Luận án: Nâng cao chất lượng huấn luyện thực hành đào tạo cán bộ chỉ huy tham mưu kỹ thuật

Giải pháp nâng cao hiệu quả huấn luyện thực hành, giúp cán bộ kỹ thuật phát triển năng lực nghề nghiệp và đáp ứng yêu cầu công việc hiện đại.

Trường đại học

Học viện Kỹ thuật Quân sự

Chuyên ngành

Chỉ huy, quản lý kỹ thuật

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ quân sự

2013

209
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về nâng cao chất lượng huấn luyện thực hành

Nâng cao chất lượng huấn luyện thực hành trong đào tạo cán bộ chỉ huy tham mưu kỹ thuật là nhiệm vụ trọng tâm của nền giáo dục quân sự Việt Nam. Cán bộ chỉ huy tham mưu kỹ thuật giữ vai trò then chốt trong việc đảm bảo kỹ thuật cho các lực lượng vũ trang. Họ cần được trang bị kiến thức lý thuyết vững chắc và kỹ năng thực hành thành thục. Quá trình đào tạo này đòi hỏi sự kết hợp chặt chẽ giữa lý thuyết và thực tiễn. Các học viện kỹ thuật quân sự đã không ngừng đổi mới chương trình, nội dung và phương pháp huấn luyện. Việc áp dụng công nghệ mô phỏng vào huấn luyện thực hành ngày càng được mở rộng. Mục tiêu cuối cùng là tạo ra đội ngũ cán bộ có năng lực tư duy sáng tạo, khả năng chỉ huy và tham mưu kỹ thuật hiệu quả. Chất lượng huấn luyện thực hành ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng hoàn thành nhiệm vụ của sĩ quan sau khi tốt nghiệp.

1.1. Khái niệm cán bộ chỉ huy tham mưu kỹ thuật

Cán bộ chỉ huy tham mưu kỹ thuật là sĩquân chuyên trách công tác kỹ thuật trong quân đội. Họ đảm nhận vai trò tổ chức, chỉ đạo và quản lý hoạt động kỹ thuật tại các đơn vị. Nhiệm vụ bao gồm tham mưu cho chỉ huy về kế hoạch kỹ thuật, bảo đảm vũ khí trang bị sẵn sàng chiến đấu. Đội ngũ này cần có trình độ chuyên môn sâu, năng lực quản lý và khả năng xử lý tình huống phức tạp. Quá trình đào tạo kéo dài nhiều năm với nội dung chuyên ngành kỹ thuật quân sự.

1.2. Vai trò của huấn luyện thực hành trong đào tạo quân sự

Huấn luyện thực hành đóng vai trò không thể thay thế trong đào tạo cán bộ kỹ thuật quân sự. Đây là cầu nối giữa lý thuyết và thực tiễn tác chiến. Qua huấn luyện thực hành, học viên hình thành kỹ năng thao tác, khả năng phối hợp và xử lý tình huống. Nội dung thực hành bao gồm tập bài đơn giản đến phức tạp, từ đơn lẻ đến tổng hợp. Phương pháp này giúp người học vận dụng kiến thức vào thực tế dưới sự hướng dẫn của giảng viên. Kết quả huấn luyện thực hành phản ánh trực tiếp chất lượng đào tạo đầu ra.

II. Phân tích thực trạng huấn luyện thực hành đào tạo

Thực trạng huấn luyện thực hành trong đào tạo cán bộ chỉ huy tham mưu kỹ thuật đang đối mặt nhiều thách thức. Chương trình đào tạo còn nặng về lý thuyết, thời gian thực hành chưa đáp ứng yêu cầu. Cơ sở vật chất phục vụ huấn luyện còn hạn chế, đặc biệt là trang thiết bị mô phỏng hiện đại. Đội ngũ giảng viên thực hành chưa được đào tạo bài bản về phương pháp sư phạm quân sự. Nội dung huấn luyện chưa sát với thực tế nhiệm vụ tại các đơn vị. Việc đánh giá chất lượng thực hành còn mang tính hình thức, thiếu hệ thống tiêu chí cụ thể. Sự phối hợp giữa nhà trường và đơn vị sử dụng cán bộ chưa chặt chẽ. Học viên tốt nghiệp đôi khi chưa đáp ứng được yêu cầu công tác thực tế. Đây là những vấn đề cần được giải quyết để nâng cao hiệu quả đào tạo.

