mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn được kết cấu làm 3 chương, bao gồm: Chương ¡: Lý luận chung về năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại. Chương 2: Phân tích năng lực cạnh tranh của ngân hàng TMCP Công Thương VN hiện nay. , Chương 3 : Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng TMCP Công Thương VN đến năm 2015, tầm nhìn 2020. ; CHUONG 1 LY LUAN CHUNG VE NANG LUC CANH TRANH CUA NGAN HANG THUONG MAI 1.
NGAN HANG THUONG MAI VA SAN PHAM CUA NHTM 1. Khải niệm ngân hàng thương mại Trên thế giới hiện nay có rất nhiều khái niệm khác nhau về NHTM tùy thuộc vào lịch sử hình thành và phát triển ngày ngành ngân hàng ở mỗi quốc gia hoặc đánh giá từ những khía cạnh, quan điểm khác nhau. Dưới đây là một số khái niệm theo các cách tiếp cận khác nhau như: * Tai Hoa Ky : Theo cục dự trữ liên bang (FED) định nghĩa NHTM là một tổ chức kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ, chuyên cung cấp các dịch vụ về tài chính khi nhận tiền gui, chuyén tiền, thanh toán, cho vay, đầu tư, đổi tiền, mua bán ngoại hối và các dịch vụ khác liên quan đến tiền như bảo quản. ủy thác, đại lý trong nước và quốc tế.org [25]) * Tại Pháp : Theo đạo luật ngân hang Pháp năm 1941, NHTM là những xi nghiệp hay là cơ sở mà nghề nghiệp thường xuyên là nhận tiền bạc của công chúng dưới những hình thức ủy thác hoặc dưới các hình thức khác và sử dụng số tiền đó cho chính họ trong các nghiệp vụ chiết khấu tín dụng và tài chính.
Dưới tiêu đề “các ngân hàng” gồm có : Các NHTM, chỉ tham gia vào các hoạt động tiền gửi, cho vay ngắn hạn và trung đài hạn; các ngân hàng đầu tư hoạt động buôn bán chứng khoán và bảo lãnh phát hành; các ngân hàng nhà ở cung cấp tài chính cho lĩnh vực phát triển nhà ở và nhiều loại khác nữa. Tại một số nước còn có các ngân hàng tổng hợp kết hợp hoạt động ngân hàng thương mại với ngân hàng đầu tư và đôi khi thực hiện cả dịch vụ bảo hiểm.org [25]) * Tại Việt Nam : Theo Luật các tổ chức tín dụng khoản 2 điều 20 quy định : “Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan, theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng gồm NHTM, ngân hàng phát triển, ngân hàng đầu tư, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác và các loại hình ngân hàng khác”. Trong đó : “Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp được thành lập theo quy định của luật này và các quy định khác của pháp luật để hoạt động kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ ngân hàng với nội dung nhận tiền gửi và sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán”. (nguồn: Luật các tổ chức tín dụng-Luật sửa đổi [5]) Mặc dù có nhiều khái niệm khác nhau về NHTM, nhưng một cách tong quat ta có thê định nghĩa về NHTM như sau : NHTM là một tổ chức kinh tế được thành lập theo quy định của Luật pháp để hoạt động kinh doanh tiền tệ, với hoạt động thường xuyên là nhận tiền gửi của tổ chức và cá nhân trong nền kinh tế và sử dụng tiền này để cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán và tài chính cho tổ chức và cá nhân trong nền kinh tế.
Các sản phẩm và đặc trưng của sản phẩm NHTM 1. Đặc trưng chung của sản phẩm ngân hàng Dịch vụ trong kinh tế học, được hiểu là những thứ tương tự như hàng hoá nhưng là phi vật chất. Có những sản phẩm thiên về sản phâm hữu hình và những sản phẩm thiên hắn về dịch vụ. tuy nhiên đa số những sản phẩm năm trong khoảng giữa sản phẩm hàng hoá - dịch vụ.
Ngân hàng cũng là ngành dịch vụ trong nền kinh tế nên các sản phẩm ngân hàng cũng mang những đặc trưng của các sản phẩm dịch vụ nói chung. Những đặc trưng cơ bản đó là : - Tính vô hình : đây là đặc trưng cơ bản nhất dé phân biệt sản phẩm dịch vụ tài chính với các sản phẩm hàng hóa khác. Các địch vụ tài chính thường là một kinh nghiệm hay một quá trình. Người mua sản phẩm, dịch vụ tài chính thường không nhìn thấy hình thái vật chất cụ thể của loại hình dịch vụ.
Nghĩa là người ta không cầm được nó, không sờ mó được nó. Từ đặc tính này làm cho người mua khó đánh giá chất lượng và so sánh như hàng hóa khác trước khi mua, người ta chỉ có thể cảm nhận với các tiện ích nó mang lại. Do đó các NHTM phải thấy được răng yếu tố cơ ban để khách hàng lựa chọn sản phẩm của mình chính là sự tin tưởng với ngân hàng, từ đó có chiến lược nghiên cứu về khách hàng trong khi mua các sản pham dich vu cua minh. - Sản xuất và phân phối sản phẩm diễn ra đồng thời : chu kỳ một sản pham thường được chia thành 2 giai đoạn đó là tạo ra sản phẩm và tiêu dùng sản phẩm.
Đối với các hàng hóa thông thường đều được sản xuất trước, sau đó được bán cho người tiêu dùng. Ngược lại sản phâm dịch vụ tài chính ngân hàng được bán trước khi sản phẩm, dịch vụ được tạo ra. Sản phẩm được tạo ra khi khách hàng có nhu cầu và đặc biệt khi có sự hiện diện của khách hàng. - Do nhiéu yéu tố cầu thành : một sản phẩm địch vụ tài chính là sự kết hợp bởi nhiều yếu tố bên trong và bên ngoài tổ chức cung cấp.
