CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án 1. Các nghiên cứu về đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) Trong thời gian vừa qua, có rất nhiều các nghiên cứu quốc tế và trong nước về FDI và tác động của FDI tới kinh tế - xã hội của các quốc gia tiếp nhận. Trong đó, nhiều nghiên cứu đã phân tích vai trò của FDI đối với quốc gia tiếp nhận, cũng như những chính sách mà quốc gia đó áp dụng trong việc thu hút và sử dụng dòng vốn FDI này.
Đa số các nghiên cứu đều thừa nhận sự cần thiết của FDI đối với quốc gia tiếp nhận bao gồm vốn, sở hữu công nghệ và trí tuệ, năng lực quản lý, chiến lược tiếp thị và phân phối sản phẩm, tham gia vào chuỗi giá trị và thương mại toàn cầu… Đây là một động lực quan trọng tạo điều kiện cho các quốc gia tiếp nhận phát triển và tăng trưởng kinh tế (OECD, 2008). Có cùng quan điểm, OECD (2008) chỉ ra những lợi ích của nguồn vốn FDI và gợi ý việc chuyển giao công nghệ từ các dự án FDI được thực hiện qua bốn kênh: (i) chuyển giao theo chiều dọc với nhà cung cấp ở nước sở tại; (ii) chuyển giao theo chiều ngang với các đối thủ cạnh tranh hoặc các công ty thuộc ngành phụ trợ; (iii) di chuyển các lao động có tay nghề cao; (iv) quốc tế hóa hoạt động R&D. Về động cơ của FDI, World Bank (2011), Rajan (2004) và nhiều nghiên cứu khác cho thấy có một xu thế chạy đua để thu hút FDI trên toàn thế giới, tuy nhiên các lý do thu hút FDI vào từng quốc gia không giống nhau. Các nghiên cứu cũng đã tổng kết lại một số lý do hấp dẫn FDI chủ yếu bao gồm: (i) tìm kiếm nguồn lực bao gồm cả nguồn tài nguyên thiên nhiên và nguồn lực con người; (ii) tìm kiếm thị trường; (iii) tìm kiếm hiệu quả đầu tư bằng cách giảm chi phí sản xuất, chi phí lao động; (iv) tìm kiếm tài sản chiến lược ở quốc gia tiếp nhận ví dụ công nghệ mới, thương hiệu, các kênh phân phối.
Theo đó, các nghiên cứu gợi ý rằng các quốc gia cần phải dựa trên tiềm lực và lợi thế riêng của mình, để có chính sách thu hút FDI cho phù hợp và hiệu quả. Kojima Kiyoshi (1973), “A Macroeconomic Approach to Foreign Direct Investment” Hitotsubas Journal of Econometrics, 14 (1), pp. Học thuyết đã phân 12 chia FDI thành hai hình thức: FDI định hướng thương mại (Nhật Bản) và FDI chống lại thương mại (Mỹ). Ông cho rằng FDI sẽ thúc đẩy việc nâng cấp cơ cấu công nghiệp của cả hai bên và do đó thúc đẩy thương mại giữa hai nước.
Đồng thời đã chỉ ra mối liên kết giữa FDI và sự tăng trưởng kinh tế, sự vận động của FDI có thể dẫn đến sự mở rộng sản xuất đến điểm cân bằng mới, tuy nhiên FDI, thông qua việc đào tạo và chuyển giao công nghệ, có ảnh hưởng từ từ đối với việc tăng cường năng lực cạnh tranh của ngành công nghiệp đặc thù tại quốc gia sở tại và cuối cùng là nâng cao khả năng sản xuất của ngành công nghiệp đó. Ngoài ra, hình thức FDI theo xu hướng thương mại (Nhật Bản) và ngược lại mục đích thương mại (Mỹ) có thể cùng xuất hiện trong một quốc gia, hoặc trong cùng một ngành.W (1998), “How Does Foreign Direct Investment Affect Economic Growth?”, Journal of International Economics. Nghiên cứu phân tích mô hình mối quan hệ giữa sự tăng trưởng kinh tế với FDI và các nhân tố cơ bản ở các nước đang phát triển. Kết quả phân tích tác giả đề xuất mô hình thực nghiệm: g = c0 + c1FDI + c2FDI*H + c3H + c4Y0 +c5A.
