Chương 1 TỔNG QUAN Cùng với sự phát triển của KH&CN và hội nhập quốc tế, hoạt động R&D, CGCN cũng phát triển mạnh m cả về các lĩnh vực, nội dung các chương trình, đề tài, dự án R&D, CGCN; về tổ chức và phương thức quản lý các hoạt động này. Do thời gian và phạm vi của một luận án có hạn, luận án này không đi sâu phân tích về nội dung khoa học của các công trình nghiên cứu mà chỉ cố gắng làm rõ những khía cạnh của quản lý nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động R&D, CGCN mà các nhà khoa học trong và ngoài nước đã quan tâm trong thời gian qua, qua đó giúp xác định một cách khoa học hướng nghiên cứu của Luận án. Những công trình nghiên cứu ở nước ngoài có liên quan 1. Nghiên cứu về ảnh hưởng của R&D và chuyển giao công nghệ Tài liệu “R&D và tăng trưởng sản xuất - Khái quát các tài liệu” [73] đã khái quát những ảnh hưởng của hoạt động R&D lên tăng trưởng kinh tế của các nước; phân tích về đầu tư công và đầu tư của các doanh nghiệp cho R&D và cho thấy đầu tư của doanh nghiệp cho R&D có hiệu quả cao hơn, nhưng đầu tư công lại đóng vai trò đảm bảo cơ sở nền tảng KH&CN cho sự phát triển chung của toàn xã hội.
Trong tài liệu [72], Tổ chức hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) đã trình bày về vai trò của khoa học, công nghệ và đổi mới trong phát triển kinh tế của một số nước như Úc, Đan Mạch, Phần Lan, Hoa Kỳ,… và cho thấy công nghệ, công nghệ thông tin và truyền thông là những yếu tố thúc đẩy mạnh m việc hợp tác và nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm; NCKH, PTCN, đổi mới và tăng trưởng kinh tế đã trở thành một hệ thống gắn kết chặt ch và ngày nay có tính toàn cầu. Larson (2000) [35] trong bài “R&D trong công nghiệp” đã cho thấy sự tăng trưởng về số 6 lượng các phòng thí nghiệm R&D trong công nghiệp trong giai đoạn 1987- 1999 lên đến 14 000 phòng; trình bày về chiến lược R&D công nghiệp và đưa ra những dự báo cho sự phát triển trong những năm tới. Trong khi đó, Rachel Griffith [80] đã trình bày về tỷ lệ lợi nhuận xã hội và tỷ lệ lợi nhuận doanh nghiệp của R&D cũng như tầm quan trọng của chúng đối với tăng trưởng kinh tế. Kết quả phân tích cũng cung cấp những luận cứ quan trọng để chính phủ và doanh nghiệp thực hiện hoạt động R&D, đồng thời cho thấy những lĩnh vực chính sách mà các chính phủ cần quan tâm để thúc đẩy R&D phát triển.
