Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI KHU CÔNG NGHIỆP 1. CÁC NGHIÊN CỨU TIÊU BIỂU VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC TRUNG ƯƠNG ĐỐI VỚI KHU CÔNG NGHIỆP 1. Các nghiên cứu nước ngoài liên quan đến quản lý nhà nước đối với khu công nghiệp Về định hướng, chiến lược phát triển KCN, trước hết, phải kể đến nghiên cứu của Tổ chức phát triển công nghiệp Liên hợp quốc - UNIDO (2015), “Economic Zone in the Asean”. Cuốn sách đề cập đến 5 mô hình KKT có khả năng tạo đột phá, thúc đẩy sự phát triển kinh tế của các quốc gia, gồm: KCN, KKT đặc biệt, khu công nghệ sinh học, khu công nghệ cao (KCNC) và công viên sáng tạo, trong đó nhấn mạnh vai trò của KCN và KKT đặc biệt với tư cách là công cụ hữu hiệu thúc đẩy chiến lược bắt kịp (catch - up strategy) của các nước kém phát triển.
Theo thống kê trong nghiên cứu này, trong số hơn 1.000 KKT tại các quốc gia ASEAN có tới 893 KCN, 84 KKT đặc biệt, 25 khu công nghệ cao (KCNC), chỉ có 2 khu công nghệ sinh học và 1 công viên sáng tạo. Cũng theo nghiên cứu, ở mỗi giai đoạn phát triển, các quốc gia sẽ lựa chọn một mô hình KKT và một chiến lược cạnh tranh thích hợp, trong đó chiến lược “catch-up” thường được các nước có trình độ phát triển thấp ưu tiên lựa chọn nhằm thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, trong khi các quốc gia ở trình độ phát triển cao về kinh tế thường tập trung vào các hoạt động mang tính sáng tạo, có hàm lượng tri thức cao. Nghiên cứu đưa ra ví dụ về 2 mô hình KKT ở Việt Nam và Singapore để minh họa cho kết luận, trong khi Việt Nam chủ yếu dựa vào mô hình KCN để thu hút FDI thì Singapore đã nghiên cứu, thiết kế khu sáng tạo đầu tiên của khu vực. Các gợi ý cho QLNN đưa ra trong nghiên cứu gồm: chuyển đổi các luan an 12 mô hình KCN thành KCN sinh thái; thúc đẩy chuỗi giá trị thông qua việc thiết lập các mô hình KCN sáng tạo tại các thành phố lớn; thành lập các tổ chức phi lợi nhuận trong khu vực ASEAN nhằm giám sát quá trình hoạt động và phát triển của các KCN, được cho là rất có giá trị đối với các nhà quản lý công.
Nghiên cứu giúp tác giả Luận án nhận thức được xu hướng phát triển của các KCN trên thế giới, trong khu vực để đề xuất các giải pháp QLNN nhằm phát triển các KCN Quảng Ninh theo mô hình KCN sinh thái, thân thiện với môi trường; mô hình KCN thông minh, sáng tạo…[74]. “Industrial park development Strategy and mangement Practices” (2013), Ministry of Knowledge and Economy - Knowledge Sharing program là một nghiên cứu về kinh nghiệm phát triển các KCN của Hàn Quốc thông qua thực tiễn hình thành, thực thi chiến lược và các chính sách phát triển cũng như mô hình tổ chức, quản lý các KCN. Theo đó, ở Hàn Quốc, tổ chức quản lý KCN được thành lập năm 1997 với tên gọi là Công ty Công nghiệp Hàn Quốc (KICC), trên cơ sở sáp nhập 5 tổ chức quản lý vùng, với vai trò tối đa hóa chức năng và công dụng của các KCN nhằm thu hút các DN nước ngoài phù hợp và hỗ trợ các DN trong nước. Tâm điểm của cuốn sách tập trung vào các nội dung: (1) Bối cảnh lịch sử và kinh tế của chiến lược phát triển KCN; (2) Sự hình thành, chức năng, nhiệm vụ và vai trò của KICC trong quản lý các KCN; (3) Một số gợi ý chính sách cho các quốc gia trên cơ sở kinh nghiệm của Hàn Quốc.
