Chương 1: Nhân tổ thúc đây sự hình thành và phát triển KCN ở Hà Nội. Chương 2: Quá trình hình thành và phát triển KCN ở Hà Nội (1995-2008) Chương 3: Một số vấn đề đặt ra và kiến nghị giải pháp trong việc phát triển bền vững KCN trên địa bàn Hà Nội. NHÂN TO THÚC DAY SỰ HÌNH THÀNH VA PHÁT TRIEN KHU CÔNG NGHIỆP O HÀ NỘI.1 Hiểu biết chung về KCN 1.1 Định nghĩa KCN Ở mỗi nước trên thế giới, do điều kiện kinh tế - xã hội và trình độ phát triển nền sản xuất công nghiệp là khác nhau nên dẫn đến sự khác biệt về mục đích hình thành cũng như chức năng, nhiệm vụ của KCN ở mỗi nước, từ đó dẫn đến những quan điểm, cách hiểu khác nhau về KCN. Dé việc nhìn nhận khái quát và đầy đủ, luận án đưa ra những khái niệm về KCN của các tô chức kinh tế quốc tế, ở các nước phát triển và đang phát triển, trong đó có Việt Nam.
e Khái niệm về KCN của các tổ chức kinh tế quốc tế. Các chuyên gia của tổ chức phát triển công nghiệp Liên hợp quốc (UNIDO) đưa ra khái niệm về KCN tổng hợp như sau: “KCN tong hop là khu vực chuyên sản xuất hàng hóa và thực hiện các hoạt động dịch vụ, kê cả dịch vụ sản xuất công nghiệp, dịch vụ sinh hoạt, vui chơi giải trí, khu thương mại, văn phòng, nhà ở. có ranh giới địa lý xác định, gồm những khu vực dành cho công nghiệp, các dịch vụ liên quan, thương mại và dân cư. Khu vực công nghiệp có thé là KCN, KCX, KCNC.
° Các khái niệm về KCNở các nước công nghiệp phát triển Các nước công nghiệp phát triển quan niệm rằng, KCN được hình thành và phát triển nhằm mục đích cực đại hóa lợi nhuận và cực tiêu hóa chi phí, nói cách khác đó là sự lợi dụng quy luật kinh tế lợi ích nhờ quy mô. Các nhà tư bản cho rằng, việc phân bố và hình thành công nghiệp phải tập trung vào một khu vực nhất định. Nói chung, KCN được họ hiểu là những khu vực được xây dựng và phân thành những phần nhỏ hơn theo một quy hoạch toàn diện nhăm cung cấp những điều kiện thuận lợi về giao thông vận tải, viễn thông, điện, nước và những dịch vụ khác.cho một nhóm các doanh nghiệp công nghiệp. Như vậy, các nhà hoạch định chính sách phương Tây không đưa ra nhiều khái niệm, định nghĩa về KCN có tính chất khoa học, mà họ định nghĩa về KCN gắn liền với những hình thái thực tiễn của tô chức lãnh thổ sản xuất công nghiệp, nhấn mạnh nhiều đến tính hiệu quả kinh tế của quá trình hình thành một KCN.
° Khái niệm về KCN ở Việt Nam Ở Việt Nam, mô hình KCN xuất hiện vào cuối năm 1994 và phát triển qua từng giai đoạn. Bởi Việt Nam tiến hành phát triển công nghiệp, thực hiện quá trình công nghiệp hóa và hội nhập kinh tế quốc tế tương đối muộn so với các nước trong khu vực và trên thế giới. Do đó, sự hình thành và phát triển KCN ở Việt Nam có điều kiện thuận lợi để học hỏi và kế thừa các kinh nghiệm của những nước đi trước. Trên cơ sở đó nghị định số 36/CP ngày 24/4/1997 đã đưa ra khái niệm về KCN cũng như các dạng mô hình của nó như sau: “Khu công nghiệp là khu tập trung các doanh nghiệp sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, không có cư dân sinh sống, do Chính Phủ hoặc Thủ tướng Chính Phủ quyết định thành lập.
