Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DÂN TỘC 1. Những khái niệm cơ bản 1. Dân tộc Trên cơ sở xem xét vấn đề dân tộc dựa trên quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, sự hình thành và phát triển dân tộc là một hiện tượng lịch sử xã hội phức tạp, có căn nguyên sâu xa từ sự vận động của sản xuất, của kinh tế đồng thời chịu sự tác động chi phối trực tiếp của nhân tố chính trị, tức là của giai cấp và Nhà nước trong việc tổ chức nên đời sống xã hội của các cộng đồng người. Mặt khác, dân tộc ra đời và phát triển còn gắn liền với truyền thống lịch sử và văn hoá (kể cả đời sống tín ngưỡng, tôn giáo) của từng dân tộc.
Bởi lẽ, mỗi cộng đồng dân tộc cũng như cộng đồng tộc người có lịch sử hình thành và phát triển không giống nhau, không đồng thời và nhất loạt như nhau. Theo cương lĩnh dân tộc của Chủ nghĩa Mác - Lê nin thì dân tộc là kết quả của một quá trình phát triển lâu dài của xã hội loài người. Trước khi dân tộc xuất hiện, loài người đã trải qua những hình thức cộng đồng từ thấp đến cao: thị tộc, bộ lạc, bộ tộc và đến khi xuất hiện giai cấp nhà nước thì xuất hiện dân tộc. Cho đến nay khái niệm dân tộc được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau, trong đó có hai nghĩa được dùng phổ biến nhất.
Một là, dân tộc chỉ cộng đồng người ổn định hợp thành nhân dân một nước, có lãnh thổ, quốc gia, nền kinh tế thống nhất, quốc ngữ chung và có ý thức về sự thống nhất quốc gia của mình, gắn bó với nhau bởi lợi ích chính trị, kinh tế, truyền thống văn hóa và truyền thống đấu tranh chung trong cuộc suốt quá trình lịch sử lâu dài dựng nước và giữ nước. Với nghĩa này, dân tộc là toàn bộ nhân dân của quốc gia đó - Quốc gia dân tộc. 6 luan an Hai là, dân tộc chỉ một cộng đồng người có mối liên hệ chặt chẽ, bền vững, có sinh hoạt kinh tế chung, có ngôn ngữ riêng và những nét văn hóa đặc thù, Xuất hiện sau bộ lạc, bộ tộc. Với nghĩa này, dân tộc là bộ phận của quốc gia - Quốc gia có nhiều dân tộc.
Đây là khái niệm được sử dụng trong luận văn này. Cả hai quan niệm về dân tộc trên đây đều có ý nghĩa đối với việc nghiên cứu đề tài luận văn. Dân tộc là đối tượng của QLNN. Trên thực tế, dân tộc thường nói đến các tộc ít người.
Cụ thể, đối tượng của QLNN về dân tộc là các hoạt động về lĩnh vực dân tộc trên các khía cạnh kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng, khía cạnh đoàn kết dân tộc, thúc đẩy sự bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giúp nhau cùng phát triển nhằm tác động và tạo điều kiện để đồng bào các DTTS cùng phát triển, đảm bảo sự tôn trọng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Quản lý nhà nước về dân tộc Để đi sâu tìm hiểu về quản lý nhà nước là gì cần phải làm rõ khái niệm quản lý. Tùy theo góc độ nghiên cứu của mỗi nhà khoa học, thuật ngữ quản lý được hiểu và có các cách tiếp cận khác nhau. Đó cũng chính là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học tự nhiên và khoa học xã hội.
Mỗi lĩnh vực khoa học có định nghĩa về quản lý dưới góc độ riêng của mình và được áp dụng rộng hơn trong mọi hoạt động của đời sống xã hội. Các Mác quan niệm rằng: “Bất kỳ lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào đó mà được tiến hành tuân theo một quy mô tương đối lớn đều cần có sự quản lý ở mức độ nhiều hay ít nhằm phối hợp những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất, sự vận động này khác với sự vận động của các cơ quan độc lập của cơ thể đó”. Như vậy Mác đã tiếp cận khái niệm quản lý từ góc độ mục đích của quản lý, xem quản lý là một tất yếu trong đời sống xã hội. 7 luan an Hiện nay, theo quan niệm chung của các nhà khoa học nghiên cứu thì quản lý là sự tác động chỉ huy, điều khiển các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để chúng phát triển phù họp với quy luật, đạt tới mục đích đã đề ra và đúng với ý trí của người quản lý.
Theo cách hiểu này thì quản lý là việc tổ chức, chỉ đạo các hoạt động của xã hội nhằm đạt được một mục đích của người quản lý. Trước hết, xem xét quản lý nhà nước theo nghĩa rộng, thì đó là toàn bộ hoạt động của cơ quan nhà nước trên các lĩnh vực lập pháp, hành pháp, tư pháp nhằm thực hiện các chức năng của nhà nước là đối nội, đối ngoại. Xem xét quản lý nhà nước theo nghĩa hẹp, thì đây là hoạt động mang tính chấp hành và điều hành, được cấu thành bởi các yếu tố có tính tổ chức, thực hiện thi hành Hiến pháp, pháp luật, được đảm bảo thực hiện bởi hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước. Theo cách hiểu này, chủ thể quản lý hành chính là các cơ quan hành chính nhà nước, thực hiện chức năng chủ yếu là chấp hành, điều hành, nhằm tổ chức thực hiện trực tiếp và thường xuyên các hoạt động trong xây dựng phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, đảm bảo an ninh chính trị quốc gia.