Theo nghiên cứu, KCN đầu tiên của Hàn Quốc được thành lập vào đầu những năm 1960, sau đó số lượng các KCN tăng nhanh trên phạm vi cả nước, lên tới trên 900 KCN tính đến cuối 2010. Với chiến lược chủ đạo trong phát triển kinh tế là hướng ra xuất khẩu, các KCN đã góp phần quan trọng tạo nên sự tăng trưởng kinh tế thần kỳ cho Hàn Quốc trong 1 thời gian dài. Tuy nhiên, với thách thức mà các KCN đang phải đối mặt, cuốn sách nhận định, việc định hướng và hoạch định chính sách phát triển cho các KCN là khâu quan trong, có ý nghĩa quyết định đến sự thành bại của các KCN. luan an 13 Điều đó cho thấy vai trò rất quan trọng của QLNN đối với sự hình thành và phát triển của các KCN [71].
Hubert Thieriot, Dave Sawyer (2015), Development of Eco-efficient industrial parks in China: A review, Internatinal Institute for Sustainable development, đã nghiên cứu thực trạng khu vực công nghiệp của Trung Quốc và đưa ra con số thống kê đáng lo ngại. Đó là 72% lượng khí thải carbon ra môi trường ở nước này có nguồn gốc từ khu vực công nghiệp. Theo nghiên cứu, để giảm thiểu tình trạng này, Chính phủ Trung Quốc đã chỉ đạo các bộ, ngành xây dựng 3 chương trình thí điểm gồm: (1) Bộ Bảo vệ Môi trường: Chương trình KCN sinh thái; (2) Ủy ban Cải cách và Phát triển quốc gia chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính: Chương trình chuyển đổi tuần hoàn các KCN; (3) Bộ Công nghiệp và Công nghệ thông tin: Chương trình KCN khí carbon thấp. Theo đó, QLNN phải nhằm mục tiêu giảm thiểu những tác động tiêu cực của các ngành công nghiệp, trong đó có tác động của các KCN đến môi trường.
Các chương trình này sẽ tăng cường năng lực cạnh tranh, hướng tới mục tiêu chuyển đổi mô hình các KCN tập trung truyền thống thành các KCN sinh thái (EIPs) - mô hình KCN tiên tiến, mang tính hình mẫu để các quốc gia đang phải đối mặt với các vấn đề về môi trường nghiên cứu, học tập, mặc dù đây không phải là mô hình mới đối với các nước phát triển. Nghiên cứu này cho thấy các ưu, nhược điểm của từng mô hình KCN, giúp các nhà quản lý lựa chọn mô hình phù hợp với đặc thù địa phương [69]. Siwei Tan (2014) trong nghiên cứu “Wastewater management in Industrial Zones of Vietnamese Mekong Delta” đã chỉ ra sự bất cập và lỏng lẻo trong công tác quản lý môi trường tại các KCN Việt Nam qua các phân tích về quản lý nước thải tại các KCN Đồng bằng sông Mekong. Các số liệu thực nghiệm tổng hợp từ các phỏng vấn các chuyên gia, các cơ quan QLNN, các doanh nghiệp, người dân 4 tỉnh dọc theo sông Hậu từ 5/2011 đến 2/2012 trong nghiên cứu cho thấy thực trạng ô nhiễm nguồn nước rất nặng nề.
