năng lực xử lý thông tin mạnh hơn và tin học, CNTT được ứng dụng rộng rãi hơn vào các lĩnh vực của đời sống xã hội. Những chuyển dịch đó chủ yếu là: từ kĩ thuật tương tự sang kĩ thuật số; từ công nghệ bán dẫn truyền thống sang công nghệ vi xử lý; từ kiểu tính toán máy chủ sang mô hình có cấu trúc khách hàng – dịch vụ; từ các kiểu truyên thông dải rộng sang các siêu xa lộ thông tin; từ lập trình thủ công sang lập tr nh hướng đối tượng; từ giao diện đồ họa sang giao diện đa phương tiện.
- Công nghệ thông tin trong cải cách hành chính nhà nước 15 Footer Page 20 of 107. Header Page 21 of 107. CNTT đang được ứng dụng tích cực vào các lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước. Lĩnh vực CCHC cũng như các lĩnh vực khác đang chịu sự tác động của CNTT và CNTT có thể hỗ trợ công tác quản lý và nâng cao hiệu quả của nó.
Đồng thời, hoạt động lãnh đạo quản lý cũng có tác động lớn tới sự phát triển và ứng dụng CNTT. Ứng dụng CNTT là sử dụng kết quả của CNTT để hỗ trợ các khâu công việc cần thiết và cuối cùng, ở mức cao nhất là hỗ trợ cho các tổ chức hoạt động và các cá nhân tự trao đổi, khai thác thông tin trong môi trường CNTT; cải tiến, đổi mới qui cách làm việc, đạt hiệu quả công việc cao hơn, đáp ứng được những thay đổi đang diễn ra. Mục tiêu ứng dụng CNTT trong CCHC là trang bị, xây dựng tối thiểu an đầu về kết cấu hạ tầng kỹ thuật thông tin; cung cấp các kiến thức tin học cần thiết cho đội ngũ cán ộ sử dụng, ứng dụng CNTT vào công tác quản lý, nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của tổ chức, góp phần tích cực vào việc CCHC các cấp. Mục tiêu đến năm 2015 – 2020 ứng dụng CNTT trong các cơ quan nhà nước, n ng cao năng lực chỉ đạo điều hành, cung cấp dịch vụ hành chính công, phát triển hạ tầng kĩ thuật, phát triển nguồn nhân lực CNTT và phấn đấu đến năm 2020 , 100% thông tin quản lý điều hành của cơ quan nhà nước lưu chuyển qua mạng.
Phấn đấu đến năm 2020 nước ta trở thành CPĐT hoàn thiện, ở đó cung cấp các dịch vụ hành chính công cơ ản trực tuyến như đăng kí, cấp phép, thanh toán qua mạng, cơ ản tích hợp các hệ thống, CSDL. Vai trò của công nghệ thông tin trong cải cách hành chính CCHC được Đảng và Nhà nước quyết tâm thực hiện nhằm mang lại lợi ích cao nhất cho người dân và cùng với xu thế phát triển, việc ứng dụng CNTT góp phần làm cho nền hành chính nước ta trở nên nhẹ nhàng hơn, nhanh chóng hơn. 16 Footer Page 21 of 107. Header Page 22 of 107.
Ứng dụng CNTT vào CCHC đã tạo được môi trường làm việc khoa học, hợp lý giữa các ộ phận, phòng an chuyên môn nhằm giải quyết TTHC cho tổ chức, công d n theo hướng công khai, minh ạch, đơn giản và đúng pháp luật để mang lại tiện lợi cho người d n. Người d n được phục vụ chu đáo hơn tại cơ quan nhà nước; người d n chủ động theo dõi, giám sát kết quả giải quyết hồ sơ mà m nh yêu cầu; hồ sơ TTHC được trao đổi qua môi trường mạng nhanh chóng, giải quyết thuận tiện nhanh hơn. Đó là điều mà CNTT giúp cho CCHC được nhanh gọn, hiệu quả. Cải cách thủ tục hành chính - Thủ tục hành chính Một trong những đặc điểm cơ ản của nhà nước ta là tổ chức và hoạt động theo trật tự pháp lý, nghĩa là pháp luật quy định về cơ cấu tổ chức, thẩm quyền và trình tự thực hiện thẩm quyền của cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức nhà nước trong việc giải quyết công việc nội bộ nhà nước và công việc liên quan đến cá nhân, tổ chức.
Quản lý nhà nước cũng giống như ất kỳ một hoạt động có mục đích nào đều phải thực hiện bằng một loạt các hoạt động nối tiếp nhau theo một trình tự nhất định, nói cách khác nó diễn ra theo một thủ tục nhất định. Thủ tục theo nghĩa tiếng Việt là cách thức tiến hành công việc theo một trình tự hay một luật lệ đã quen, theo từ điển từ ngữ và hán việt, nhà xuất bản TPHCM. TTHC theo cuốn đại từ tiếng việt của nhà xuất bản văn hóa thông tin năm 1998 là cách thức tiến hành một công việc với nội dung, trình tự nhất định, theo quy định của cơ quan nhà nước. Có thể nhận thấy rõ hai yếu tố cấu thành khái niệm thủ tục: thứ nhất, thủ tục trước hết là cách thức hoạt động cách thức hành động hay cách thức thực hiện hành vi, thứ hai thủ tục là hoạt động được tiến hành theo một trình tự nhất định.
Giữa cách thức thực hiện và trình tự thực hiện có mối quan hệ chặt chẽ, thống nhất trong khái niệm thủ tục. Trong khoa học pháp lý của nhà nước ta khi khái niệm TTHC hầu hết các nhà nghiên cứu đã thể hiện được hai yếu tố trên. Một số nhà nghiên cứu cho rằng “ nếu xem xét bất kỳ một hoạt động quản lý nào đều có 17 Footer Page 22 of 107. Header Page 23 of 107.
thể nhận thấy tính kế tiếp, liên tục các hành động, mà bên cạnh đó phương pháp, cách thức thực hiện các phương pháp cũng vô cùng quan trọng”. Các nhà nghiên cứu khác th định nghĩa về TTHC đã xác định: “ TTHC là các quy định của nhà nước về trật tự, thời gian thực hiện những hành vi hợp pháp của các bên tham gia quan hệ quản lý HCNN, nhằm thực hiện quyền và nghĩa vụ mỗi ên”. Một trong những vấn đề về TTHC gây nhiều tranh cãi trong khoa học luật hành chính là vấn đề phạm vi cụ thể của khái niệm hành chính. Loại ý kiến thứ nhất cho rằng: TTHC là trình tự mà luật hành chính quy định, theo đó các cơ quan quản lý HCNN giải quyết các tranh chấp về quyền và xử lý các vi phạm pháp luật.
Loại ý kiến thứ hai quan niệm: TTHC là thủ tục được luật hành chính xác lập bất kỳ việc cá biệt, cụ thể nào. Loại ý kiến thứ ba hiểu về TTHC một cách rộng nhất, xem TTHC do luật hành chính quy định trong thực hiện mọi hình thức hoạt động của mọi cơ quan QLNN, tức là ngoài các hoạt động giải quyết các việc cá biệt, cụ thể còn bao gồm các trình tự hoạt động sáng tạo pháp luật.