Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG HỢP TÁC XÃ 1. Cơ sở lý luận về kinh tế hợp tác và hợp tác xã 1. Khái niệm hợp tác, kinh tế hợp tác và hợp tác xã Trong tiến trình phát triển của lịch sử xã hội loài người, con người trải các hình thái kinh tế xã hội khác nhau và ở mỗi hình thái kinh tế xã hội đó sự phát triển của lực lượng sản xuất luôn đi cùng là một quan hệ sản xuất phù hợp. Chính vì vậy sự hợp tác giữa con người với con người với nhau trong quá trình sản xuất là một tất yếu khách quan xuất phát từ nhu cầu của sản xuất, từ nhu cầu của cuộc sống để nương tựa lẫn nhau, hỗ trợ nhau và bảo vệ nhau trong cuộc sống cũng như trong sản xuất.
Bởi lẽ, thông qua hợp tác sức lực của các cá nhân sẽ được kết hợp lại lớn mạnh hơn để nhằm thực hiện các công việc mà mỗi cá nhân, đơn vị hoạt động riêng rẽ rất khó khăn mà thậm chí là không thể làm được. Chính vì vậy, cùng với tiến trình phát triển của xã hội loài người, quá trình phân công lao động và chuyên môn hoá trong sản xuất cả về chiều sâu lẫn bề rộng đã thúc đẩy quá trình hợp tác ngày càng tăng. Sự hợp tác không chỉ được giới hạn ở phạm vi vùng, quốc gia mà còn được mở rộng ra phạm vi toàn cầu. Một minh chứng cụ thể cho quá trình hợp tác tất yếu phải diễn ra trên phạm vi thế giới đó là quá trình hội nhập ngày càng sâu rộng của các quốc gia trên tất cả các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn hoá - xã hội.đã làm cho sức ép cạnh tranh ngày càng gay gắt không chỉ diễn ra ở phạm vi từng vùng, từng địa phương, từng quốc gia mà còn diễn ra trên phạm vi toàn cầu khiến cho các doanh nghiệp đều phải thay đổi chiến lược sản xuất kinh doanh của mình cho phù hợp với xu thế mới của thời đại.
Luan van 9 Kinh tế hợp tác là một hình thức quan hệ kinh tế hợp tác tự nguyện, phối hợp, hỗ trợ, giúp đỡ lẫn nhau giữa các chủ thể kinh tế nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động và lợi ích của mỗi thành viên[22]. Trong nền kinh tế nước ta hiện đang tồn tại nhiều loại hình kinh tế hợp tác. Mỗi loại hình lại phản ánh đặc điểm, trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động tương ứng. Kinh tế hợp tác giản đơn là các tổ, hội, nhóm hợp tác được hình thành trên cơ sở tự nguyện của các chủ thể kinh tế độc lập và có mục đích, hoạt động kinh doanh giống nhau, nhằm cộng tác, trao đổi những kinh nghiệm, giúp đỡ lẫn nhau trong hoạt động sản xuất kinh doanh.
Hợp tác xã (HTX) là một loại hình kinh tế hợp tác phát triển ở trình độ cao hơn loại hình kinh tế hợp tác giản đơn, có nhiều định nghĩa về HTX trên thế giới cũng như ở Việt Nam qua các thời kỳ. Trên thế giới: Liên minh Hợp tác xã quốc tế (ICA, 1995) định nghĩa: “Hợp tác xã là một hiệp hội độc lập gồm các cá nhân tự nguyện cùng tập hợp lại để đáp ứng những nguyện vọng và nhu cầu chung về kinh tế, xã hội và văn hóa thông qua một hoạt động kinh doanh dựa trên vốn chủ sở hữu tập thể và quyền lực được thực thi một cách dân chủ”[22]. Định nghĩa này cho thấy: (i) HTX là tổ chức do các thành viên cùng sở hữu, cùng sử dụng sản phẩm, dịch vụ do HTX tạo ra. Nói cách khác, HTX là doanh nghiệp do thành viên của nó cùng là chủ sở hữu; (ii) HTX là tổ chức trong đó thành viên vừa là chủ sở hữu, vừa là người tham gia vào các hoạt động do HTX triển khai; (iii) Mục đích tối thượng của HTX không phải là tối đa hoá lợi nhuận, mà để đáp ứng tốt nhất nhu cầu và lợi ích của thành viên.