2.1. Hạn chế về nội dung và phương pháp huấn luyện

Nội dung huấn luyện thực hành còn chồng chéo giữa các môn học. Phương pháp giảng dạy nặng tính truyền thụ một chiều, thiếu tương tác. Bài tập thực hành chưa đa dạng hóa theo mức độ phức tạp tăng dần. Việc áp dụng công nghệ thông tin và mô phỏng vào huấn luyện còn hạn chế. Chương trình chưa tạo điều kiện cho học viên nghiên cứu sáng tạo trong quá trình thực hành. Sự liên kết giữa các bài tập lý thuyết và thực hành chưa liền mạch. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng vận dụng kiến thức của học viên.

2.2. Yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng huấn luyện

Nhiều yếu tố tác động đến chất lượng huấn luyện thực hành trong đào tạo cán bộ kỹ thuật. Yếu tố con người bao gồm trình độ giảng viên, động lực học tập của học viên. Cơ sở vật chất gồm phòng thí nghiệm, thiết bị mô phỏng, thao trường huấn luyện. Chương trình đào tạo cần được xây dựng khoa học, cập nhật theo yêu cầu thực tế. Sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy và chỉ huy các cấp cũng đóng vai trò quan trọng. Mối quan hệ giữa nhà trường và đơn vị tác chiến ảnh hưởng đến tính thực tiễn của nội dung đào tạo.

III. Giải pháp nâng cao chất lượng huấn luyện thực hành

Giải pháp nâng cao chất lượng huấn luyện thực hành cần được triển khai đồng bộ trên nhiều phương diện. Trước tiên, đổi mới chương trình đào tạo theo hướng tăng thời gian thực hành, giảm lý thuyết thuần túy. Nội dung huấn luyện phải bám sát yêu cầu nhiệm vụ thực tế tại các đơn vị. Thứ hai, đầu tư xây dựng hệ thống phòng thí nghiệm và thiết bị mô phỏng hiện đại. Áp dụng công nghệ thông tin vào huấn luyện để tăng tính trực quan và hiệu quả. Thứ ba, nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên thực hành thông qua đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn. Xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá chất lượng thực hành khách quan, toàn diện. Thứ tư, tăng cường phối hợp giữa nhà trường và đơn vị sử dụng cán bộ. Tổ chức cho học viên tham gia thực tế tại các cơ quan, đơn vị quân đội. Các giải pháp cần được thực hiện có lộ trình, phù hợp với điều kiện thực tế.

3.1. Đổi mới nội dung và hình thức huấn luyện

Đổi mới nội dung huấn luyện thực hành bắt đầu từ việc rà soát, cập nhật chương trình đào tạo. Nội dung phải phản ánh đúng yêu cầu nhiệm vụ kỹ thuật trong tình hình mới. Hình thức huấn luyện cần đa dạng hóa: tập bài cá nhân, bài tập nhóm, diễn tập tổng hợp. Tổ chức thực hành theo trình tự từ đơn giản đến phức tạp, từ đơn lẻ đến liên kết. Tăng cường sử dụng phòng thí nghiệm ảo và hệ thống mô phỏng tình huống. Khuyến khích học viên tham gia nghiên cứu khoa học và chế tạo sản phẩm trong quá trình học tập.