Trong KCN có thể có doanh nghiệp chế xuất”. Một là, khu vực được nhà nước cho phép chính thức thành lập, tập trung tương đối nhiều doanh nghiệp công nghiệp nằm trong khu vực địa lý có ranh giới rõ ràng và sử dụng chung hạ tầng cơ sở - dịch vụ. Sự tập trung trên một khu vực địa lý và sử dụng chung cơ sở hạ tầng này cho phép các doanh nghiệp tiết kiệm chi phí sản xuất nhằm hạ giá thành sản phâm một cách tối đa. Hai là, các doanh nghiệp trong KCN thường được hưởng một quy chế riêng của nhà nước và của địa phương sở tại.
Các quy chế nay thé hiện sự quan tâm, ưu đãi, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp hoạt động. Ba là, KCN có Ban quản lý thống nhất nhăm thực hiện các chính sách tạo điều kiện cho các doanh nghiệp công nghiệp hoạt động. Bốn là, KCN thường có giới hạn địa lý hẹp, khoảng vài chục đến vài trăm ha và có thê được ngăn cách với xung quanh bởi hàng rào và không có cư dan sinh sống trong KCN. Năm là, hoạt động chính của các doanh nghiệp công nghiệp trong KCN là hoạt động sản xuất công nghiệp và trong nhiều trường hợp chúng có tính chất hướng ngoại.2 Các dạng thức của khu công nghiệp - KCX + Định nghĩa của Hiệp hội các KCX thé giới (WEPZA): Theo điều lệ hoạt động của WEPZA, KCX bao gồm tất cả các khu vực được Chính phủ các nước cho phép như cảng tự do, mậu dịch tự do, KCN tự do hoặc bất kỳ khu vực ngoại thương hoặc khu vực khác được WEPZA công nhận.
Định nghĩa này về cơ bản đồng nhất KCX với khu vực miễn thuế. + Định nghĩa của Tổ chức phát triển công nghiệp Liên Hợp Quốc (UNIDO): Là khu vực được giới hạn về hành chính, có ranh giới địa lý xác định, được hưởng một chế độ thuế quan cho phép tự do nhập trang bị và sản pham nhằm mục đích sản xuất sản phẩm xuất khâu. Chế độ thuế quan được ban hành cùng với những quy định luật pháp ưu đãi, chủ yếu về thuế nhằm thu hút nước ngoài. + Định nghĩa của Việt Nam: Theo quy chế KCN, KCX, KCNC, ban hanh kém theo nghi dinh 36/CP ngay 24/4/1997: KCX la khu chuyén san xuất hàng xuất khẩu, thực hiện các dịch vụ cho hàng xuất khâu và hoạt 10 động xuất khâu, có ranh giới địa lý xác định, không có cư dân sinh sống, do Chính Phủ hoặc Thủ Tướng Chính Phủ quyết định thành lập.
- KCN và KCNC Hiện nay trên thế giới chưa có định nghĩa thống nhất về KCNC. Tùy theo quan điểm của mỗi nước hoặc mỗi chuyên gia người ta đưa ra những định nghĩa rất khác nhau về mặt ngôn từ nhưng về nội dung thì cơ bản có sự thống nhất tương đối cao. Từ những kết quả gần đây và Theo quy chế KCN, KCX, KCNC, ban hành kèm theo nghị định 36/CP ngày 24/4/1997: KCNC là khu tập trung các doanh nghiệp, xí nghiệp công nghiệp kỹ thuật cao và các tô chức hoạt động phục vụ phát triển công nghệ cao gồm nghiên cứu khoa học, triển khai công nghệ, đào tạo và các dịch vụ liên quan có ranh giới địa lý xác định, do Chính Phủ hoặc Thủ Tướng Chính Phủ quyết định thành lập. + KCNC có những đặc thù chính sau đây: Về chức năng: Uom tạo công nghệ, bao gồm: chuyên giao, tiếp thu, thích nghi, cải tiến và hướng tới sảng tạo công nghệ cao.
