mở đầu cho sự ra đời và phát triển của phong trào HTX ở Việt Nam sau khi giành được độc lập. Như vậy, có thể thấy kinh tế HTX ra đời là yêu cầu tất yếu của thực tiễn phát triển kinh tế và đã có một lịch sử phát triển lâu đời; từ đó nghiên cứu về kinh tế HTX tất nhiên là chủ đề thu hút sự quan tâm của cả giới lãnh đạo cũng như các học giả trong và ngoài nước. Có nhiều công trình nghiên cứu về các khía cạnh, phạm vi và mức độ khác nhau của kinh tế HTX. Sau đây là một số công trình nghiên cứu liên quan công tác QLNN về kinh tế HTX mà tác giả đã tiếp cận.
- Lương Xuân Quỳ, Nguyễn Thế Nhã (1999), “Đổi mới tổ chức và quản lý hợp tác xã trong nông nghiệp nông thôn”, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội. Các tác giả đã khái quát toàn bộ quá trình phát triển của các hình thức tổ chức, quản lý các HTX trong nông thôn Việt Nam từ trước đến khi chuyển sang kinh tế thị trường và phân tích thực trạng mô hình tổ chức quản lý các 5 z HTX ở một số địa phương tiêu biểu. Trên cơ sở đó phác họa một số phương hướng và giải pháp chủ yếu để xây dựng mô hình tổ chức có hiệu quả cho các loại hình HTX. - Nguyễn Văn Bình, Chu Tiến Quang, Lưu Văn Sùng (2001),“Kinh tế hợp tác, hợp tác xã ở Việt Nam - Thực trạng và định hướng phát triển”, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội.
Các tác giả đã hệ thống hóa quá trình hình thành, phát triển các loại hình kinh tế hợp tác, HTX trên thế giới và ở Việt Nam với những thành công và tồn tại, từ đó nêu lên định hướng phát triển phù hợp đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước ta. - Phạm Thị Cần, Vũ Văn Phúc, Nguyễn Văn Kỷ (2003), “Kinh tế hợp tác trong nông nghiệp nước ta hiện nay”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. Các tác giả tập trung trình bày những vấn đề lý luận và thực tiễn về kinh tế hợp tác, HTX; sự cần thiết khách quan phải lựa chọn các mô hình kinh tế hợp tác, HTX phù hợp với đặc điểm, điều kiện nông nghiệp, nông thôn nước ta, đề xuất những giải pháp phát triển các mô hình kinh tế hợp tác, HTX trong nông nghiệp, nông thôn Việt Nam hiện nay. - Chu Tiến Quang, Lê Xuân Quỳnh (2004), “Tiếp tục đổi mới và phát triển kinh tế hợp tác và hợp tác xã ở Việt Nam”, CIEM.
Các tác giả đã khẳng định kể từ khi Luật Hợp tác xã ra đời ( tháng 3 năm 1996) và chính thức có hiệu lực từ ngày 01 - 01 - 1997, khu vực kinh tế hợp tác và HTX ở nước ta đã thay đổi cơ bản cả về lượng và chất. Số lượng các đơn vị HTX tuy tăng không nhiều, nhưng đã từng bước được củng cố về chất, lấy lại uy tín và vai trò đối với người lao động, trên cơ sở đó phát triển và ngày càng thu hút các đối tượng khác nhau tham gia, không chỉ là người lao động như những năm trước khi có luật. HTX đã đóng góp tích cực hơn vào sức mạnh chung của kinh tế 6 z nhiều thành phần và làm rõ hơn bản chất của kinh tế tập thể mà Đảng và Nhà nước ta đã chủ trương phát triển. Các tác giả đã đề xuất 5 quan điểm mới đối với HTX trong đó đặc biệt nhấn mạnh “Phát triển KTTT, trong đó HTX là nòng cốt phải lấy hiệu quả kinh tế làm nền tảng, đồng thời thực hiện đúng các nguyên tắc HTX được quy định trong Luật” và “Phải coi trọng chất lượng trong phát triển HTX”.
- Bộ Thương mại (2004), “Một số giải pháp hoàn thiện tổ chức và phát triển hợp tác xã thương mại ở nông thôn nước ta hiện nay”, đề tài NCKH mã số 2003 - 78 - 011. Đề tài đã làm rõ một số vấn đề lý luận về tổ chức và phát triển HTX thương mại ở nông thôn; phân tích và làm rõ hiện trạng tổ chức và tác động của khung khổ pháp lý đến sự phát triển HTX thương mại ở nông thôn Việt Nam và đề xuất hệ thống giải pháp về tổ chức và phát triển HTX thương mại ở nông thôn nước ta đến năm 2010. - Liên minh Hợp tác xã Việt Nam (2016), “Phát triển kinh tế tập thể trong điều kiện Việt Nam đổi mới và hội nhập quốc tế”, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội. Tác giả đã khái quát tình hình phát triển kinh tế tập thể qua các thời kỳ ở nước ta; nêu một số kết quả nổi bật của khu vực kinh tế tập thể trong thời kỳ đổi mới và nguyên nhân dẫn đến thành công; nêu những hạn chế, nguyên nhân và bài học kinh nghiệm; kinh nghiệm quốc tế về phát triển kinh tế tập thể; định hướng và giải pháp phát triển kinh tế tập thể trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế.
