phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và danh mục các bảng Luận văn đƣợc chia thành 3 chƣơng: - Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý nhà nƣớc đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài. - Chƣơng 2: Thực trạng quản lý nhà nƣớc đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài trên địa bàn thành phố Đà Nẵng. - Chƣơng 3: Giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nƣớc đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài trên địa bàn thành phố Đà Nẵng. 7 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI 1.
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI 1. Đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài a. Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài Hiện nay, có rất nhiều quan điểm khác nhau đề cập đến khái niệm đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài, tất cả đều cố gắng khai thác một hoặc một vài khía cạnh của vấn đề nhằm khái quát hóa bản chất, nội dung, hình thức của hoạt động này, có thể kể đến một vài quan điểm nhƣ: Tổ chức Thƣơng mại Thế giới (WTO) đƣa ra khái niệm về FDI nhƣ sau: Đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài xảy ra khi một nhà đầu tƣ từ một nƣớc có đƣợc một tài sản ở một nƣớc khác cùng với quyền quản lý tài sản đó. Phƣơng diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác.
Trong phần lớn trƣờng hợp, cả nhà đầu tƣ lẫn tài sản mà ngƣời đó quản lý ở nƣớc ngoài là các cơ sở kinh doanh. Trong những trƣờng hợp đó, nhà đầu tƣ thƣờng hay đựoc gọi là công ty mẹ và các tài sản đƣợc gọi là công ty con hay chi nhánh công ty. Khái niệm do Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) đƣa ra năm 1997 đề cập đến khía cạnh khác của đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài là: số vốn đầu tƣ đƣợc thực hiện để thu đƣợc lợi ích lâu dài trong một doanh nghiệp hoạt động ở nền kinh tế khác với nền kinh tế của nhà đầu tƣ. Mục đích của nhà đầu tƣ là có đƣợc tiếng nói hiệu lực và đạt hiệu quả cao trong quản lý doanh nghiệp.
8 Dù có nhiều khái niệm khác nhau, nhƣng xét về bản chất, đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài là một loại hình di chuyển vốn quốc tế trong đó ngƣời chủ sở hữu vốn đồng thời là ngƣời quản lý và điều hành các hoạt động sử dụng vốn. Để tham gia trực tiếp vào việc quản lý và điều hành các hoạt động sử dụng vốn, nhà đầu tƣ nƣớc ngoài phải có một lƣợng vốn nhất định và tuân theo các hình thức đầu tƣ nhất định do pháp luật nƣớc sở tại quy định. Nói cách khác, trong đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài, nhà đầu tƣ nƣớc ngoài sẽ sử dụng vốn, tài sản, kinh nghiệm, uy tín và nhãn hiệu sản phẩm của mình để tiến hành các hoạt động sản xuất, kinh doanh ở nƣớc sở tại nhằm thu lợi nhuận và để đạt đƣợc những mục tiêu kinh tế - xã hội nhất định. Về thực chất đây là hình thức xuất khẩu vốn, một hình thức cao hơn của xuất khẩu hàng hoá.
Đặc điểm của đầu tư trực tiếp nước ngoài - FDI là hình thức đầu tƣ chủ yếu bằng vốn của tƣ nhân do các chủ đầu tƣ tự quyết định đầu tƣ, tự quyết định sản xuất kinh doanh và tự chịu trách nhiệm về lỗ lãi. Đầu tƣ theo hình thức này không để lại gánh nặng nợ nần về kinh tế cho nƣớc tiếp nhận vốn đầu tƣ, hơn nữa còn đem lại tính khả thi và hiệu quả kinh tế cao. - Chủ đầu tƣ nƣớc ngoài có quyền điều hành toàn bộ hoạt động đầu tƣ nếu là doanh nghiệp 100% vốn nƣớc ngoài hoặc tham gia điều hành doanh nghiệp liên doanh tùy theo tỷ lệ góp vốn của mình, chính tỷ lệ góp vốn sẽ quyết định việc phân chia quyền lợi và trách nhiệm cũng nhƣ phân chia lợi nhuận và rủi ro giữa các chủ đầu tƣ. Đối với hoạt động FDI ở Việt Nam, luật đầu tƣ nƣớc ngoài cho phép chủ đầu tƣ nƣớc ngoài đƣợc thành lập doanh nghiệp 100% vốn nƣớc ngoài trong một số lĩnh vực nhất định và đƣợc tham gia liên doanh với vốn góp không thấp hơn 30% vốn pháp định của dự án (trong một số trƣờng hợp, tỷ lệ này có 9 thể xuống đến 20%), không khống chế tỷ lệ góp vốn tối đa (trừ một số ngành nghề có quy định riêng).