Trong đó: g là TTKT, H là nguồn vốn nhân lực, Y0 là GDP trên đầu người, A là một tập hợp các biến khác ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế (gồm các biến kiểm soát và chính sách thường là các yếu tố quyết định tăng trưởng trong các nghiên cứu xuyên quốc gia, như chi tiêu của chính phủ, chi phí không chính thức, thước đo bất ổn chính trị, lạm phát và thước đo chất lượng của các tổ chức). Biến FDI tính bằng tỷ lệ so với GDP. Đào Thị Bích Thủy (2012), “Tác động của FDI đến tăng trưởng kinh tế trong mô hình nền kinh tế đang phát triển”, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Kinh tế và KD. Nghiên cứu phân tích mô hình sự vận hành của nền kinh tế bao gồm hai khu vực SX là trong nước và nước ngoài với hàm SX Cobb-Douglas, đã cho thấy tầm quan trọng của vốn nhân lực như một nhân tố quyết định sự thành công của FDI đến tăng trưởng kinh tế.
Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra cách thức phân bổ đầu tư sẽ đem lại những kết quả khác nhau. Việc lựa chọn cách thức phân bổ tùy thuộc vào mục tiêu. Nếu mục tiêu của nền kinh tế là tăng trưởng cao thì nên tập trung nguồn lực đầu tư cho vốn nhân lực. Còn nếu mục tiêu là tạo nhiều việc làm cho lao động phổ thông thì nên tập trung nguồn lực đầu tư cho 8 vốn vật chất.
Tuy nhiên, khuôn khổ mô hình nghiên cứu còn hạn chế chưa tính đến tiến trình công nghệ và kênh chuyển giao công nghệ thông qua FDI. Tại Việt Nam, có rất nhiều các nghiên cứu về FDI đã được thực hiện. Trong đó, phần lớn là các nghiên cứu tập trung phân tích tác động của FDI tới tăng trưởng, xuất khẩu và tạo việc làm; thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả thu hút và quản lý FDI ở các giai đoạn và chuyên ngành khác nhau như: Luận án Tiến sĩ của Nguyễn Chí 13 Dũng (1996) “Hoàn thiện cơ chế tổ chức và quản lý hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam”; Luận án Tiến sĩ của Hoàng Văn Huấn (1995) “Hoàn thiện chính sách và giải pháp thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam”; Luận án Tiến sĩ của Đỗ Thị Thủy (2001) “Đầu tư trực tiếp nước ngoài với sự nghiệp CNH-HĐH ở Vệt Nam giai đoạn 1988-2005”. Bên cạnh đó là một số nghiên cứu về chính sách thu hút vốn đầu tư, môi trường đầu tư, luật đầu tư như: Luận án Tiến sĩ của Ngô Thu Hà (2009) “Chính sách thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào Trung Quốc và khả năng vận dụng tại Việt Nam”; Luận án Tiến sĩ của Đỗ Nhất Hoàng (2002) “Sự hình thành và phát triển của Luật Đầu tư nước ngoài trong hệ thống pháp luật Việt Nam”; Luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Ái Liên (2011) “Môi trường đầu tư với hoạt động thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam”.