Sản xuất công nghiệp, công nghệ cao Huấn luyện, đào tạo nhân lực công nghệ cao cho cả sản xuất và nghiên cứu. Dịch vụ thương mại các sản pham cong nghé cao Tao môi trường sinh hoạt, sống, làm việc, vui chơi, giải trí, kích thích năng lực sáng tạo công nghệ. Bên cạnh hai chức năng chính là sản xuất công nghiệp công nghệ cao và nghiên cứu triển khai, đào tạo huấn luyện thì trong KCNC còn có các chức năng khác như: dịch vụ, kinh doanh và nhà ở nham tạo môi trường thuận lợi 1] cho các nhà nghiên cứu, nhà doanh nghiệp đến sống, làm việc, sáng tạo và nghỉ ngơi. Về tổ chức: KCNC có các đơn vị thành phần sau: Các đơn vị nghiên cứu - triển khai: Viện, phòng nghiên cứu, trung tâm nghiên cứu, phòng thí nghiệm công nghệ cao.
Các xí nghiệp công nghiệp công nghệ kỹ thuật cao. Học viện kỹ thuật, trung tâm đào tạo nguồn nhân lực cho KCNC. Doanh nghiệp, công ty phát triển cơ sở hạ tầng. Các trung tâm tư van dịch vụ thương mại và chuyền giao công nghệ Các đơn vị quản lý nhà ở, công viên, thể thao, văn hóa, triển lãm KHCN.
KCNC là môi trường thuận lợi nhăm thực hiện các mục tiêu đặt ra là: - Tạo môi trường hấp dẫn, thu hút đầu tư trong nước và nước ngoài cho các ngành sản xuất công nghiệp công nghệ cao. - Uom tạo công nghệ mới, thông qua chuyên giao công nghệ, thích nghỉ và cải tiến công nghệ, góp phần nâng cao trình độ công nghệ và năng lực nội sinh về khoa học công nghệ mỗi quốc gia. - Phát triển ngành công nghiệp, công nghệ cao, sản xuất các sản phẩm dựa trên công nghệ cao, mang lại hiệu quả kinh tế lớn. - Thu hút nguồn nhân lực KHCN phục vụ phát triển công nghệ cao (chuyên gia, các nhà khoa học, các nhà công nghệ trong nước và nước ngoài.) Khi đáp ứng được các mục tiêu nêu trên, KCNC sẽ trở thành một nhân tố quan trọng góp phần tăng trưởng GDP, góp phần thúc đây giá trị gia tăng của các ngành công nghiệp khác, nâng cao trình độ khoa học công nghệ của đất nước, tạo cơ sở thúc đây nhiều ngành công nghiệp phát triển nhờ chức năng là hội tụ những thành tựu công nghệ mới.
12 Từ đó chúng ta thấy, KCN là một khái niệm bao trùm hơn, ham chứa ca khái nệm KCX va KCNC, tuy nhiên do những đặc điểm khác biệt của chúng, nên luận văn chủ yếu giới hạn tập trung nghiên cứu KCN.1 Sự khác biệt giữa KCN, KCNC và KCX Khác | Khu công nghiệp Khu công nghệ cao Khu chế xuất biệt Mục |Nhằm thu hút các |- Ươm tạo công nghệ |Nhằm thu hút đầu tư tiêu | doanh nghiệp sản xuất | mới. của nước ngoài thành | công nghiệp và dịch vụ|- Thu hút đầu tư lập sản xuất công nghiệp trong nước va nước cả trong nước và nước ngoài cho các ngành ngoài với mọi cấp độ sản xuất công nghiệp công nghệ cao. - Nghiên cứu - triển khai, dao tạo, huấn luyện. Quy | Nhỏ hơn KCNC Quy mô lớn, thường mô từ 1000ha trở lên, trong KCNC có KCN Tô - Chỉ có các doanh |- Các đơn vị nghiên | Chỉ gồm doanh chức | nghiệp sản xuất công cứu — triển khai.
nghiệp sản xuất và trong | nghiệp và dịch vụ sản | - Các học viện, trung | dich vụ sản xuất khu xuất công nghiệp. tâm đào tạo nguồn hàng xuất khẩu - Là khu đóng, có nhân lực. tường rào bao quanh. - Các trung tâm tư Không có cư dân sinh van, dich vụ thuong sông.
mai va chuyén gia công nghệ.