Chương 1: Lý luận chung quản lý nhà nước đối với thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước đối với thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh Chương 3: Định hướng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước đối với thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh 6 HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA Chƣơng 1 LÝ LUẬN CHUNG QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI THU HÚT ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI 1. Lý luận chung đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài 1. Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài Hiện nay, có rất nhiều quan điểm khác nhau về đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Tất cả các quan điểm đều cố gắng khai thác một hoặc một vài khía cạnh của vấn đề nhằm khái quát hóa bản chất, nội dung, hình thức của hoạt động này.
Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đưa ra định nghĩa như sau về FDI: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước có được một tài sản ở một nước khác cùng với quyền quản lý tài sản đó. Phương diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác. Trong phần lớn trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh. Trong những trường hợp đó, nhà đầu tư thường hay đựoc gọi là "công ty mẹ" và các tài sản được gọi là "công ty con" hay "chi nhánh công ty".
Khái niệm do Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) đưa ra năm 1997 đề cập đến khía cạnh khác của FDI là: “số vốn đầu tư được thực hiện để thu được lợi ích lâu dài trong một doanh nghiệp hoạt động ở nền kinh tế khác với nền kinh tế của nhà đầu tư. Mục đích của nhà đầu tư là có được tiếng nói hiệu lực và đạt hiệu quả cao trong quản lý doanh nghiệp”. Khái niệm này cho thấy, sự khác nhau cơ bản giữa đầu tư trực tiếp với đầu tư gián tiếp là mục đích của các nhà đầu tư. Luật đầu tư số 67/2014/QH13 (năm 2014) không đề cập đến khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Song khái niệm này được đề cập trong luật đầu tư nước ngoài năm 1996. Theo đó, “Đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn tiền hoặc bất kì tài sản nào để tiến hành hoạt động đầu theo quy định của Luật này”. 7 HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA Theo giáo trình Kinh tế Đầu tư của trường Đại học Kinh tế Quốc dân do PGS.TS Nguyễn Ngọc Mai làm chủ biên thì “đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI) là vốn của các doanh nghiệp và cá nhân nước ngoài đầu tư sang các nước khác và trực tiếp quản lý hoặc tham gia trực tiếp quản lý quá trình sử dụng và thu hồi số vốn bỏ ra”. Từ những khái niệm nêu trên có thể đưa ra một khái niệm ngắn gọn và tương đối dễ tiếp cận về đầu tư trực tiếp nước ngoài như sau: Đầu tư trực tiếp nước ngoài (Foreign Direct Investmen - FDI) là hoạt động đầu tư do các tổ chức kinh tế và cá nhân nước ngoài tự mình hoặc cùng với các tổ chức kinh tế của nước sở tại bỏ vốn vào một đối tượng nhất định, trực tiếp quản lý và điều hành để thu lợi, được tiến hành thông qua các dự án - gọi là dự án FDI.
Đặc điểm của đầu tư trực tiếp nước ngoài Từ những quan điểm lý thuyết trên, có thể rút ra những đặc điểm về FDI như sau: - FDI là hình thức đầu tư quốc tế chủ yếu mà chủ đầu tư nước ngoài (ĐTNN) đầu tư toàn bộ hay phần đủ lớn vốn đầu tư của các dự án nhằm giành quyền điều hành hoặc tham gia điều hành các doanh nghiệp sản xuất hoặc kinh doanh dịch vụ, thương mại. - Vốn đầu tư không chỉ bao gồm tiền mặt mà có thể dưới dạng máy móc, thiết bị, nhà xưởng, công nghệ, kỹ thuật, dịch vụ… - FDI được thực hiện thông qua việc xây dựng doanh nghiệp mới, mua lại toàn bộ hoặc từng phần doanh nghiệp đang hoạt động hoặc mua cổ phần để thôn tính hoặc sát nhập các doanh nghiệp với nhau. - FDI là hình thức đầu tư chủ yếu có thời hạn dài, vốn của các nhà đầu tư từ quốc gia này đưa sang quốc gia khác nhằm mục tiêu lợi nhuận. 8 HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA - Các chủ ĐTNN phải đóng góp một số vốn tối thiểu theo luật đầu tư của từng nước quy định.
Chủ ĐTNN điều hành toàn bộ mọi hoạt động đầu tư nếu là doanh nghiệp liên doanh thì tùy theo tỷ lệ góp vốn của mình. - Đây là hình thức nhà đầu tư tự bỏ vốn, cùng điều hành nguồn vốn đó theo nhu cầu kinh doanh của mình. Họ sẽ bị lỗ hoặc hưởng lãi vì vậy nước nước nhận đầu tư sẽ không phải tham gia vào các hoạt động đầu tư loại này trừ việc điều hành bằng hành lang pháp lý của mình. - FDI chịu sự chi phối mãnh liệt của quy luật thị trường, vì vậy lợi nhuận là mục tiêu hàng đầu của các nhà đầu tư.