- Lương Trọng Thành, Thịnh Văn Khoa, Nguyễn Thị Lan Hương (2017), “Phát triển kinh tế hợp tác trong nông nghiệp ở tỉnh Thanh Hóa hiện nay”, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội. Các tác giả trình bày cơ sở lý luận về kinh tế hợp tác trong nông nghiệp, phân tích rõ vai trò của kinh tế hợp 7 z tác trong nông nghiệp. Trên cơ sở phân tích thực trạng phát triển kinh tế hợp tác trong nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa, các tác giả đã đề xuất các nhóm giải pháp nhằm phát triển lĩnh vực kinh tế này trong giai đoạn tiếp theo. - Ngoài ra, có khá nhiều luận văn thạc sĩ bàn về phát triển kinh tế hợp tác và HTX đã được thực hiện như: Trần Minh Tâm (2000) “Phát triển kinh tế hợp tác ở ngoại thành thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp”; Lê Thùy Hương (2003) “Kinh tế tập thể trên địa bàn tỉnh Hải Dương, thực trạng và giải pháp”; Ngô Thị Cẩm Linh (2008) “Một số giải pháp nhằm phát triển kinh tế hợp tác xã nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc; Bùi Gia Long (2009) “Thực trạng và giải pháp nhằm phát triển hợp tác xã nông nghiệp ở tỉnh Thái Nguyên trong giai đoạn hiện nay”; Doãn Thị Vân Anh (2014) “Hoàn thiện pháp luật về quản lý nhà nước đối với hợp tác xã ở Việt Nam hiện nay”; Trần Văn Thanh (2017) “Quản lý nhà nước về kinh tế tập thể trong nông nghiệp trên địa bàn huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang”; Trần Kiếm Phong (2017) “Quản lý nhà nước đối với hợp tác xã trong nông nghiệp trên địa bàn huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang”;.
Khoảng trống nghiên cứu Các công trình, đề tài mà tác giả tiếp cận đã nghiên cứu, đề cập đến nhiều khía cạnh quản lý và phát triển kinh tế tập thể, kinh tế hợp tác, HTX. Một số công trình nghiên cứu vấn đề QLNN về kinh tế tập thể trong nông nghiệp và QLNN đối với HTX trong nông nghiệp trên phạm vi một huyện. Song nội dung QLNN về kinh tế HTX ở cấp huyện mới chỉ được nghiên cứu chung chung hoặc lồng nghép với các nội dung khác trong các công trình nghiên cứu nêu trên, chưa có công trình nào nghiên cứu công tác QLNN về kinh tế HTX ở cấp huyện một cách cơ bản, toàn diện và có hệ thống. Do đó vấn đề mà luận văn nghiên cứu mang tính cấp thiết và không trùng lắp.
Cơ sở lý luận của công tác quản lý nhà nƣớc về kinh tế hợp tác xã ở cấp huyện 1. Bản chất của kinh tế hợp tác, hợp tác xã 1. Kinh tế hợp tác Lịch sử phát triển của xã hội loài người cho thấy sự hợp tác giữa con người với con người là một tất yếu khách quan, xuất phát từ nhu cầu nương tựa vào nhau, hỗ trợ lẫn nhau và bảo vệ nhau trong cuộc sống, trong sản xuất cũng như trong chống thiên tai, giặc giã. Hợp tác là sự kết hợp sức lực của các cá nhân, đơn vị để tạo ra sức mạnh lớn hơn, sức mạnh của tập thể, để thực hiện những công việc mà từng cá nhân, đơn vị riêng lẻ khó thực hiện, không thực hiện được hoặc thực hiện kém hiệu quả so với hợp tác [37].
Để tồn tại và phát triển, mỗi cá nhân và mỗi cộng đồng dù muốn hay không vẫn phải hợp tác với nhau ở nhiều lĩnh vực để chinh phục thiên nhiên hay giải quyết các vấn đề xã hội. Tuy nhiên, hợp tác trong hoạt động kinh tế của con người là phổ biến nhất. Trong lĩnh vực kinh tế, cùng với tiến trình phát triển của xã hội loài người, quá trình phân công lao động và chuyên môn hóa trong sản xuất đã thúc đẩy quá trình hợp tác ngày càng tăng. Ngày nay, cùng với quá trình toàn cầu hóa, hợp tác không bị giới hạn trong phạm vi từng đơn vị, từng ngành, địa phương, trong từng quốc gia, khu vực mà còn mở rộng ra phạm vi quốc tế.
Trình độ xã hội hóa sản xuất càng phát triển thì nhu cầu hợp tác càng tăng, mối quan hệ hợp tác ngày càng sâu rộng, các hình thức kinh tế hợp tác ngày càng phát triển ở trình độ cao hơn, không chỉ diễn ra ở phạm vi quốc gia mà 9 z còn diễn ra trên phạm vi toàn cầu. Sự hợp tác với nhau cho phép thực hiện được hoặc thực hiện hiệu quả hơn nhiều công việc mà từng chủ thể kinh tế riêng lẻ không thể thực hiện được hoặc thực hiện kém hiệu quả. Những lợi ích này là nguồn gốc cho sự ra đời và là động lực phát triển của kinh tế hợp tác. Chỉ thị số 68 - CT/TW ngày 24 - 5 - 1996 của Ban Bí thư Trung ương Đảng và Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII lần đầu tiên sử dụng khái niệm “kinh tế hợp tác”.
Kinh tế hợp tác là một loại hình quan hệ kinh tế hợp tác tự nguyện, phối hợp, hỗ trợ giúp đỡ lẫn nhau giữa các chủ thể kinh tế, kết hợp sức mạnh của các thành viên với ưu thế sức mạnh tập thể để thực hiện có hiệu quả hơn các vấn đề trong sản xuất - kinh doanh và đời sống kinh tế, nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động và lợi ích của mỗi thành viên [37]. Như vậy, kinh tế hợp tác phản ánh một trong rất nhiều lĩnh vực hợp tác của con người, nhưng là lĩnh vực phổ biến, phạm vi hợp tác trong lĩnh vực kinh tế. Nó là một hình thức quan hệ kinh tế tự nguyện, nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh tế và lợi ích cho những thành viên tham gia hợp tác.