Phần lớn các nghiên cứu tại Việt Nam đều cho rằng FDI đóng vai trò tích cực đối với tăng trưởng, phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam. Nghiên cứu của Phạm Thị Hoàng Anh & Lê Thu Hà (2012) sử dụng mô hình VAR để phân tích mối quan hệ giữa FDI và tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam chỉ ra rằng FDI có tác động tích cực tới tăng trưởng kinh tế của Việt Nam và ngược lại. FDI góp phần kích thích xuất khẩu, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, công nghệ. Tuy nhiên, bằng cách tiếp cận khác, một số nghiên cứu chỉ ra tác động không rõ nét, tính thiếu bền vững, bản chất hai mặt và những vấn đề kinh tế xã hội nảy sinh của FDI: Nghiên cứu của Trần Minh Tuấn (2010) chỉ ra bên cạnh những đóng góp tích cực, FDI cũng gây ra không ít tác động tiêu cực cho nền kinh tế như: hiện tượng chuyển giá, trốn thuế, nhiều doanh nghiệp có trình độ công nghệ trung bình, thậm chí lạc hậu gây ô nhiễm môi trường.; Luận án Tiến sĩ của Trần Quang Thắng (2012) “Những vấn đề kinh tế xã hội nảy sinh trong đầu tư trực tiếp nước ngoài của một số nước Châu Á và giải pháp cho Việt Nam”, cũng đã đi sâu phân tích tác động tiêu cực và tính khách quan của 9 vấn đề kinh tế xã hội đặc thù nảy sinh liên quan đến FDI.
Trên cơ sở luận giải, luận án đưa ra các giải pháp xử lý, phòng ngừa những vấn đề kinh tế xã hội nảy sinh trong FDI tại Việt Nam đến năm 2020. Thông qua các vấn đề kinh tế xã hội nảy sinh trong thu hút FDI tại Việt Nam giai đoạn 2001-2010, nghiên cứu phần nào làm rõ tính thiếu bền vững nảy sinh từ khu vực này. Nghiên cứu của Nguyễn Thị Kim Nhung (2017) cho rằng FDI cỏ tác động tích cực đến tăng trưởng trong dài hạn, nhưng trong ngắn hạn FDI không có tác động đến tăng trưởng. Trong khi đó, nghiên cứu của Đỗ Thiên Anh Tuấn (2014) chỉ ra rằng tình trạng chuyển giá, trốn thuế, tránh thuế để giảm thiểu nghĩa vụ tài chính của doanh nghiệp FDI rất phổ biến và gây thất thu lớn đối với ngân sách.
14 Đến nay, ở Việt Nam, chỉ có một số nghiên cứu đi sâu xem xét tác động của FDI, chủ yếu tới tăng trưởng: Nghiên cứu “Tác động của FDI tới tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam” trong khuôn khổ Dự án SIDA “Nâng cao năng lực nghiên cứu chính sách để thực hiện chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam thời kỳ 2001-2010” của Nguyễn Thị Tuệ Anh và Cộng sự (2006) cho rằng FDI có mối liên hệ chặt chẽ với tăng trưởng GDP. Các nghiên cứu của Nguyễn Thị Phương Hoa (2011), Freeman (2002), Nguyễn Mại (2003), từ việc nghiên cứu tổng quát FDI tại Việt Nam, trên cơ sở sử dụng phương pháp định tính và dựa vào số liệu thống kê, đều đưa ra kết luận FDI có tác động tích cực tới tăng trường thông qua kênh đầu tư và cải thiện nguồn nhân lực; Lê Xuân Bá (2006), bằng cách tiếp cận hẹp, dựa vào khung khổ phân tích được vận dụng trên thế giới, phân tích tác động của FDI tới tăng trưởng kinh tế thông qua hai kênh quan trọng nhất là vốn đầu tư và các tác động tràn. Kết quả từ việc kết hợp cả hai phương pháp phân tích định tính và định lượng khẳng định FDI đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam. Tuy nhiên, tác động tràn xuất hiện rất hạn chế và chì thông qua hai kênh liên kết sản xuất và cạnh tranh, đồng thời chỉ thể hiện rõ ở doanh nghiệp tư nhân mà không rõ ở doanh nghiệp Nhà nước trong ngành chế biến thực phẩm.