3.2. Nâng cao năng lực đội ngũ giảng viên thực hành

Đội ngũ giảng viên thực hành cần được đào tạo, bồi dưỡng thường xuyên về chuyên môn và phương pháp sư phạm. Tổ chức cho giảng viên đi thực tế tại các đơn vị để nắm bắt yêu cầu công tác. Xây dựng cơ chế khuyến khích giảng viên nghiên cứu cải tiến phương pháp huấn luyện. Tuyển chọn giảng viên có kinh nghiệm thực tiễn từ các cơ quan, đơn vị kỹ thuật. Đánh giá định kỳ năng lực giảng viên thông qua kết quả học tập của học viên. Tạo điều kiện để giảng viên tiếp cận công nghệ mới trong huấn luyện thực hành.

IV. Kết luận và ứng dụng nâng cao chất lượng đào tạo

Nghiên cứu về nâng cao chất lượng huấn luyện thực hành trong đào tạo cán bộ chỉ huy tham mưu kỹ thuật có ý nghĩa khoa học và thực tiễn lớn. Kết quả nghiên cứu đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về huấn luyện thực hành trong đào tạo quân sự. Phân tích thực trạng đã chỉ ra những tồn tại, hạn chế cần khắc phục. Hệ thống giải pháp đề xuất mang tính khả thi, phù hợp với điều kiện Việt Nam.Ứng dụng kết quả nghiên cứu vào thực tế sẽ góp phần nâng cao chất lượng đào tạo cán bộ kỹ thuật quân sự. Đội ngũ cán bộ tốt nghiệp sẽ đáp ứng tốt hơn yêu cầu nhiệm vụ tại các đơn vị. Nghiên cứu cũng đặt nền tảng cho các công trình tiếp theo về giáo dục quân sự. Đây là đóng góp quan trọng vào sự nghiệp xây dựng quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại.

4.1. Ý nghĩa khoa học của đề tài nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu có ý nghĩa khoa học trên nhiều phương diện. Về lý luận, nghiên cứu đã làm rõ khái niệm, nội dung và yêu cầu huấn luyện thực hành trong đào tạo quân sự. Xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá chất lượng huấn luyện thực hành. Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo cán bộ kỹ thuật. Về phương pháp, đề tài áp dụng cách tiếp cận hệ thống, kết hợp định tính và định lượng. Kết quả nghiên cứu bổ sung kho tàng tri thức về giáo dục quân sự Việt Nam.

4.2. Giá trị thực tiễn và khả năng ứng dụng

Giá trị thực tiễn của đề tài thể hiện ở tính khả thi của các giải pháp đề xuất. Hệ thống giải pháp có thể áp dụng tại các học viện kỹ thuật quân sự trong toàn quân. Kết quả nghiên cứu giúp nhà quản lý giáo dục quân sự hoạch định chính sách đào tạo. Giảng viên có thể vận dụng phương pháp mới vào huấn luyện thực hành. Học viện Kỹ thuật quân sự đã bước đầu áp dụng một số giải pháp với kết quả tích cực. Mô hình có thể nhân rộng sang đào tạo cán bộ kỹ thuật các lực lượng khác.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

21/04/2026
Luận án tiến sĩ nâng cao chất lượng huấn luyện thực hành trong đào tạo cán bộ chỉ huy tham mưu kỹ thuật

Trích đoạn nội dung tài liệu

chương 1 trình bày tổng quan một số vấn đề có liên quan, qua đó rút ra những nội dung cần giải quyết, bao gồm: 1. CÁN BỘ CHỈ HUY THAM MƯU KỸ THUẬT 1. Khái quát chung về cán bộ kỹ thuật quân sự Cán bộ kỹ thuật quân sự là một bộ phận cán bộ trong thành phần của cán bộ quân đội được giao các chức vụ lãnh đạo, chỉ huy, quản lý, khai thác vũ khí trang bị kỹ thuật – vật tư kỹ thuật trong công tác bảo đảm kỹ thuật quân sự hoặc nghiên cứu giảng dạy, sản xuất trong ngành kỹ thuật quân sự. Theo chuyên ngành kỹ thuật quân sự có cán bộ: Quân khí, Xe máy, Tăng - Thiết giáp, Thông tin, Tên lửa, Pháo binh, Công binh, Hải quân, Không quân, Phòng không, Tác chiến điện tử.

