phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo. Nội dung chính của luận án kết cấu thành 4 chƣơng 11 tiết. Luận án tiến sĩ Kinh tế 6 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN THU HÖT VỐN ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI TRONG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ Ở VÙNG KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM BẮC BỘ 1. CÁC NGHIÊN CỨU CỦA NƢỚC NGOÀI LIÊN QUAN TỚI LUẬN ÁN 1.
Đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài và các yếu tố ảnh hƣởng - Các nhà kinh tế cho rằng nguyên nhân của sự gia tăng dòng vốn ra nƣớc ngoài và diễn ra các chiều khác nhau, các nhà đầu tƣ đã tìm thấy lợi nhuận ở nƣớc ngoài lớn hơn lợi nhuận ở nội địa để thúc đẩy các hoạt động đầu tƣ. Mac-Dougall đƣa ra mô hình lí thuyết dựa trên các điều kiện giả định [164]: 1) Thế giới chỉ có hai quốc gia; 2) Thị trƣờng cạnh tranh hoàn hảo, quốc gia có lƣợng vốn đầu tƣ lớn (thừa vốn) nhƣng tỷ suất sinh lời của đồng vốn thấp (quốc gia 1- QG1), quốc gia có lƣợng vốn nhỏ (thiếu vốn) nhƣng tỷ suất sinh lời của đồng vốn cao (quốc gia 2- QG2). Dòng vốn đầu tƣ di chuyển từ QG1 sang QG2; 3) Vốn di chuyển tự do giữa các quốc gia; 4) Thông tin hoàn hảo, nhập khẩu và xuất khẩu vốn đều có thông tin đầy đủ về các hoạt động đầu tƣ. Việc xuất, nhập khẩu vốn sẽ đƣợc thực hiện cho đến khi lợi nhuận biên bằng tỷ suất lợi nhuận bình quân của thế giới; 5) Không có rủi ro và môi trƣờng đầu tƣ đƣợc giữ ổn định.
Từ quan điểm coi thế giới là một tổng thể gồm hai quốc gia cấu thành, đầu tƣ quốc tế (trong đó có FDI) làm cho tổng sản phẩm ở từng ngành tăng dẫn đến GDP của nơi tiếp nhận vốn FDI cũng tăng - đây chính là hiệu quả phúc lợi của FDI. FDI đã làm tăng khả năng phân phối tiềm lực KTQT và làm tăng phúc lợi và sản phẩm quốc tế. Hoạt động di chuyển vốn quốc tế trong thập kỷ 50-60 đã khẳng định những xu hƣớng mà giả định của Mac - Dougall đƣa ra. Sau đó các số liệu thống kê, thực nghiệm đã không đƣa ra đƣợc những bằng chứng rõ rệt để kiểm chứng.
Nhƣợc điểm của mô hình này là không giải thích đƣợc sự vận động nhiều chiều của FDI và sự sụp đổ của hệ thống tiền tệ Bretton Woods vào đầu thập kỷ 70 của thế kỷ XX trở đi với những biến động và rủi ro, khía cạnh thể chế tác động tới FDI. Không giải thích đƣợc các yếu tố chi phối tình trạng một nƣớc vừa có dòng vốn di chuyển vào, vừa có dòng vốn di chuyển ra, nghĩa là nó không đƣa ra đƣợc sự giải thích đầy đủ về FDI. - Dunning đã đƣa ra “lí thuyết chiết trung” hay mô hình OLI về FDI, theo Dunning hoạt động FDI cần hội tụ đủ ba lợi thế đó là: lợi thế về sở hữu (O - Ownership advantages), về địa điểm (L - Locational advantages) và lợi thế về nội vi hoá (I - Luận án tiến sĩ Kinh tế 7 Internalisation advantages). Những lợi thế đó cho thấy những gì mà nƣớc đầu tƣ thực hiện FDI, những gì mà địa phƣơng tiếp nhận vốn FDI và sự kết hợp giữa hai thứ đó có đƣợc hay không tuỳ thuộc vào lợi thế thứ ba.