Trong đó có luan an 14 một số nguyên nhân liên quan đến QLNN như: quy hoạch KCN, phân công, phân cấp trong quản lý môi trường. Cụ thể là vị trí đặt các KCN không phù hợp với phạm vi quản lý của chính quyền địa phương, sự chồng chéo, không rõ ràng trong phân định trách nhiệm quản lý môi trường ở địa phương dẫn đến tình trạng rất khó quản lý môi trường trong và ngoài KCN. Bên cạnh đó, hệ thống hành chính nhà nước tổ chức theo mô hình quan hệ thứ bậc, chưa phân định rõ trách nhiệm quản lý ở Việt Nam là nguyên nhân khiến QLNN về môi trường đối với KCN bộc lộ nhiều tồn tại, hạn chế cần khắc phục [73]. Các nghiên cứu trong nước liên quan đến quản lý nhà nước đối với khu công nghiệp Phần lớn các nghiên cứu được tổng quan liên quan đến QLNN đối với KCN là các bài viết, đề tài nghiên cứu tổng hợp, chuyên sâu trong từng lĩnh vực đối với các KCN Việt Nam với những đánh giá xác thực về chất lượng, hiệu quả QLNN đã đạt được trên bình diện quốc gia và địa phương.
Các nghiên cứu về quy hoạch khu công nghiệp Vũ Quốc Huy (2015), “Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng xây dựng và triển khai quy hoạch phát triển các khu công nghiệp Việt Nam”, Tạp chí Khu công nghiệp Việt Nam, đã đề cập đến vai trò động lực của các KCN trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa (CNH), hiện đại hóa (HĐH) đất nước, một số bất cập trong đào tạo nguồn nhân lực cho KCN, huy động nguồn vốn cho phát triển hạ tầng KCN, cơ chế phân cấp và ủy quyền cho BQL các KCN cấp tỉnh, đặc biệt công tác quy hoạch và quản lý thực hiện quy hoạch phát triển các KCN tại một số tỉnh, thành phố. Nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong QLNN về quy hoạch KCN như: chênh lệch về diện tích thực tế của một số KCN so với quy hoạch; bổ sung quy hoạch, mở rộng KCN chưa hợp lý, vị trí quy hoạch KCN không thuận lợi… Trên cơ sở xác định nhóm nguyên nhân ảnh hưởng đến QLNN đối với các KCN, nghiên cứu đưa ra một số giải pháp QLNN nhằm PTBV các KCN, đáng chú ý là: giảm thiểu việc tăng luan an 15 diện tích và bổ sung mới quy hoạch KCN; nâng cao chất lượng thu hút đầu tư vào KCN; đề xuất các mô hình, cơ chế, chính sách phát triển KCN phù hợp. Nghiên cứu này giúp NCS có cái nhìn toàn diện về thực trạng QLNN đối với các KCN, rút ra nhiều kinh nghiệm thực tiễn để đề xuất các giải pháp QLNN phù hợp với thực tiễn các KCN của tỉnh Quảng Ninh [31]. Đề tài (2015): “Rà soát, đánh giá thực trạng triển khai và đề xuất giải pháp điều chỉnh, bổ sung và nâng cao hiệu quả thực hiện Quy hoạch tổng thể phát triển khu công nghiệp tại Việt Nam”, Đề tài cấp bộ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư là nghiên cứu tiêu biểu và cập nhật nhất về tình hình thực hiện quy hoạch phát triển các KCN Việt Nam trong giai đoạn 2005 - 2015.
Nghiên cứu đã xây dựng các nguyên tắc phù hợp để tiến hành rà soát, điều chỉnh, bổ sung quy hoạch phát triển KCN trên phạm vi cả nước đến năm 2020, đồng thời đưa ra giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện quy hoạch phát triển KCN, khẳng định tính cấp thiết phải chấn chỉnh công tác quy hoạch KCN. Trên cơ sở đánh giá toàn diện tình hình hoạt động của các KCN trong quy hoạch và các KCN đã thành lập, khả năng triển khai của các KCN đã được quy hoạch, nghiên cứu đề xuất biện pháp xử lý các KCN kém hiệu quả và kiến nghị cấp có thẩm quyền điều chỉnh quy hoạch phát triển các KCN một cách phù hợp. Nghiên cứu cho thấy muốn phát huy hiệu lực, hiệu quả QLNN đối với KCN phải đặc biệt coi trọng chất lượng lập và quản lý quy hoạch KCN [11].