Trong tương lai, có thể còn có thêm một số chuyên ngành kỹ thuật công nghệ cao. Theo lĩnh vực công tác, có: Cán bộ chỉ huy tham mưu kỹ thuật, cán bộ làm công tác chỉ huy, quản lý, chỉ đạo các hoạt động công tác kỹ thuật từ cấp trung đoàn và tương đương trở lên đối với các chức danh như Điều lệ công tác kỹ thuật Quân đội nhân dân Việt Nam (QĐNDVN) đã quy định; Cán bộ nghiên cứu khoa học kỹ thuật quân sự: cán bộ kỹ thuật làm công tác nghiên cứu, quản lý ở các trung tâm, viện nghiên cứu; Cán bộ giảng dạy khoa học kỹ thuật quân sự, cán bộ kỹ thuật làm công tác giảng dạy và quản lý đào tạo tại các học viện, nhà trường đào tạo cán bộ kỹ thuật và các học viện, nhà trường khác.; Cán bộ làm công tác khai thác và sản xuất vũ khí trang bị kỹ thuật, cán bộ kỹ thuật làm công tác sử dụng, bảo quản, bảo dưỡng, sửa chữa, niêm cất, sản xuất vũ khí trang bị kỹ thuật, vật tư kỹ thuật ở các nhà máy, các xưởng, các cơ sở đo lường và chất lượng; các kho, các trạm bảo dưỡng, sửa chữa; cán 5 bộ kỹ thuật cấp tiểu đoàn, đại đội, trung đội; trợ lý kỹ thuật cấp sư đoàn, trung đoàn và tương đương. Theo định nghĩa trên: - Cán bộ CHTMKT, một bộ phận cán bộ kỹ thuật, là những người trực tiếp chỉ huy, làm công tác tham mưu - kế hoạch, chỉ đạo, tổ chức triển khai công tác kỹ thuật trong các phân đội, cơ sở và cơ quan kỹ thuật các cấp; - Theo cấp, có: cán bộ CHTMKT cấp chiến thuật, chiến dịch, chiến lược; - Theo trình độ học vấn, có: cán bộ CHTMKT có trình độ đại học, sau đại học (thạc sĩ, tiến sĩ) về kỹ thuật, tổ chức chỉ huy kỹ thuật và dưới đại học (sơ cấp, trung cấp, cao đẳng kỹ thuật); - Theo chức vụ, có: trợ lý kỹ thuật, chủ nhiệm kỹ thuật các cấp, chỉ huy các cơ sở BĐKT, trưởng các chuyên ngành kỹ thuật trong cơ quan kỹ thuật các cấp; - Theo ngành kỹ thuật, có: cán bộ CHTMKT ngành quân khí, xe máy, thông tin, công binh. theo quy định trong Điều lệ Công tác kỹ thuật QĐNDVN.

Vị trí, vai trò của cán bộ CHTMKT Trong phạm vi nghiên cứu của luận án, quan tâm đến hai vấn đề: vị trí và vai trò của các nhóm cán bộ CHTMKT ở các cơ quan kỹ thuật và cơ sở kỹ thuật. Các vị trí chức danh cán bộ CHTMKT ở CQKT các cấp Xuất phát từ thực tế tổ chức biên chế ngành kỹ thuật, căn cứ vào Điều lệ công tác kỹ thuật QĐNDVN, cán bộ CHTMKT ở CQKT các cấp được bố trí vào các vị trí chỉ huy hoặc làm tham mưu kỹ thuật, như Chủ nhiệm kỹ thuật, trưởng các chuyên ngành, thủ trưởng các cơ quan, cơ sở kỹ thuật, trợ lí cơ quan kỹ thuật các cấp. Vai trò của cán bộ chỉ huy tham mưu ở cơ quan kỹ thuật các cấp được quy định trong Điều lệ Quản lý bộ đội [15] và Điều lệ Công tác kỹ thuật QĐNDVN [14]. Các vị trí nhóm cán bộ CHTMKT ở CSKT các cấp Theo tổ chức, biên chế cơ sở kỹ thuật trong QĐNDVN hiện nay, cán bộ CHTM ở CSKT các cấp được bố trí theo chức danh.