Tổ chức lao động quốc tế (ILO) định nghĩa: “HTX là sự liên kết của những người đang gặp phải những khó khăn kinh tế giống nhau, tự nguyện liên kết nhau lại trên cơ sở bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ, sử dụng tài sản mà họ đã chuyển giao vào HTX phù hợp với các nhu cầu chung và giải quyết Luan van 10 những khó khăn đó chủ yếu bằng sự tự chủ, tự chịu trách nhiệm bằng cách sử dụng các chức năng kinh doanh trong tổ chức hợp tác phục vụ cho lợi ích vật chất và tinh thần chung. Tại Thái Lan và Philippines, HTX được định nghĩa là tổ chức phi chính phủ; còn ở Pháp và Canada, HTX được định nghĩa là doanh nghiệp.”[22] Tại Việt Nam, Luật Hợp tác xã năm 1996 đã đưa ra định nghĩa về HTX như sau: “Hợp tác xã là tổ chức kinh tế tự chủ do những người lao động có nhu cầu, lợi ích chung, tự nguyện cùng góp vốn, góp sức lập ra theo quy định của pháp luật để phát huy sức mạnh của tập thể và của từng xã viên nhằm giúp nhau thực hiện có hiệu quả hơn các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và cải thiện đời sống, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước”. [17] Điều 1, Luật Hợp tác xã năm 2003 đã đưa ra định nghĩa về HTX như sau: “Hợp tác xã là một tổ chức kinh tế tập thể do cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân (gọi chung là xã viên) có nhu cầu, lợi ích chung, tự nguyện góp vốn, góp sức lập ra theo quy định của luật này để phát huy sức mạnh tập thể của từng xã viên tham gia Hợp tác xã, cùng giúp nhau thực hiện có hiệu quả các hoạt động sản xuất, kinh doanh và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước”. [17] Luật Hợp tác xã năm 2012, định nghĩa HTX như sau: “Hợp tác xã là tổ chức kinh tế tập thể, đồng sở hữu, có tư cách pháp nhân, do ít nhất 07 thành viên tự nguyện thành lập và hợp tác tương trợ lẫn nhau trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm nhằm đáp ứng nhu cầu chung của thành viên, trên cơ sở tự chủ, tự chịu trách nhiệm, bình đẳng và dân chủ trong quản lý hợp tác xã”.
[17] Khi hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã (LHHTX) phát triển đến trình độ cao hơn thì sẽ hình thành các doanh nghiệp của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã; doanh nghiệp của HTX, LHHTX hoạt động theo Luật doanh nghiệp. Bản Luan van 11 chất hoạt động của HTX theo Luật Hợp tác xã năm 2012 phù hợp với định nghĩa, các giá trị và nguyên tắc HTX đã được Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) và Liên minh Hợp tác xã Thế giới (ICA) đề ra. Như vậy, HTX là sự phát triển ở trình độ cao hơn của kinh tế hợp tác mà được hình thành và nuôi dưỡng chính từ quá trình hợp tác trong sản xuất, trong kinh doanh, tuy nhiên ở đó mức độ gắn kết giữa các thành viên trong tổ chức có mối liên hệ chặt chẽ hơn, các quan hệ sở hữu, quan hệ phân phối được thiết lập hiệu quả hơn. Lịch sử hình thành và phát triển của hợp tác xã - Từ khi thành lập HTX đến thời kỳ đổi mới (từ 1957 - 1986).