Yếu tố bên trong tổ chức cung cấp đó là nhân lực, tổ chức bộ máy xử lý và phân phối sản phẩm, tiền vốn, công nghệ; còn yếu tố bên ngoài là người mua và thể chế môi trường. Một sản phẩm dịch vụ tài chính được thực hiện khi hệ thống luật pháp cho phép cũng như các yếu tố môi trường đồng bộ, đồng thời với sự phối hợp đồng bộ các yếu tố bên trong hoạt động NHTM. Nhiều yếu tố cấu thành có thể hiểu đó là sự tham gia của các NHTM định chế tài chính phi ngân hàng trong quá trình thanh toán. Ví dụ như trong thanh toán khi các ngân hàng chưa có mạng lưới rộng khắp hay ứng dụng công nghệ đầy đủ phải thông qua NHTM khác mới thực hiện được, đó cũng là lý do giải thích vì sao phải tăng cường hợp tác giữa các NHTM và NHTM và các định chế phi ngân hàng khác nhau.
- Không ôn định về chất lượng như các ngành khác : do sản phẩm được tạo thành từ nhiều yếu tố, không chỉ những yếu tố bên trong mà cả yếu tố bên ngoài. Yếu tố bên trong phụ thuộc vào năng lực, tâm lý của từng nhân viên. Yếu tố bên ngoài phụ thuộc vào hành vi ứng xử của từng khách hàng, phụ thuộc vào tác động của môi trường trong từng thời kỳ. Điều đó đòi hỏi trước tiên các NHTM phải luôn duy trì ôn định các yếu tố bên trong.
- Dễ bị sao chép : do sản phẩm là một kinh nghiệm hay là một quá trình nên rất dễ bị sao chép. Một sản phẩm dịch vụ tài chính dễ bị sao chép bởi một NHTM khác. Để nâng cao khả năng thu hút khách hàng đòi hỏi các NHTM phải thường xuyên nghiên cứu tạo tính độc đáo cho sản phẩm do ngân hàng cung cấp. Các sản phẩm của NHTM Xuất phát từ một vài sản phẩm cơ bản chủ yếu từ khi mới có NHTM ngày nay các NHTM trên thế giới đã cung cấp cho người tiêu dùng rất nhiều sản phẩm dịch vụ đa dạng phong phú và ngày càng được cải tiễn nâng cao chất lượng cũng như tiện ích.
Có thể nêu tóm tắt một số sản phẩm như sau : * Sản phẩm huy động vốn : Vốn huy động là vốn của các chủ thể khác trong nền kinh tế được ngân hàng tạm thời quản lý, sử dụng kinh doanh trong một thời gian nhất định sau đó sẽ hoàn trả lại cho chủ sở hữu. Đây là nguồn vốn chủ yếu cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng (ngoài vốn tự có), chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng vốn của NHTM. - Các NHTM có thể huy động vốn với các hình thức : nhận tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn của khách hàng thông qua việc mở tài khoản tiền gửi cho khách hàng, phát hành thẻ, nhận tiền gửi tiết kiệm từ các tầng lớp dân cư, phát hành kỳ phiếu. trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi và các loại chứng khoán nợ khác.
- Các NHTM cũng còn huy động bằng cách vay vốn của các tổ chức tín dụng khác, thông thường các NHTM chỉ huy động nguồn này khi không đáp ứng kịp thời nhu cầu thanh khoản hoặc vay từ NHTM qua hình thức chiết khấu, tái chiết khấu giấy tờ có giá, cầm cố thương phiếu và các giấy tờ có giá khác, vay bổ sung vốn thiếu hụt trong thanh toán bù trừ. - Ngoài ra NHTM cũng tận dụng nguồn vốn không phải trả lãi như cung cấp các dịch vụ chi trả kiều hối, dịch vụ thanh toán trong nước, thanh toán quốc té. * Sản phẩm sử dụng vốn : - Nghiệp vụ ngân quỹ : duy trì khả năng thanh khoản thường xuyên của NHTM. Để đáp ứng nhu cầu thanh toán thường xuyên cho khách hàng và nhu cầu khác của ngân hàng, ngoài việc thiết lập dự trữ bắt buộc theo quy định của NHNN, các NHTM còn phải tính toán duy trì dự trữ dưới các hình thức khác chăng hạn : tiền mặt tại quỹ, tiền gửi tại các TCTD khác hoặc các loại chứng khoán có tính thanh khoản cao, có mức độ rủi ro thấp nhất.
Việc tính toán xác định mức dự trữ hợp lý sẽ giúp cho ngân hàng đáp ứng kịp thời nhu cầu thanh toán chi trả cho khách hàng, mặt khác còn giúp cho ngân hang giảm được chi phí sử dụng vốn, tăng lợi nhuận đảm bảo tính hiệu quả cho hoạt động kinh doanh. - Các sản phẩm tín dụng : cấp tín dụng là nhiệm vụ phân phối nguồn vốn còn lại của ngân hàng cho các chủ thể thiếu vốn trong nền kinh tế nhăm mang lại nguồn thu nhập lớn nhất cho ngân hàng, tuy nhiên đây là mảng nghiệp vụ có mức độ rủi ro rất cao. Do đó đòi hỏi NHTM phải tập trung dành nhiều nguồn lực cho việc quản trị rủi ro đối với nhiệm vụ này.