CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỊA PHƯƠNG ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP FDI TRÊN ĐỊA BÀN MỘT ĐỊA PHƯƠNG 1. Một số khái niệm và lý luận cơ sở 1. Lý luận chung về quản lý nhà nước địa phương đối với doanh nghiệp 1. Khái niệm, vai trò quản lý nhà nước Theo Giáo trình quản lý hành chính nhà nước “Quản lý nhà nước là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực Nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để duy trì và phát triển các mối quan hệ xã hội và trật tự pháp luật nhằm thực hiện những chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước trong công cuộc xây dựng Chủ nghĩa xã hội và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa”.
Như vậy, quản lý nhà nước là hoạt động mang tính chất quyền lực nhà nước, được sử dụng quyền lực nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội. Quản lý nhà nước được xem là một hoạt động chức năng của nhà nước trong quản lý xã hội và có thể xem là hoạt động chức năng đặc biệt. Quản lý nhà nước là tổng thể các phương thức và biện pháp sử dụng quyền lực Nhà nước nhằm tác động, điều chỉnh các mối quan hệ xã hội và hành vi hoạt động của con người theo mục tiêu của nhà nước. Phạm vi quản lý nhà nước bao gồm tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội: chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng an ninh,… Trong đó, quản lý nhà nước về kinh tế là một trong các lĩnh vực quan trọng nhất của mọi quốc gia.
Quản lý nhà nước về kinh tế là sự tham gia hoặc can thiệp của nhà nước ở mức độ khác nhau đối với nền kinh tế nhằm tác động vào thị trường và các tác nhân tham gia thị trường, trước hết là các doanh nghiệp nhằm tạo lập môi trường kinh doanh ổn định và phát triển. 10 Nhà nước luôn đóng một vai trò quan trọng trong quản lý và phát triển kinh tế. Tuy nhiên, trong xu thế chung của thời đại, nhà nước chỉ tập trung vào chức năng tạo dựng môi trường kinh tế vĩ mô ổn định; hỗ trợ cho việc hình thành và tạo điều kiện để các loại thị trường vận hành có hiệu quả. Nhà nước hình thành khung khổ pháp lý khuyến khích đầu tư và tạo lập môi trường cạnh tranh bình đẳng giữa các doanh nghiệp, giữa các thành phần kinh tế.
Nhà nước hiện đại phải là một nhà nước phục vụ và cung cấp các dịch vụ công, hoạt động quản lý nhà nước chỉ thực sự hiệu quả khi nhà nước chỉ còn can thiệp vào thị trường một cách vĩ mô. Mục đích, nguyên tắc, yêu cầu quản lý nhà nước Quản lý nhà nước mang tính quyền lực đặc biệt, tính mệnh lệnh đơn phương của nhà nước. Quản lý nhà nước được thiết lập trên cơ sở mối quan hệ “quyền uy” và “sự phục tùng”. Quản lý nhà nước mang tính tổ chức cao và điều chỉnh.
Tổ chức ở đây được hiểu như một khoa học về việc thiết lập những mối quan hệ giữa con người với con người nhằm thực hiện quá trình quản lý xã hội. Tính điều chỉnh được hiểu là nhà nước dựa vào các công cụ pháp luật để buộc đối tượng bị quản lý phải thực hiện theo quy luật xã hội khách quan nhằm đạt được sự cân bằng trong xã hội. Quản lý nhà nước mang tính khoa học, tính kế hoạch. Đặc trưng này đòi hỏi nhà nước phải tổ chức các hoạt động quản lý của mình lên đối tượng quản lý phải có một chương trình nhất quán, cụ thể và theo những kế hoạch được vạch ra từ trước trên cơ sở nghiên cứu một cách khoa học.
Quản lý nhà nước là những tác động mang tính liên tục và ổn định lên các quá trình xã hội và hệ thống các hành vi xã hội. Cùng với sự vận động biến đổi của đối tượng quản lý, hoạt động quản lý nhà nước phải diễn ra thường xuyên liên tục, không bị gián đoạn. Các quyết định của quản lý nhà nước phải có tính ổn định không được thay đổi quá nhanh. Việc ổn định của 11 các quyết định của nhà nước giúp cho các chủ thể quản lý có điều kiện kiện toàn hoạt động của mình và hệ thống hành vi xã hội được ổn định.
Phân cấp quản lý nhà nước và thẩm quyền quản lý nhà nước địa phương với doanh nghiệp Nghị định về đăng ký doanh nghiệp số 78/2015/NĐ-CP ngày 14/09/2015 là cơ sở pháp lý quan trọng để triển khai việc giao quyền cho các địa phương trong việc quản lý doanh nghiệp. Việc phân cấp mạnh mẽ cho các địa phương đã đem lại sự chủ động sáng tạo, linh hoạt cho địa phương trong công tác quản lý nhà nước về doanh nghiệp; thể hiện rõ nét trong chương II của Nghị định này. Cơ quan đăng ký kinh doanh Cơ quan đăng ký kinh doanh được tổ chức ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi chung là cấp tỉnh) và ở quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là cấp huyện). Ở cấp tỉnh, cơ quan đăng ký kinh doanh là phòng Đăng ký kinh doanh thuộc Sở Kế hoạch và Đầu tư.
