CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC TRONG THỰC HIỆN CÔNG TÁC GIẢM NGHÈO 1. Khái quát chung về giảm nghèo 1. Một số khái niệm liên quan đến giảm nghèo Nghèo là khái niệm chỉ tình trạng mà thu nhập thực tế của người dân chỉ dành hầu như toàn bộ cho ăn, thậm chí không đủ chi cho ăn, phần tích luỹ hầu như không có. Các nhu cầu tối thiểu ngoài ăn ra thì các mặt khác như ở, mặc, y tế, giáo dục, đi lại, giao tiếp chỉ đáp ứng một phần rất ít ỏi không đáng kể [14, tr.
Hay nói cách khác, nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư chỉ có thể thỏa mãn một phần nhu cầu cơ bản của cuộc sống [24, tr. Giảm nghèo: Giảm nghèo chính là làm cho bộ phận dân cư nghèo nâng cao mức sống, từng bước thoát khỏi tình trạng nghèo. Biểu hiện ở tỷ lệ phần trăm và số lượng người nghèo giảm xuống. Nói một cách khác, giảm nghèo là một quá trình chuyển một bộ phận dân cư nghèo lên một mức sống cao hơn.
Ở khía cạnh khác, giảm nghèo là chuyển từ tình trạng có ít điều kiện lựa chọn sang tình trạng có đầy đủ điều kiện lựa chọn để cải thiện đời sống mọi mặt [5, tr. Ở góc độ người nghèo: Giảm nghèo là quá trình tạo điều kiện giúp đỡ người nghèo có khả năng tiếp cận các nguồn lực của sự phát triển một cách nhanh nhất, trên cơ sở đó họ có nhiều khả năng lựa chọn tốt hơn giúp họ từng bước thoát khỏi tình trạng nghèo đói. Ở góc độ vùng nghèo: Giảm nghèo là quá trình thúc đầy phát triển kinh tế, chuyển đổi trình độ sản xuất cũ, lạc hậu trong xã hội sang trình độ sản xuất mới cao hơn nhằm nâng cao thu nhập cho cộng đồng dân cư. Giảm nghèo là một trọng tâm của Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội nhằm cải thiện và từng bước nâng cao điều kiện sống của người nghèo, trước hết là ở khu vực miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số; tạo sự chuyển biến mạnh mẽ, toàn diện ở các 5 Luan van vùng nghèo; thu hẹp khoảng cách chênh lệch giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng, các dân tộc và các nhóm dân cư [11, tr.
Chính sách giảm nghèo: Trước khi đưa ra khái niệm về chính sách giảm nghèo, ta cần thống nhất cách hiểu về chính sách nói chung. Có nhiều khái niệm khác nhau về chính sách, tuy nhiên trong khuôn khổ nghiên cứu này thì chính sách bao gồm những dự định lập kế hoạch, hướng dẫn, phát động, tài trợ hoặc thông qua các dự án, chương trình, hoặc những hoạt động đang được thực hiện của nhà nước. Hay hiểu một cách đầy đủ và chặt chẽ hơn thì chính sách là những quyết định, qui định của nhà nước (tức là các cấp chính quyền từ trung ương đến địa phương) được cụ thể hoá thành các chương trình, dự án cùng các nguồn lực, vật lực, các thể thức, qui trình hay cơ chế thực hiện nhằm tác động vào đối tượng có liên quan, thay đổi trạng thái của đối tượng theo hướng mà nhà nước mong muốn [8,tr. Xuất phát từ cách tiếp cận trên, chính sách giảm nghèo có thể được hiểu đó là những quyết định, qui định của nhà nước được cụ thể hoá trong các chương trình, dự án cùng với nguồn lực, vật lực, các thể thức, qui trình hay cơ chế thực hiện nhằm tác động vào các đối tượng cụ thể như người nghèo, hộ nghèo hay xã nghèo với mục đích cuối cùng là XĐGN.
Chương trình giảm nghèo: là một hệ thống các giải pháp, trong đó xác định rõ vai trò và cơ chế phối hợp hành động của Nhà nước, của các tổ chức trong xã hội để giúp nâng cao mức sống cho người nghèo, tạo cho hộ nghèo những cơ hội phát triển trong đời sống cộng đồng bằng chính lao động của bản thân. Tiêu chí xác định hộ nghèo Hiện nay, tiêu chí hộ nghèo được xác định căn cứ theo các tiêu chí trong Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg, ngày 19/11/2015 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng giai đoạn 2016 – 2020, trong đó nêu rõ: a. Hộ nghèo * Khu vực nông thôn: là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau: 6 Luan van - Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 700.000 đồng trở xuống; - Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 700.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên. * Khu vực thành thị: là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau: - Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 900.000 đồng trở xuống; - Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 900.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên.
Hộ cận nghèo * Khu vực nông thôn: là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 700.000 đồng và thiếu hụt dưới 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản. * Khu vực thành thị: là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 900.000 đồng và thiếu hụt dưới 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản. Nghèo đói có ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự hưng thịnh của mỗi quốc gia. Ở nước ta, mặc dù trên thực tế không còn các hộ chịu đói, tuy nhiên các hộ nghèo vẫn còn phổ biến ở tất cả các tỉnh thành trong cả nước.