Lợi nhuận của các nhà ĐTNN thu được phụ thuộc vào kết quả hoạt động kinh doanh và được chia theo tỷ lệ góp vốn trong vốn pháp định sau khi nộp thuế cho nước sở tại và trả lợi tức cổ phần (nếu có). - Nguồn vốn FDI không chỉ bao gồm vốn đầu tư ban đầu của chủ dự án đầu tư (DAĐT) dưới hình thức vốn pháp định, mà trong quá trình hoạt động, nó còn bao gồm cả vốn vay của doanh nghiệp để triển khai hoặc mở rộng dự án cũng như vốn đầu tư từ lợi nhuận thu được. Các đặc điểm trên đã tạo một ưu thế chắc chắn FDI hơn những hình thức đầu tư khác, và FDI trên thế giới hiện nay là hình thức đầu tư được quan tâm đặc biệt. Các hình thức của đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI là một hình thức di chuyển vốn quốc tế, trong đó người chủ sở hữu vốn đồng thời là người trực tiếp quản lý, điều hành hoạt động sử dụng vốn.
FDI tồn tại dưới các hình thức sau: - Hình thức công ty hay xí nghiệp liên doanh: Xí nghiệp hay công ty liên doanh được thành lập trên cơ sở hợp đồng liên doanh do các doanh nghiệp nước ngoài và nước chủ nhà cùng góp vốn kinh doanh, lợi nhuận và rủi ro cũng được chia tùy theo tỷ lệ vốn góp của mỗi bên. - Hình thức công ty hay xí nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài: Đây là hình thức các công ty hay xí nghiệp hoàn toàn thuộc quyền sở hữu của tổ chức 9 HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA cá nhân nước ngoài và do bên nước ngoài tự thành lập, tự quản lý và hoàn toàn chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh. Đặc điểm của các công ty này là: + Được thành lập dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn và là một pháp nhân mới ở nước nhận đầu tư. + Hoạt động dưới sự chi phối của Luật pháp nước nhận đầu tư - Hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh: Đây là một văn bản được ký kết giữa một chủ ĐTNN và một chủ đầu tư trong nước (nước nhận đầu tư) để tiến hành một hay nhiều hoạt động sản xuất kinh doanh ở nước chủ nhà trên cơ sở quy định về trách nhiệm và phân phối kết quả kinh doanh mà không thành lập một công ty, xí nghiệp hay không ra đời một tư cách pháp nhân mới nào.
Hình thức FDI này có đặc điểm: + Cả hai bên cùng hợp tác kinh doanh trên cơ sở văn bản hợp đồng đã ký kết giữa các bên về sự phân định trách nhiệm, quyền lợi và nghĩa vụ. + Không thành lập một pháp nhân mới, tức là không cho ra đời một công ty mới. + Thời hạn của hợp đồng hợp tác kinh doanh do hai bên thoả thuận, phù hợp với tính chất hoạt động kinh doanh và sự cần thiết để hoàn thành mục tiêu của hợp đồng. Vấn đề vốn kinh doanh không nhất thiết phải được đề cập trong văn bản hợp đồng hợp tác kinh doanh.
- Các hình thức khác: Đầu tư vào các khu chế xuất, khu phát triển kinh tế, thực hiện những hợp đồng xây dựng - vận hành - chuyển giao (BOT), hợp đồng xây dựng – chuyển giao – kinh doanh (BTO), hợp đồng xây dựng – chuyển giao (BT). Những dự án BOT thường được chính phủ các nước đang phát triển tạo mọi điều kiện thuận lợi để thực hiện việc nâng cấp cơ sở hạ tầng kinh tế. 10 HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA 1. Vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài 1.
Đối với nhà đầu tư Thứ nhất, nhà đầu tư có thể tận dụng được lợi thế so sánh của nước nhận đầu tư. Trên thực tế các nhà đầu tư nhận thấy tỷ suất lợi nhuận đầu tư ở trong nước có xu hướng ngày càng giảm, kèm theo hiện tượng thừa tương đối tư bản. Bằng cách đầu tư ra nước ngoài, họ tận dụng được lợi thế về chi phí sản xuất thấp của nước nhận đầu tư. Điển hình như các nước nhận đầu tư có chi phí nhân công rẻ, chi phí khai thác nguyên vật liệu tại chỗ thấp bởi các quốc gia này là các nước đang phát triển.
Thêm vào đó, những nước này này thường có nguồn tài nguyên phong phú, nhưng do có hạn chế về vốn và công nghệ nên các lợi thế còn chưa được khai thác, tiềm năng còn rất lớn. Việc tận dụng các lợi thế như vậy cho phép nhà đầu tư hạ giá thành sản phẩm, giảm chi phí vận chuyển đối với việc sản xuất hàng thay thế nhập khẩu của nước nhận đầu tư, nhờ đó mà nâng cao hiệu quả của vốn đầu tư. Khi đầu tư ra nước ngoài, nhà đầu tư sẽ tìm kiếm được các cơ hội đầu tư có ưu thế và tiềm năng tại nước sở tại. Không chỉ vậy, các sản phẩm của nhà đầu tư được bán trên thị trường nước sở tại sẽ tăng thêm thương hiệu, tăng khả năng cạnh tranh đối với những nước còn lại.
Thứ hai, kéo dài chu kỳ sống của sản phẩm thông qua chuyển giao công nghệ. Thông qua đầu tư trực tiếp, các công ty của các nước phát triển chuyển được một phần các sản phẩm công nghiệp (phần lớn là các máy móc thiết bị) ở giai đoạn cuối của chu kỳ sống sang nước nhận đầu tư. Nhờ đó, các sản phẩm này tiếp tục duy trì được việc sử dụng và tạo thêm lợi nhuận cho các nhà đầu tư.