Tài liệu [29] đã rút ra những kết luận quan trọng để nâng cao năng suất của các doanh nghiệp Úc Trong khi đó, công trình [40] lại nhấn mạnh đến R&D trong nghiên cứu đổi mới, thực hiện liên kết giữa các cơ quan hàn lâm và doanh nghiệp, thực thi quyền SHTT. Nghiên cứu về đổi mới trong mối tương quan với chiến lược R&D phục vụ tăng trưởng, tài liệu [92] khẳng định, đổi mới là sự phát triển sản phẩm, dịch vụ và quy trình mới dựa trên các kết quả nghiên cứu mới nhất và việc khai thác các công nghệ mới cũng có thể dẫn đến những ngành công nghiệp mới Đề cập đến sự gắn kết giữa hoạt động R&D với nghiên cứu chính sách và đổi mới cho tăng trưởng, tài liệu [76] đã phản ánh về mối quan hệ giữa các phương pháp tiếp cận hệ thống trong hoạch định chính sách, tạo động lực cho hoạt động R&D và đổi mới và mối quan hệ của chúng với tăng trưởng kinh tế Trong lĩnh vực quốc phòng, tài liệu [83] đã trình bày Chiến lược KH&CN quốc phòng và an ninh của Canada về chuyển giao kết quả nghiên cứu, kết nối việc đầu tư cho KH&CN với các ưu tiên về quốc phòng và an ninh. Ở mức độ khái quát hơn, tài liệu [17] đã trình bày về vai trò của nghiên cứu và phát triển trong thế kỷ 21 và cho biết, tầm quan trọng và việc đầu tư cho hoạt động R&D trong các nước EU ngày càng tăng lên Về vai trò của R&D trong hội nhập kinh tế quốc tế, Simone Guercini (1999) đã đưa ra 7 dẫn chứng để chứng minh rằng sự tăng trưởng quốc tế một phần cũng là do sự tích hợp các hoạt động R&D mà có [97]. Nghiên cứu về chiến lược, kế hoạch R&D và việc thực hiện chiến lược Tác giả Th.Bemelman [104], nói về lập kế hoạch chiến lược cho nghiên cứu và phát triển, đã chỉ ra sự gắn kết giữa chiến lược nghiên cứu với các mục tiêu chiến lược sản xuất kinh doanh (SXKD) và nhấn mạnh rằng việc quy hoạch không làm giảm tính sáng tạo.
Tài liệu [103] của Hãng Tessella đã trình bày vấn đề lập kế hoạch chiến lược cho R&D và nêu ra cách thức đánh giá công nghệ, lựa chọn tiến trình thực hiện và xác định chi phí và rủi ro của các dự án Trong khi đó, tài liệu [25] của Andreas Larsson lại đề cập đến các khía cạnh khác nhau của quản lý chiến lược R&D và nhấn mạnh cách tiếp cận hệ thống trong lập kế hoạch Ngoài ra, ông cũng đã nghiên cứu những vấn đề như mô hình mẫu và cách tiếp cận đối với quản lý chiến lược, nhận thức về R&D công nghiệp; mô hình, phương pháp và quá trình phát triển. Anne French [26] lại trình bày về chiến lược R&D đối với ngành công nghiệp sáng tạo. Trong mối quan hệ với chiến lược tổng thể, Araz Khodabakhshian [28] coi danh mục các dự án R&D như là một phần của chiến lược tổng thể Trong khi đó, Jacques W [50] đã nghiên cứu về định hướng lại chiến lược R&D trong công nghiệp hướng tới các mục tiêu thương mại hóa sản phẩm R&D và Richard B. [84] đã khẳng định rằng chiến lược, các mục tiêu về quốc phòng và an ninh cần được gắn với hoạt động R&D.
Cuối cùng, về sự phát triển của tư duy chiến lược và kế hoạch R&D cho thế kỷ 21, Warren P. Gunderman [107] đã nghiên cứu trường hợp của USAWC về dự án chiến lược, đi từ ngăn chặn đến hội nhập Trong đó trình bày chiến lược R&D lớn của tổ chức này cho thế kỷ 21. Sibongile Pefile [47] lại hướng dẫn về xây dựng năng lực tổ chức cho lập kế hoạch và đánh giá tác động của đầu tư R&D. Nghiên cứu về quá trình phát triển và một số khía cạnh khác của quản lý R&D Nghiên cứu về sự phát triển của quản lý R&D, công trình nghiên cứu [81] chỉ ra rằng quản lý R&D đã được đề cập từ thế kỷ 17, nhưng những ấn phẩm đầu tiên về vấn đề này chỉ mới xuất hiện vào năm 1920 Nhưng khi các lĩnh vực công nghệ cao như điện tử, sinh học hay xuất hiện nhu cầu mới về dịch vụ đã làm xuất hiện các hình thức tổ chức, các hướng nghiên cứu mới của R&D và do đó, quản lý R&D, CGCN cũng không ngừng phát triển.