Ở cấp huyện, phòng Tài chính – Kế hoạch thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện thực hiện nhiệm vụ đăng ký hộ kinh doanh. Cơ quan đăng ký kinh doanh có tài khoản và con dấu riêng ii. Nhiệm vụ, quyền hạn của Phòng Đăng ký kinh doanh - Trực tiếp nhận và xem xét tính hợp lệ của hồ sơ đăng ký doanh nghiệp và cấp hoặc từ chối cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp - Phối hợp xây dựng, quản lý, vận hành Hệ thống thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp; thực hiện việc chuẩn hóa và cập nhật dữ liệu đăng ký doanh nghiệp tại địa phương sang Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp 12 - Cung cấp thông tin về đăng ký doanh nghiệp lưu giữ tại Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp trong phạm vi địa phương quản lý cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Cục thuế địa phương, các cơ quan liên quan. - Yêu cầu doanh nghiệp báo cáo về việc tuân thủ các quy định của Luật Doanh nghiệp; tạm ngừng kinh doanh ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện theo quy định, thu hồi giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp theo quy định.
- Trực tiếp kiểm tra hoặc đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền kiểm tra doanh nghiệp theo nội dung trong hồ sơ đăng ký doanh nghiệp; hướng dẫn cơ quan đăng ký kinh doanh cấp huyện về hồ sơ, trình tự, thủ tục đăng ký hộ kinh doanh; hướng dẫn doanh nghiệp về hồ sơ, trình tự, thủ tục đăng ký doanh nghiệp - Đăng ký cho các loại hình khác theo quy định của pháp luật iii. Quản lý nhà nước về đăng ký doanh nghiệp Bộ Kế hoạch và Đầu tư - Trình cấp có thẩm quyền ban hành, ban hành theo thẩm quyền văn bản quy phạm pháp luật về đăng ký doanh nghiệp, đăng ký hộ kinh doanh, văn bản hướng dẫn về chuyên môn, nghiệp vụ, biểu mẫu, chế độ báo cáo phục vụ công tác đăng ký doanh nghiệp, đăng ký hộ kinh doanh và việc đăng ký doanh nghiệp qua mạng điện tử - Hướng dẫn, đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ đăng ký doanh nghiệp cho cán bộ làm công tác đăng ký doanh nghiệp và tổ chức, cá nhân có yêu cầu; đôn đốc, chỉ đạo, theo dõi, kiểm tra việc thực hiện đăng ký doanh nghiệp - Công bố nội dung đăng ký doanh nghiệp; cung cấp thông tin về nội dung đăng ký doanh nghiệp, tình trạng pháp lý và báo cáo tài chính của doanh nghiệp lưu giữ tại Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp cho các cơ quan có liên quan của Chính phủ, cho tổ chức, cá nhân có yêu cầu; 13 - Hướng dẫn Phòng Đăng ký kinh doanh thực hiện việc chuẩn hóa dữ liệu, cập nhật dữ liệu đăng ký doanh nghiệp tại địa phương sang Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp; - Tổ chức xây dựng, quản lý, phát triển Hệ thống thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp; hướng dẫn việc xây dựng kinh phí phục vụ vận hành Hệ thống thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp tại địa phương - Chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính trong việc kết nối giữa Hệ thống thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp và Hệ thống thông tin đăng ký thuế; - Phát hành ấn phẩm thông tin doanh nghiệp để thực hiện đăng thông tin về đăng ký doanh nghiệp, thành lập chi nhánh, văn phòng đại diện của doanh nghiệp trên toàn quốc; - Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực đăng ký doanh nghiệp. Bộ Tài chính - Phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư trong việc kết nối giữa Hệ thống thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp và Hệ thống thông tin đăng ký thuế nhằm cung cấp mã số doanh nghiệp, mã số đơn vị phụ thuộc của doanh nghiệp, mã số địa điểm kinh doanh phục vụ đăng ký doanh nghiệp và trao đổi thông tin doanh nghiệp. - Chủ trì, phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư hướng dẫn về chế độ thu, nộp quản lý và sử dụng phí, lệ phí đăng ký doanh nghiệp, đăng ký hộ kinh doanh, đăng ký hoạt động chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh, phí cung cấp thông tin và công bố nội dung về đăng ký doanh nghiệp.
- Bộ Công an chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành có liên quan hướng dẫn việc xác định nội dung kê khai trong hồ sơ đăng ký doanh nghiệp là giả mạo - Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình có trách nhiệm hướng dẫn thực hiện pháp luật về điều kiện kinh doanh; kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm việc chấp hành các 14 điều kiện kinh doanh thuộc thẩm quyền quản lý nhà nước; rà soát và công bố trên trang thông tin điện tử của Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ danh mục các ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện, điều kiện kinh doanh thuộc phạm vi quản lý nhà nước và gửi cho Bộ Kế hoạch và Đầu tư để đăng tải trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp. - Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương bố trí đủ nhân lực, kinh phí và nguồn lực khác cho cơ quan đăng ký kinh doanh để đảm bảo thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn quy định 1. Khái niệm, nội dung quản lý nhà nước địa phương với doanh nghiệp i.