Do đó, công tác giảm nghèo đã trở thành nhiệm vụ quan trọng trong chính sách phát triển của Đảng và Nhà nước cũng như là nhiệm vụ chính trị trong công tác quản lý nhà nước ở mỗi cấp chính quyền. Quản lý nhà nước về giảm nghèo 1. Khái niệm QLNN có thể hiểu một cách khái quát nhất là thuật ngữ chỉ hoạt động thực hiện bằng quyền lực nhà nước của các cơ quan trong bộ máy nhà nước, sử dụng pháp luật làm công cụ quản lý chủ yếu để điều chỉnh hành vi, hành động của con người trên mọi lĩnh 7 Luan van vực đời sống xã hội trên cơ sở các quy luật phát triển xã hội, nhằm mục đích ổn định và phát triển đất nước. Như vậy, QLNN về giảm nghèo là sự tác động có tổ chức và bằng quyền lực nhà nước tới các hoạt động giảm nghèo, như hoạt động ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về giảm nghèo; hoạch định và tổ chức thực hiện các chính sách, chương trình, kế hoạch, dự án giảm nghèo; huy động mọi nguồn lực tài chính để đầu tư cho các chương trình dự án giảm nghèo; hoạt động thanh tra, kiểm tra và giám sát việc thực hiện các chính sách, chương trình, dự án giảm nghèo; tổng kết, đánh giá kết quả thực hiện.
Qua đó, góp phần giúp người nghèo nâng cao mức sống, từng bước thoát khỏi tình trạng nghèo và vươn lên thoát nghèo bền vững [6, tr. Đặc điểm và sự cần thiết của quản lý nhà nước về giảm nghèo 1. Đặc điểm của quản lý nhà nước về giảm nghèo Quản lý nhà nước về giảm nghèo mang những đặc điểm chung của hoạt động quản lý nhà nước như: Đối tượng quản lý, chủ thể quản lý, khách thể quản lý, cơ chế tác động và mục tiêu quản lý. Cụ thể như sau: Một là, đối tượng của QLNN về giảm nghèo là các hoạt động giúp cho bộ phận dân cư thoát nghèo bền vững mà thực chất là các chủ thể tham gia vào các hoạt động đó như đội ngũ cán bộ công chức làm hoạt động giảm nghèo ở các cấp, bao gồm việc ban hành các chính sách, chương trình dự án giảm nghèo và tổ chức thực hiện các chính sách và chương trình dự án đó, tổ chức thanh tra kiểm tra và giám sát việc thực hiện các chương trình dự án, các hoạt động xã hội hóa công cuộc giảm nghèo Hai là, chủ thể QLNN là các cơ quan nhà nước thống nhất từ trung ương đến cơ sở.
Ở cấp huyện, cơ quan QLNN đối với hoạt động giảm nghèo chính là UBND huyện và các phòng ban chức năng tham mưu, giúp việc cho chính quyền cấp huyện. Ba là, khách thể quản lý chính là vấn đề đói nghèo - một vấn đề mang tính kinh tế xã hội. Nó là một vấn đề nhạy cảm, liên quan trực tiếp tới lợi ích và sự phát triển con người, cộng đồng dân cư. 8 Luan van Bốn là, cơ chế tác động của QLNN.
Đây là một trong những yếu tố của công tác QLNN, bao gồm các nguyên tắc, các phương pháp và các công cụ quản lý. Về nguyên tắc, QLNN về giảm nghèo cần hướng đến tất cả các hoạt động mang lại lợi ích thiết thực cho người nghèo, góp phần nâng cao năng lực XĐGN để họ vươn lên thoát nghèo bền vững. Về phương pháp, QLNN nhằm điều chỉnh các hoạt động giúp bộ phận dân cư giảm nghèo dựa trên các nhóm phương pháp cơ bản như: phương pháp tổ chức - hành chính, phương pháp tâm lý - giáo dục, phương pháp kinh tế (với các đòn bẩy như lãi suất, thu nhập,…). Về công cụ, sử dụng công cụ chủ yếu là pháp luật hay chính là bằng cơ chế chính sách, bằng hoạt động của hệ thống tổ chức bộ máy quản lý từ trung ương đến cơ sở.
Năm là, mục tiêu chung của QLNN đối với hoạt động giảm nghèo là làm cho hoạt động giảm nghèo có hiệu quả giúp cho người nghèo nâng cao mức sống, từng bước thoát nghèo và vươn lên thoát nghèo bền vững, từ đó thu hẹp khoảng cách về trình đội phát triển giữa các vùng, địa bàn và giữa các dân tộc, nhóm dân cư, góp phần ổn định và phát triển kinh tế, xã hội đất nước. Sự cần thiết của quản lý nhà nước về giảm nghèo Một đất nước muốn phát triển, muốn đạt được mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh”, nâng cao vị thế trên trường quốc tế, điều tiên quyết là phải giảm được nghèo, phải nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân. Do đó, QLNN về giảm nghèo là sự tất yếu. Vấn đề đói nghèo và công bằng xã hội không được các chủ thể tự giác quan tâm thực hiện.
Nhà nước phải quản lý và can thiệp vào thị trường để điều tiết vĩ mô nền kinh tế theo những tiêu chí, mục tiêu phát triển nhất định của mỗi quốc gia thì công bằng xã hội mới được bảo đảm, chênh lệch giàu nghèo mới được thu hẹp.