Trong khi đó ở một số nƣớc khác trong khu vực, khi tham gia liên doanh, chủ đầu tƣ nƣớc ngoài chỉ đƣợc góp vốn cổ phần nhỏ hơn hoặc bằng 49%, 51% cổ phần còn lại do nƣớc chủ nhà nắm giữ. - Thông qua FDI, nƣớc nhận đầu tƣ có thể tiếp nhận đƣợc công nghệ, kỹ thuật tiên tiến, học hỏi đƣợc kinh nghiệm quản lý…mà các hình thức khác không đáp ứng đƣợc. - Nguồn vốn đầu tƣ này ngoài nguồn vốn đầu tƣ ban đầu của chủ đầu tƣ dƣới hình thức vốn pháp định còn bao gồm cả vốn vay của doanh nghiệp để triển khai hoặc mở rộng sản xuất kinh doanh cũng nhƣ vốn đầu tƣ từ nguồn lợi nhuận thu đƣợc trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp. - FDI trở thành hình thức đầu tƣ chủ yếu trong đầu tƣ nƣớc ngoài.
Xét về ƣu thế và hiệu quả thì FDI thể hiện rõ hơn sự chuyển biến về chất lƣợng trong nền kinh tế thế giới. Gắn trực tiếp với quá trình sản xuất trực tiếp, tham gia vào sự phân công lao động quốc tế theo chiều sâu và tạo thành cơ sở của sự hoạt động của các công ty xuyên quốc gia. - Cơ cấu và phƣơng thức FDI trở nên đa dạng hơn. Điều này liên quan đến sự hình thành hệ thống phân công lao động quốc tế ngày càng sâu rộng và sự thay đổi môi trƣờng kinh tế thƣơng mại toàn cầu.
Về cơ cấu FDI, đặc biệt là FDI vào các nƣớc công nghiệp phát triển có những thay đổi sau: + Vai trò và tỷ trọng của đầu tƣ vào các ngành có hàm lƣợng khoa học cao tăng lên. Hơn 1/3 vốn FDI tăng lên hàng năm là tập trung vào các ngành then chốt nhƣ điện tử, chế tạo máy tính, chất dẻo, hóa chất và chế tạo máy. Trong khi đó nhiều ngành công nghiệp truyền thống dùng nhiều vốn và lao động, FDI giảm tuyệt đối hoặc không đầu tƣ. + Tỷ trọng của các ngành công nghiệp chế tạo giảm xuống trong khi FDI vào các ngành dịch vụ tăng lên.
Điều này có liên quan đến tỷ trọng khu vực 10 trong GDP của các nƣớc OECD tăng lên và hàm lƣợng dịch vụ trong công nghiệp chế tạo. - Sự gắn bó ngày càng chặc chẽ giữa FDI và ODA, thƣơng mại và chuyển giao công nghệ. + FDI và thƣơng mại có liên quan rất chặc chẽ với nhau. Thông thƣờng, một số chính sách khuyến khích đầu tƣ nƣớc ngoài nhằm vào mục đích tăng tiềm năng xuất khẩu của một nƣớc.
