chương 1 Trong chương này luận án đã hệ thống hóa được các vấn đề về quản lý nhà nước đối với các KCN thông qua các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước dưới hai nhóm vấn đề: các công trình nghiên cứu lý luận; các công trình nghiên cứu thực trạng và giải pháp quản lý nhà nước đối với các KCN, đồng thời xác định được “khoảng trống” nghiên cứu mà luận án cần hướng tới nhằm hoàn thiện quản lý nhà nước về các KCN trên địa bàn Hà Nội cụ thể như sau: Các công trình khoa học như trình bày ở trên là cơ sở quan trọng để nghiên cứu sinh kế thừa cho nghiên cứu của mình. Nhóm các công trình nghiên cứu ở nước ngoài chủ yếu tiếp cận lý luận và thực tiễn hoạt động của các KCN như một hoạt động kinh tế đơn thuần với những thách thức về: năng lực cạnh tranh, phát triển bền vững, thu hút nhà đầu tư xây dựng hạ tầng, liên kết vùng…. Nhóm các công trình nghiên cứu trong nước, tuy đã có khá nhiều công trình nghiên cứu trên những khía cạnh khác nhau như: khái niệm, mô hình quản lý các KCN, tác động chính sách, các nghiên cứu về vấn đề ô nhiễm môi trường tại các KCN, các nghiên cứu về quy hoạch các KCN…, nhưng chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện, sâu sắc, hệ thống hóa lý luận và tổng kết thực tiễn về quản lý nhà nước đối với các KCN theo khung lý thuyết của Khoa học quản lý với các chức năng: hoạch định, tổ chức chỉ đạo, kiểm tra kiểm soát và điều chỉnh. Đặc biệt việc nghiên cứu thực trạng và đưa ra các giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước đối với các KCN trên địa bàn Hà Nội.
Tác giả luận án cho rằng đây là những “khoảng trống” khoa học mà luận án này tập trung nghiên cứu, làm rõ dưới góc độ quản lý nhà nước. Do vậy, nghiên cứu sinh đã quyết định lựa chọn đề tài này để nghiên cứu trong Luận án. Những nội dung luận án tiếp tục bổ sung, nghiên cứu đó là: - Xây dựng và bổ sung khung lý thuyết về quản lý nhà nước đối với các khu công nghiệp; 17 - Luận giải, làm rõ các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước đối với các KCN và nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế, trong nước đối với các KCN và rút ra bài học kinh nghiệm cho Hà Nội; - Đánh giá đúng thực trạng quản lý nhà nước đối với các KCN trên địa bàn thành phố Hà Nội thời gian qua, từ đó chỉ rõ ra những tồn tại, nguyên nhân và những vấn đề cần giải quyết trong thời gian tới; - Đề xuất các quan điểm và các giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện quản lý nhà nước đối với các KCN trên địa bàn thành phố Hà Nội đến năm 2020, tầm nhìn 2030. 18 Chương 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC KHU CÔNG NGHIỆP 2.
Những vấn đề chung về khu công nghiệp 2. Khái niệm, phân loại khu công nghiệp * Khái niệm về KCN Theo thuật ngữ tiếng Anh, KCN có thể được dùng là Idustrial estates, industrial zone (IZ), export processing zone (EPZ) hay industrial park (IP). Đây là những khái niệm đã trở lên khá phổ biến ở nhiều nước trên thế giới. Các KCN được thành lập ở nhiều nước nhằm thực hiện mục tiêu thu hút vốn, công nghệ và kinh nghiệm quản lý từ bên ngoài và thực hiện đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa đất nước, hướng về xuất khẩu.
Khái niệm cụ thể về KCN ở một số nước như sau: Ở Philipine, theo luật về các KKT đặc biệt 1995, KCN được định nghĩa như sau: “KCN là một khu đất được chia nhỏ và xây dựng căn cứ vào một qui hoạch toàn diện dưới sự quản lý liên tục thống nhất và với các qui định đối với cơ sở hạ tầng cơ bản và các tiện ích khác, có hay không có các nhà xưởng tiêu chuẩn và các tiện ích công cộng được xây dựng sẵn cho việc sử dụng chung trong KCN” [35]. - Trong khi đó ở Inđônêxia, theo sắc lệnh của Tổng thống Cộng hòa Inđônêxia số 98/1993 thì KCN được định nghĩa: “là khu vực tập trung các hoạt động chế tạo công nghiệp có đầy đủ cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất và các phương tiện hỗ trợ khác do công ty KCN cung cấp và quản lý”. Ở đây, “Công ty KCN là các công ty có tư cách pháp nhân được thành lập theo luật của Inđônêxia và ở trên lãnh thổ Inđônêxia, với chức năng quản lý nhà nước các KCN” [35]. Còn ở Thái Lan, đạo luật Cục KCN năm 1979 định nghĩa: “KCN có nghĩa là KCN nói chung hoặc KCX”, trong đó: “KCN nói chung” có nghĩa là diện tích được dùng vào sản xuất công nghiệp và các công việc khác liên quan đến sản xuất công nghiệ [35].