6 Vai trò của nhóm cán bộ này được quy định trong Điều lệ Quản lý bộ đội [15] và Điều lệ Công tác kỹ thuật QĐNDVN [14]. Cán bộ chỉ huy các phân đội kỹ thuật Ngoài các chức danh chỉ huy cơ quan, cơ sở kỹ thuật như đã đề cập, trong thực tế cán bộ kỹ thuật ở một chuyên ngành kỹ thuật còn được bố trí chỉ huy các phân đội binh chủng như: tiểu đoàn trưởng, các dTT, dCB, dHH, dT- TG, dRD, dTL, dPCX, dPB, dKT/fKQ. Số lượng cán bộ chỉ huy các phân đội kỹ thuật không nhiều, song cũng cần chú ý trong quá trình đào tạo cán bộ CHTMKT. Vai trò của cán bộ chỉ huy các CSKT, phân đội kỹ thuật thực hiện các nhiệm vụ như đã quy định trong Điều lệnh Quản lý bộ đội [15] và Điều lệ Công tác kỹ thuật QĐNDVN [14].

Theo quy định Điều lệ Công tác kỹ thuật QĐNDVN và các điều lệ Công tác kỹ thuật chuyên ngành, cũng như từ thực tế công tác kỹ thuật có thể nhận thấy cán bộ CHTMKT: - Là người làm tham mưu cho người chỉ huy về CTKT do mình phụ trách; - Là người chỉ huy các cơ quan, cơ sở kỹ thuật thuộc quyền; - Là người chỉ đạo và tổ chức thực hiện nội dung CTKT. Công tác kỹ thuật là một mặt của công tác quân sự, đồng thời cũng là nhiệm vụ bảo đảm quan trọng trong xây dựng lực lượng vũ trang, huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu. Đội ngũ cán bộ nhân viên kỹ thuật là nhân tố không thể thiếu trong hoạt động CTKT, trong đó cán bộ CHTMKT chiếm phần lớn trong đội ngũ cán bộ nhân viên kỹ thuật. Do đó, đào tạo đội ngũ cán bộ CHTMKT có trình độ chuyên môn giỏi, bản lĩnh chỉ huy, khả năng thực hành tốt là vấn đề cấp thiết hiện nay.

Trong hoạt động của mình cán bộ CHTMKT phải có khả năng nắm bắt ý định, quyết tâm của người chỉ huy, tham mưu cho người chỉ huy công tác chỉ huy kỹ thuật ở đơn vị; hiệp đồng với các cơ quan kỹ thuật cấp trên, cấp dưới, với lực lượng kỹ thuật địa phương và cán bộ CHTMKT còn phải có tác phong của một sĩ quan chỉ huy, có như vậy mới bảo đảm cho công tác CHTMKT hoạt động đồng bộ với công tác tham mưu tác chiến, chính trị, hậu cần. Một số yêu cầu đối với cán bộ CHTMKT Cán bộ CHTMKT có thể công tác ở một đơn vị binh chủng hợp thành (BCHT), quân chủng, binh chủng hay ở tổng cục. Qua nghiên cứu các vị trí và vai trò của cán bộ CHTMKT các cấp và đặc điểm tiến hành CTKT ở các đơn vị, có thể rút ra một số yêu cầu đối với cán bộ CHTMKT như sau: - Nếu công tác ở các đơn vị BCHT phải nắm được nghệ thuật tác chiến, công tác tham mưu kỹ thuật tác chiến BCHT, để thực hiện đúng ý định của người chỉ huy đơn vị. - Nếu công tác ở các đơn vị quân, binh chủng phải hiểu được nghệ thuật tác chiến, công tác tham mưu kỹ thuật tác chiến của quân chủng, binh chủng, để thực hiện đúng ý định của người chỉ huy đơn vị.