Dunning đã kiểm định lí thuyết dựa trên số liệu của các công ty của Mỹ trong 14 ngành công nghiệp tại một số nƣớc [158]. Những nhân tố “đẩy” bắt nguồn từ lợi thế sở hữu và nội vi hoá, còn lợi thế địa điểm tạo ra các nhân tố “kéo” đối với thu hút FDI nhằm CDCCKT. Lợi thế này không cố định mà biến đổi theo thời gian, không gian và sự phát triển. Lợi thế địa điểm và nhân tố “kéo” đã giải thích vì sao luồng vào FDI ở từng nƣớc, từng thời kì là khác nhau và phụ thuộc vào sự chủ động đối với việc thu hút nguồn vốn FDI.
Sự khác nhau này bắt nguồn từ việc các nƣớc này đang ở giai đoạn nào của quá trình phát triển. Lý thuyết này đã định hƣớng về mặt lý luận là cần xác định rõ những nhân tố “kéo” và nhân tố “đẩy” trong thu hút FDI hƣớng vào CDCCKT của VKTTĐBB, từ đó phân tích nguyên nhân để có những định hƣớng và giải pháp. Tuy nhiên, theo tác giả lí thuyết này chƣa giải thích đƣợc vì sao có luồng FDI từ các nƣớc đang phát triển (nghèo vốn) vào các nƣớc phát triển (vốn dồi dào)? - I.Moosa [165] đã phân tích mô hình “chiết trung” của Dunning và đƣa ra các điều kiện ảnh hƣởng đến FDI, với giả định đã có cầu về một loại hàng hóa cụ thể mà một hãng ở trong nƣớc có lợi thế (O), lúc đó chỉ còn yếu tố ảnh hƣởng là (L) và (I): Nếu không đạt đƣợc lợi thế (I) thì hãng sẽ cho phép lợi thế (O) của mình cho một hãng khác, đặc biệt là khi yếu tố địa điểm tạo thuận lợi cho việc mở rộng ra nƣớc ngoài; Nếu có lợi thế (I) và yếu tố địa điểm là thuận lợi cho việc mở rộng trong nƣớc (nội địa hóa) thì hãng sẽ mở rộng trong nƣớc và xuất khẩu; Nếu đạt đƣợc lợi thế (I) và yếu tố địa điểm là thuận lợi cho việc mở rộng ra nƣớc ngoài thì FDI sẽ xảy ra. Có thể nói, trƣờng phái “lý thuyết chiết trung” là mô hình lý thuyết tiêu biểu với sự giải thích tƣơng đối đầy đủ về FDI.
- Lý thuyết về các bƣớc phát triển đầu tƣ (Investment Development Path - IDP) Đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài không tự nhiên chảy vào một nƣớc hay địa phƣơng mà nó phải dựa trên khả năng hấp thụ nguồn vốn FDI của nền kinh tế sở tại. Nhiều yếu tố đầu vào không thể lấy đƣợc từ bên ngoài mà các nƣớc sở tại phải cung cấp nhƣ: các yếu tố hạ tầng nhƣ điện, nƣớc, kĩ năng chuyên môn ngƣời lao động. Vì vậy, những địa phƣơng tiếp nhận vốn FDI phải phát triển trƣớc nhiều lĩnh vực để có thể thu hút FDI. “Các bƣớc phát triển đầu tƣ”[158] đã bàn về khả năng, định hƣớng, cơ cấu, những điều kiện cần và đủ của việc tiếp nhận và hình thái đầu tƣ theo sự phát triển của địa phƣơng tiếp nhận vốn FDI.
Có năm giai đoạn hay những bƣớc mà dòng FDI Luận án tiến sĩ Kinh tế 8 vào một địa phƣơng phải đi với những nỗ lực của địa phƣơng sở tại nhằm hấp thụ đƣợc vốn đầu tƣ. Các địa phƣơng cũng phải giải quyết các vấn đề: đảm bảo công ăn, việc làm trong nƣớc, phải bảo vệ các DN và thị trƣờng nội địa. Thu hút vốn FDI hƣớng vào CDCCKT không thể đƣợc hình thành một cách tuỳ tiện mà cần phải có định hƣớng. Thúc đẩy CDCCKT trên cơ sở tiếp nhận vốn FDI trong quá trình phát triển kinh tế của địa phƣơng sở tại với cơ cấu ngành, nghề trong quan hệ đáp ứng những nhu cầu nội tại và hƣớng ra bên ngoài theo từng bƣớc phát triển đầu tƣ.