Mặc khác các công ty nƣớc ngoài đƣợc lựa chọn ngành và địa điểm đầu tƣ cũng dựa trên cơ sở tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm trên trƣờng quốc tế. + FDI đang trở thành kênh quan trọng nhất của việc chuyển giao công nghệ. Xu hƣớng hiện nay là FDI và chuyển giao công nghệ ngày càng gắn bó chặc chẽ với nhau. Đây chính là hình thức có hiệu quả nhất của sự lƣu chuyển vốn và kỹ thuật trên phạm vi quốc tế.
Doanh nghiệp có vốn đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài a. Khái niệm doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài DNFDI là doanh nghiệp đƣợc thành lập theo luật pháp nƣớc sở tại. Trong doanh nghiệp đó có phần vốn của nhà đầu tƣ nƣớc ngoài. Nhà đầu tƣ nƣớc ngoài là chủ sở hữu phần vốn họ góp vào doanh nghiệp và chịu trách nhiệm về rủi ro của doanh nghiệp trên số vốn góp đồng thời có quyền tổ chức, quản lý doanh nghiệp theo vốn góp.
DNFDI là những loại hình doanh nghiệp có vốn của bên nƣớc ngoài và có sự quản lý trực tiếp của bên nƣớc ngoài. Doanh nghiệp này hoạt động theo luật pháp của nƣớc sở tại để tiến hành các hoạt động kinh doanh nhằm thu đƣợc lợi ích cho tất cả các bên [13]. Tại Điều 3 Luật Đầu tƣ năm 2005 của Việt Nam: DNFDI gồm doanh nghiệp do nhà đầu tƣ nƣớc ngoài thành lập để thực hiện hoạt động đầu tƣ tại Việt Nam, doanh nghiệp Việt Nam do nhà đầu tƣ nƣớc ngoài mua cổ phần, sáp nhập, mua lại [16]. 11 Tuy có rất nhiều cách hiểu, cách quan niệm khác nhau nhƣng có thể hiểu một cách chung nhất là: DNFDI là doanh nghiệp trong đó nhà đầu tư nước ngoài bỏ vốn đầu tư toàn bộ hoặc một phần; trực tiếp quản lý hoặc tham gia quản lý, điều hành các hoạt động sản xuất, kinh doanh vì mục tiêu sinh lời phù hợp với các quy định của luật pháp nước sở tại và thông lệ quốc tế.
Theo khái niệm này, DNFDI khác với các doanh nghiệp khác trong nƣớc là do nhà đầu tƣ nƣớc ngoài bỏ vốn đầu tƣ toàn bộ, hoặc một phần. Về quyền quản lý doanh nghiệp thì có thể trực tiếp hoặc tham gia tùy theo lƣợng vốn góp. Mục đích của DNFDI trƣớc hết và chủ yếu là ở lợi nhuận và chịu sự điều chỉnh của pháp luật cả quốc gia sở tại và pháp luật quốc tế. Đặc điểm doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài Doanh nghiệp có vốn đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài có nhiều loại hình, nhiều cách thức tổ chức hoạt động khác nhau.
Do vậy, nhận thức các đặc điểm hoạt động của các doanh nghiệp này có vai trò quan trọng trong việc đảm bảo hiệu quả quản lý nhà nƣớc đối với chúng. DNFDI ở Việt Nam có các đặc điểm cơ bản sau: - DNFDI là những tổ chức kinh doanh có yếu tố quốc tế, chủ yếu đƣợc thành lập theo hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn, thuộc một phần sở hữu nƣớc ngoài (doanh nghiệp liên doanh) hoặc thuộc toàn bộ sở hữu nƣớc ngoài (doanh nghiệp 100% vốn đầu tƣ nƣớc ngoài). Quá trình thành lập và vận hành của DNFDI luôn có sự cộng đồng trách nhiệm của các bên, đại diện cho lợi ích của các quốc gia khác nhau và đƣợc các bên lấy phƣơng châm cùng có lợi làm nguyên tắc cơ bản để giải quyết các vấn đề trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp. - DNFDI có sự tham gia quản lý trực tiếp của nƣớc ngoài, quyền quản lý của các bên phụ thuộc vào tỷ lệ vốn góp.