Thực tế hiện nay, khi đào tạo ở bậc đại học, người học chỉ được trang bị kiến thức quân sự chuyên ngành đủ để thực hiện tốt chức trách trợ lý kỹ thuật ở cấp phân đội. Vì vậy, khi phát triển lên cương vị cao hơn (chủ nhiệm kỹ thuật các cấp) cần phải bồi dưỡng kiến thức quân sự chuyên ngành ở mức cao hơn, ít nhất cũng tương ứng với cương vị phải đảm nhiệm tiếp theo. - Xét về chuyên ngành kỹ thuật, cán bộ CHTMKT có thể hoạt động ở một trong hai khu vực chủ yếu: * Chủ trì hoặc tham gia chỉ huy, quản lý một chuyên ngành kỹ thuật nào đó. Ví dụ: chủ nhiệm (trưởng) chuyên ngành, trợ lý chuyên ngành, chỉ huy cơ sở bảo đảm kỹ thuật (BĐKT), phân đội kỹ thuật chuyên ngành (quân khí, xe máy, thông tin, công binh, rađa, tên lửa.

Trong mỗi chuyên ngành, cán bộ CHTMKT phải có hiểu biết sâu sắc về khai thác vũ khí trang bị kỹ thuật để vừa chỉ huy cơ quan, đơn vị thực hiện tốt các nội dung CTKT, vừa là chuyên gia kỹ thuật trong xử lý các tình huống kỹ thuật xảy ra trong thực tế. Vì vậy, chuyên ngành kỹ thuật mà cán bộ CHTMKT hoạt động chính thường gắn với chuyên ngành mà họ được đào tạo ở bậc đại học. * Chủ trì hoặc tham gia chỉ huy, quản lý tổng hợp nhiều ngành. Ví dụ: chủ nhiệm kỹ thuật, cơ sở BĐKT tổng hợp, hoặc trưởng phòng (trợ lý) Tham mưu kế hoạch, huấn luyện kỹ thuật.

Trong trường hợp này, cán bộ CHTMKT phải hiểu biết về trang bị và CTKT các chuyên ngành mà mình 8 phụ trách. Để hoạt động tốt trong lĩnh vực này cán bộ CHTMKT cần phải được trang bị thêm kiến thức chuyên môn ngoài chuyên ngành được đào tạo ở bậc đại học. Khả năng thực hành của người cán bộ CHTMKT là mức độ hoàn thành các công việc cụ thể theo chức trách của mình. Đó là chỉ huy, quản lý đơn vị, tổ chức điều hành các hoạt động kỹ thuật theo mệnh lệnh, kế hoạch của người chỉ huy hoặc cơ quan kỹ thuật cấp trên.

Đó là thu thập xử lý thông tin về tình hình kỹ thuật của đơn vị, tham mưu cho chỉ huy đơn vị tổ chức xây dựng, quản lý và thực hiện CTKT. Như vậy, khả năng thực hành CHTMKT phụ thuộc vào những năng lực cụ thể về chỉ huy, tổ chức quản lý, điều hành và vận dụng năng lực chuyên môn kỹ thuật trong các nhiệm vụ cụ thể. Năng lực chỉ huy tham mưu là năng lực lãnh đạo và quản lý của cá nhân đối với một tập thể. Để có năng lực lãnh đạo, quản lý, cá nhân phải có kiến thức tương đối tổng hợp về tâm lý, xã hội; hiểu biết các quy luật trong hành vi cá nhân, các quy luật trong hoạt động quản lý nguồn nhân lực, các đặc tính hoạt động chỉ huy, tham mưu.

Trên cơ sở chức trách, nhiệm vụ của cán bộ CHTMKT các cấp và đặc điểm công tác của từng ngành kỹ thuật, từng đơn vị quân binh chủng như đã phân tích ở trên, việc tổ chức đào tạo phải nhằm đạt được các yêu cầu nêu ra ở mục 2. Những yêu cầu thực tế đó đối với cán bộ CHTMKT các cấp là những vấn đề cơ bản, toàn diện mà quá trình đào tạo phải đưa người học hướng tới.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