Các tài liệu như [49, 68, 77] đã cho thấy quản lý R&D đã trải qua 5 thế hệ để phù hợp với đặc điểm và yêu cầu đối với hoạt động R&D. Ngoài 5 thế hệ của quản lý R&D nói trên, theo Nobelius D. [70], từ năm 2000 đã bắt đầu hình thành thế hệ thứ 6 để đáp ứng xu thế thương mại hóa sản phẩm nghiên cứu và sự tăng cường liên kết trong R&D, CGCN. Một số hướng nghiên cứu khác về quản lý R&D cũng đã được các nhà khoa học quan tâm.
Nghiên cứu về các xu hướng phát triển R&D trong lĩnh vực sản xuất [21] đã chỉ ra các xu hướng trong tổ chức và quản lý R&D trong công nghiệp mà có thể ảnh hưởng đến tốc độ và chiều hướng của đổi mới công nghệ. Kết quả của nghiên cứu này là cơ sở để xác định những thay đổi có thể có trong cơ cấu, chính sách để thúc đẩy quá trình đổi mới. Trong khi đó, Abetti, P. [20], nghiên cứu về hoạch chiến lược KH&CN của doanh nghiệp, đã đề cập đến một loạt các vấn đề cốt l i như: Năng lực R&D của doanh nghiệp; chiến lược R&D; tích hợp KH&CN với chiến lược kinh doanh; kết nối R&D với mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp; quyết định làm hoặc mua sản phẩm khoa học hoặc công nghệ; giao diện giữa R&D với sản xuất; vai trò của người đứng đầu quản lý công nghệ; lộ trình công nghệ; chuyển từ R&D quốc phòng sang dân sự… Nghiên cứu về tăng cường đổi mới trong R&D, J.
Meng [66] nhấn mạnh rằng đổi mới và quản trị doanh 9 nghiệp mang lại sự ưu việt cạnh tranh chủ yếu đối với tổ chức R&D; chỉ ra những trở ngại đối với việc quản trị trong một tổ chức R&D, nguồn gốc của những trở ngại này cũng như cách thức để vượt qua. Về quản lý quá trình thực hiện R&D, Dennis Nobelius [39] đã đề cập đến những cách tiếp cận quản lý đối với 6 thế hệ R&D và đưa ra những gợi ý cho việc quản lý quá trình thực hiện R&D. Nghiên cứu về các dạng tổ chức R&D quốc tế, Michele Cincera [68] đã chỉ ra cấu trúc và định hướng hành vi của 5 dạng điển hình của tổ chức R&D quốc tế. Nghiên cứu về phương pháp quản lý R&D, Ruben Del Rosario [89] đã cho biết, quản lý R&D đang phải đối mặt với các thách thức: Giảm thời gian và giảm chi phí; nâng cao chất lượng kết quả nghiên cứu và tập trung vào khách hàng “Kỹ thuật đồng thời” cho phép khắc phục khá tốt những thách thức trên đây, tác giả Kalypso I.
[59] trình bày về kế hoạch quản lý R&D, trong đó chỉ ra các nội dung của kế hoạch như chiến lược doanh nghiệp, chiến lược đổi mới, lộ trình công nghệ hay vấn đề sản xuất, maketing và công nghệ. Tác giả của tài liệu [90] lại tập trung nghiên cứu về vấn đề thiết kế và thực hiện quản lý quá trình trong R&D. Juliana Hsuan Mikkola [57] lại nghiên cứu về quản lý danh mục đầu tư của các dự án R&D, hàm ý cho quản lý đổi mới Đề cập đến quản lý chất lượng trong R&D công nghiệp, Peter J. [74] nghiên cứu về so sánh nhận thức của các nước về vấn đề này.
Trong khi đó, trong tài liệu [31] Boris Alla Zusman đã trình bày về những công cụ đổi mới đối với các tổ chức R&D tiên tiến. Về sở hữu trí tuệ (SHTT) với quản lý R&D, John Hagedoorn [54] nghiên cứu về mức độ khác biệt về bảo hộ quyền SHTT tuệ ở các nước và ảnh hưởng của nó đến sự lựa chọn các quan hệ đối tác R&D quốc tế. Trong khi đó, Jeff Butler [51] lại trình bày về đổi mới và bài học trong quản lý R&D và các khuynh hướng trong thực tế.