Lí thuyết “các bƣớc phát triển đầu tƣ” và “mô hình OLI” cho rằng: các quốc gia, địa phƣơng có lợi thế về địa điểm và các điều kiện thuận lợi khác là nhân tố quan trọng và dễ dàng thu hút vốn đầu tƣ. FDI có ảnh hƣởng tới CCKT trong từng giai đoạn phát triển khác nhau của các địa phƣơng ở nƣớc sở tại. Trong giai đoạn đầu, FDI chủ yếu tập trung vào các ngành khai thác tài nguyên thiên nhiên và các ngành công nghiệp sản xuất thay thế nhập khẩu. Tiếp theo đó, FDI mới chuyển sang các ngành khác.
Đây đƣợc coi là cơ sở lý luận quan trọng cho việc hoạch định chính sách để thu hút vốn FDI nhằm CDCCKT ở VKTTĐBB.Bevan and Saul Estrin đã nghiên cứu ảnh hƣởng của các yếu tố nhƣ: rủi ro của nƣớc sở tại, chi phí đơn vị của lao động, quy mô thị trƣờng và các yếu tố hấp dẫn FDI khác tại các nền kinh tế chuyển đổi ở khu vực Trung và Tây Âu. Kết quả của việc sử dụng mô hình kiểm định là FDI chịu ảnh hƣởng lớn bởi các yếu tố trên, trong đó rủi ro của nƣớc sở tại gồm cả kinh tế và chính trị [152]. - Maitena Duce, Banco de Espana tiến hành nghiên cứu các yếu tố ảnh hƣởng đến FDI ở các nƣớc vùng Đông Nam Tây Âu và khẳng định FDI phụ thuộc vào các yếu tố nhƣ: chính sách của nƣớc nhận đầu tƣ, mức độ hấp dẫn, quy mô của nền kinh tế, nguồn lực quốc gia, mức độ mở cửa đối với thƣơng mại và tiếp cận thị trƣờng quốc tế, chất lƣợng tài chính và cơ sở hạ tầng của nƣớc sở tại [157]. - Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản – JICA trong “Nghiên cứu về chiến lược xúc tiến FDI tại nước Cộng hòa XHCN Việt Nam” đã nghiên cứu xu hƣớng vận động của dòng FDI trên thế giới và khu vực Đông Nam Á.
Báo cáo đã tập trung nghiên cứu đánh giá năng lực cạnh tranh môi trƣờng đầu tƣ của Việt Nam trên cơ sở xem xét một số chính sách đối với một số ngành công nghiệp và đƣa ra một số khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động FDI là chính sách về “xúc tiến đầu tƣ””[38]. - Shaukat Ali, Wei Guo đã nghiên cứu các yếu tố ảnh hƣởng đến FDI vào Trung Quốc là quy mô của thị trƣờng (yếu tố tác động mạnh đến dòng FDI, nhất là đối với các hãng của Mỹ) và giá nhân công rẻ (yếu tố hấp dẫn các hãng đầu tƣ Trung Quốc) [168]. Luận án tiến sĩ Kinh tế 9 - Công trình nghiên cứu: “Implementing industrial ecology? Planning for eco-industrial parks in the USA” của D. Deutz [156] đã cho rằng mặc dù nhận đƣợc sự đồng thuận rộng rãi của vấn đề phát triển bền vững trong các diễn đàn quốc tế nhƣng trên thực tế, việc đạt mục tiêu về kịch bản “win – win – win” (cùng thắng) về các mặt phát triển KT-XH và môi trƣờng vẫn là một vấn đề nan giải.
Các tác giả đề cập tới vấn đề trên trong giai đoạn phát triển các KCN ở Mỹ. Hiện nay, mặc dù tỷ trọng vốn cũng nhƣ các dự án FDI vào các KCN lớn hơn các FIEs ở ngoài KCN và có xu hƣớng tăng. Nhƣng tiếp cận đối với toàn bộ FIE thì vẫn cần phải nghiên cứu tiếp, hơn nữa nếu chỉ lấy nghiên cứu đó làm căn cứ để đánh giá tác động tới CDCCKT đối với VKTTĐBB, với các dự án trong và ngoài các KCN ở các địa phƣơng thì các nghiên cứu trên chƣa thỏa đáng. - Nghiên cứu của Nick J.