Từ sau cách mạng tháng 8 năm 1945 đến năm 1955, hưởng ứng lời kêu gọi kháng chiến kiến quốc của Chủ tịch Hồ Chí Minh phong trào kinh tế hợp tác được hình thành và phát triển ở nhiều vùng tự do và căn cứ địa cách mạng với các hình thức hợp tác chủ yếu là tổ vần công, tổ đổi công, tập đoàn sản xuất nông nghiệp. Cũng trong thời gian này Hội nghị lần thứ 8 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá II tháng 8 năm 1955 đã đề ra chủ trương xây dựng thí điểm 06 HTXNN tại 06 tỉnh thành: Thái Nguyên, Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Ninh Bình, Thanh Hoá, Nghệ An. Tuy số lượng HTX còn ít, còn ở trình độ phát triển thấp nhưng đa số được hình thành trên cơ sở tự nguyện của nông dân, các HTX đã phù hợp với tâm tư nguyện vọng của người dân. Đa số các HTX đều đạt kết quả sản xuất cao, thu nhập của hộ xã viên năm sau cao hơn năm trước.
Chính vì vậy, đến năm 1958 hầu hết các tỉnh thành đều tiến hành xây dựng thí điểm hợp tác xã nông nghiệp (HTXNN) chủ yếu bằng cách chuyển đổi từ tổ đổi công lên. Để tạo điều kiện cho các HTXNN phát triển đúng hướng, tháng 4 năm 1959, Hội nghị Trung ương lần thứ 16 khoá II đã chính thức quyết định đường lối, phương châm, chính sách hợp tác hoá nông nghiệp nhằm thúc đẩy phong trào hợp tác hoá. Điều lệ mẫu HTXNN bậc thấp Luan van 12 được Phủ Thủ tướng ban hành theo Thông tư số 449-TTg ngày 17/12/1959 với nội dung: Quyền sở hữu của xã viên về tư liệu sản xuất chủ yếu được thừa nhận, trả công trong HTX theo nguyên tắc làm nhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng ít…Đến cuối năm 1960, miền Bắc đã đưa đại bộ phận nông dân vào HTX bậc thấp, quy mô nhỏ. Giai đoạn 1961- 1975: Đây là giai đoạn củng cố, phát triển và hoàn thiện đưa các HTX bậc thấp lên bậc cao, mở rộng quy mô hợp tác theo mô hình tập thể hoá trên cơ sở cải tiến quản lý HTX, mở rộng lĩnh vực hoạt động sang kinh doanh đa dạng: sản xuất nông nghiệp, hoạt động tín dụng nông thôn, tiểu thủ công nghiệp, thương nghiệp…Tuy nhiên chính trong giai đoạn này lại thể hiện rõ nét của sự không phù hợp của HTX bậc cao thể hiện ở quy mô với trình độ phát triển lực lượng sản xuất… Hội nghị Trung ương 11,12,15 (khoá III) đã có những quyết định chuyển hướng về tư tưởng, tổ chức chỉ đạo kinh tế, quốc phòng trong điều kiện nhà nước có chiến tranh.
Chế độ ba khoán được cải tiến một bước nhưng vẫn mang nặng tính bình quân. Đối với nông nghiệp, quy mô HTX được mở rộng, công tác quản lý trong nội bộ HTX cũng được quan tâm cải tiến một bước. Đối với ngành thương mại, HTX tiếp tục được củng cố và phát triển cả về tổ chức, phạm vi hoạt động và quy mô kinh doanh. Tuy nhiên, tình trạng mất dân chủ, vi phạm các nguyên tắc quản lý lại xuất hiện nhiều hơn.
Đứng trước tình thế đó Đảng ta chủ trương mở cuộc vận động tổ chức lại sản xuất, cải tiến quản lý từ cơ sở đưa nông nghiệp lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa. Cuộc vận động này được thực hiện từ đầu năm 1970 đến năm 1980.