Trong khoa học quản lý, QLNN thường được hiểu theo nghĩa hẹp. Trong luận văn này, quản lý nhà nước về dân tộc chủ yếu là hoạt động hành pháp và được hiểu theo nghĩa hẹp. Trong hệ thống xã hội, có nhiều chủ thể tham gia quản lý xã hội như tổ chức chính trị, nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức kinh tế, các đoàn thể nhân dân, các hiệp hội. So với quản lý của các tổ chức khác, thì quản lý nhà nước có những điểm khác biệt sau: Thứ nhất: chủ thể quản lý nhà nước là các cơ quan, cá nhân trong bộ máy nhà nước được trao quyền, gồm các cơ quan lập pháp, cơ quan hành pháp, cơ quan tư pháp.
Thứ hai: đối tượng quản lý của nhà nước là tất cả các cá nhân, tổ chức 8 luan an sinh sống và hoạt động trong phạm vi lãnh thổ quốc gia, công dân làm việc bên ngoài lãnh thồ quốc gia. Thứ ba: quản lý nhà nước là quản lý toàn diện trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng, ngoại giao. Thứ tư: quản lý nhà nước mang tính quyền lực nhà nước, sử dụng công cụ pháp luật nhà nước, chính sách để quản lý xã hội. Thứ năm: mục tiêu của quản Ịý nhà nước là phục vụ nhân dân, duy trì sự ổn định và phát triển của toàn xã hội.
Từ những điểm nêu trên, có thể hiểu quản lý nhà nước là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền lực nhà nước và sử dụng pháp luật và chính sách để điều chỉnh hành vỉ của cá nhân, tổ chức trên tất cả các mặt của đời sống xã hội do các cơ quan trong bộ máy nhà nước thực hiện Theo cách hiểu chung nhất, quản lý nhà nước về dân tộc là một bộ phận cấu thành của hệ thống QLNN. QLNN về dân tộc là hoạt động của các cơ quan nhà nước (trong đó trước hết và chủ yếu là cơ quan hành chính nhà nước), cá nhân có thẩm quyền, trên cơ sở Hiến pháp, luật và để thi hành Hiến pháp, luật nhằm tác động đến công tác dân tộc để đạt được mục đích đã được xác định trước. Khách thể QLNN về công tác dân tộc bao gồm quản lý toàn bộ các hoạt động KTXH diễn ra trong đời sống gắn với vùng cư trú của đồng bào các dân tộc thiểu số để không ngừng nâng cao đời sống kinh tế, văn hóa của đồng bào. Với những trình bày trên, có thể đưa ra định nghĩa QLNN về dân tộc như sau: “Quản lý nhà nước về dân tộc là hoạt động quản lý của các cơ quan quản lý nhà nước, cá nhân có thẩm quyền về lĩnh vực dân tộc và các mối quan hệ có liên quan nhằm tác động và tạo điều kiện để đồng bào các dân tộc thiểu số cùng phát triển, đảm bảo sự tôn trọng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp 9 luan an pháp của công dân để những tác động đó diễn ra theo đúng chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước”.
Nội dung quản lý nhà nước về dân tộc Nội dung QLNN về dân tộc tập trung chủ yếu vào các hoạt động: - Hoạch định chính sách, chiến lược, chương trình mục tiêu quốc gia, quy hoạch, kế hoạch, chính sách về dân tộc. - Ban hành hoặc trình cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản QPPL về dân tộc; xây dựng và tổ chức thực hiện các CSDT, chính sách đặc thù, các chương trình, dự án, đề án phát triển vùng có điều kiện KTXH khó khăn, đặc biệt khó khăn; tiêu chí phân định vùng dân tộc theo trình độ phát triển, tiêu chí xác định thành phần dân tộc, tiêu chí về chuẩn đói nghèo đối với vùng dân tộc thiểu số; xây dựng chính sách đào tạo nguồn nhân lực, nâng cao dân trí, bảo tồn và phát triển văn hóa các DTTS. - Kiện toàn tổ chức bộ máy QLNN về dân tộc từ Trung ương đến địa phương; thực hiện phân công, phân cấp có hiệu quả, bố trí nguồn nhân lực làm công tác QLNN về dân tộc. - Tuyên truyền, giáo dục chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước bằng nhiều biện pháp, hình thức để đồng bào các dân tộc hiểu rõ và chủ động tham gia vào quá trình thực hiện.
Tuyên truyền về truyền thống đoàn kết của các dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tổ chức tốt các phong trào tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau giữa các dân tộc trong cộng đồng nhằm thúc đẩy phát triển KTXH, xóa đói giảm nghèo, giải quyết khó khăn trong cuộc sống. - Kiểm tra, thanh tra, sơ kết, tổng kết, đánh giá việc thực hiện các chính sách, chương trình, dự án ở vùng DTTS; việc chấp hành pháp luật về công tác dân tộc, phòng, chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm trong QLNN về dân tộc.