19 Từ các khái niệm ở trên có thể thấy quan niệm về KCN giữa các nước cũng không đồng nhất, nhưng thường được hiểu là một khu đất được phân chia và phát triển có hệ thống theo một kế hoạch tổng thể nhằm cung cấp địa điểm cho các ngành công nghiệp tương hợp với hạ tầng cơ sở, các tiện ích công cộng, các dịch vụ phục vụ và hỗ trợ. Theo Nghị định số 29/2008/NĐ-CP ngày 14/3/2008 của Chính phủ VN quy định về KCN, KCX và KKT thì KCN là: “Khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục quy định tại Nghị định này”. Nghị định 29/2008/NĐ-CP cũng qui định một số khái niệm khác bao gồm: - Diện tích đất công nghiệp là diện tích đất của KCN đã xây dựng kết cấu hạ tầng để cho nhà đầu tư thuê, thuê lại thực hiện dự án đầu tư sản xuất, kinh doanh trong KCN. - Doanh nghiệp chế xuất là doanh nghiệp được thành lập và hoạt động trong KCX hoặc doanh nghiệp xuất khẩu toàn bộ sản phẩm hoạt động trong KCN, KKT.
- Quy hoạch tổng thể phát triển KCN, KKT trên phạm vi cả nước là quy hoạch được lập và phê duyệt theo quy định của pháp luật về lập, phê duyệt và quản lý quy hoạch tổng thể phát triển KTXH. Có thể phân loại KCN nằm trong phạm vi, đối tượng điều tiết của Nghị định 29/2008/NĐ-CP thành hai nhóm chính như sau: Nhóm 1: Các KCN mang tính truyền thống, được thành lập một cách phổ biến ở Việt Nam (hiện nay có trên 200 khu). Các KCN này có những đặc điểm chung như sau: - Là khu vực được quy hoạch mang tính liên vùng, liên lãnh thổ và có phạm vi ảnh hưởng không chỉ ở một khu vực địa phương. - Là khu vực được kinh doanh bởi công ty đầu tư cơ sở hạ tầng (công ty phát triển hạ tầng KCN, công ty dịch vụ KCN.
Công ty này có trách nhiệm bảo đảm hạ tầng kỹ thuật và xã hội của cả khu trong suốt thời gian tồn tại. - Trong KCN có thể có hoặc không có dân cư sinh sống, nhưng ngoài KCN phải có hệ thống dịch vụ phục vụ nguồn nhân lực làm việc ở KCN. 20 - Là khu vực được quy hoạch riêng để thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước để thực hiện sản xuất và chế biến sản phẩm công nghiệp cũng như các hoạt động hỗ trợ, dịch vụ cho sản xuất công nghiệp. - Sản phẩm của các doanh nghiệp trong KCN có thể tiêu thụ trong nước hoặc bán ra nước ngoài.
Nhóm 2: Khu chế xuất (ở Việt Nam hiện có 3 KCX là: Tân Thuận, Linh Trung 1 và Linh Trung 2). Theo Nghị định 29/2008/NĐ-CP, KCX là KCN chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện dịch vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục áp dụng đối với KCN. Ngoài những đặc điểm chung giống như các KCN truyền thống, các KCX còn có một số đặc điểm riêng, đó là: Được ngăn cách với lãnh thổ bên ngoài bằng hệ thống tường rào, có cổng và cửa ra, vào, bảo đảm điều kiện cho sự kiểm soát của Hải quan và các cơ quan chức năng có liên quan; Thủ tục hải quan, kiểm tra và giám sát hải quan đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu của KCX, doanh nghiệp chế xuất thực hiện theo pháp luật về hải quan. Quan hệ trao đổi hàng hóa giữa các KCX, doanh nghiệp chế xuất với các khu vực khác trên lãnh thổ Việt Nam, trừ khu phi thuế quan, là quan hệ xuất, nhập khẩu.
Các doanh nghiệp trong KCX được hưởng những ưu đãi đặc biệt về các loại thuế như: miễn thuế xuất, nhập khẩu, miễn thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, được hưởng thuế thu nhập doanh nghiệp ở mức ưu đãi và không phải chịu thuế chuyển lợi nhuận về nước. Từ việc nghiên cứu các khái niệm trên, theo tác giả Luận án thống nhất quan niệm, KCN là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục quy định của Chính phủ. KCN là đối tượng đặc thù của quản lý nhà nước về kinh tế trong các giai đoạn phát triển với các đặc điểm về mục tiêu thành lập, giới hạn hoạt động tập trung vào công nghiệp, ranh giới địa lý và thẩm quyền ra quyết định thành lập. Vai trò của khu công nghiệp đối với nền kinh tế Các KCN có vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển của nền kinh tế quốc dân, nhất là các nước đang phát triển thì việc phát triển các KCN đã tạo ra được cơ hội phát triển công nghiệp và thực hiện công nghiệp hóa rút ngắn bởi có thể kết hợp và học tập được những thành tựu mới nhất về khoa học công nghệ, về tổ chức và quản lý doanh nghiệp, đồng thời tranh thủ được nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài để phát triển.
Thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước để phát triển nền kinh tế KCN với đặc điểm là nơi được đầu tư cơ sở hạ tầng hoàn chỉnh, đồng bộ, hiện đại và thu hút các nhà đầu tư cùng đầu tư trên một vùng không gian lãnh thổ do vậy đó là nơi tập trung và kết hợp sức mạnh nguồn vốn trong và ngoài nước.