Chương 1: Tổng quan về tín dụng ngân hàng đối với phát triển kinh tế vườn. Chương 2: Thực trạng hoạt động tín dụng đối với phát triển kinh tế vườn của Agribank Chi nhánh tỉnh Bến Tre. Chương 3: Giải pháp mở rộng tín dụng của Agribank Chi nhánh tỉnh Bến Tre đối với phát triển kinh tế vườn. 1 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ VƢỜN 1.
Cơ sở lý thuyết về kinh tế vƣờn 1. Khái niệm kinh tế vƣờn “Kinh tế vườn là một bộ phận của kinh tế nông nghiệp, có chức năng vận dụng các quy luật để tối ưu hóa việc sử dụng các nguồn lực vào sản suất, nhằm tạo ra sản lượng và lợi nhuận tối đa, môi trường sinh thái bền vững, hình thành một không gian kinh tế-xã hội giàu đẹp, văn minh” (Phan Văn Nhẫn 2014, trang 9). Từ khái niệm trên, nhận thấy kinh tế vườn là một bộ phận kinh tế nông nghiệp lấy việc trồng trọt làm hoạt động chính nhằm đạt được hệ số hữu ích cao, đa diện so với sự hao phí của sản xuất. Để có môi trường sinh thái bền vững, tạo ra một sản phẩm có chất lượng cao, là nguồn thu nhập bền vững thì người nông dân phải biết huy động tối đa các nguồn lực phù hợp để đầu tư vào sản xuất (bên trong, bên ngoài).
Thực tiễn sản xuất, hệ thống cây trồng trong vườn và giữa cây trồng với các yếu tố của sản xuất không tồn tại biệt lập mà luôn tác động qua lại nhau, phụ thuộc vào nhau. Cùng với sự tiến bộ của khoa học công nghệ người nông dân đã biết sử dụng tài nguyên đất, phương pháp, áp dụng kỹ thuật canh tác,. sao cho hợp lý nhất, phù hợp với điều kiện tự nhiên của vùng đất, đảm bảo sự phát triển bền vững của nông nghiệp và trở thành ngành sản xuất quan trọng ở tỉnh Bến Tre sau này. Ngoài ra, làm kinh tế vườn không chỉ để đạt được lợi nhuận tối đa mà còn phải giữ một môi trường sinh thái bền vững, đa dạng về mặt sinh học trong một quần thể với những khu vườn xanh và một không gian kinh tế-xã hội giàu đẹp, văn minh, là cơ hội để người nông dân, các tổ chức chung tay nghiên cứu và nhân rộng hơn trong tương lai.
Đặc điểm kinh tế vƣờn Kinh tế vườn nước ta là một kiểu vườn nhiệt đới: ở Việt Nam, theo Dương Hồng Dật (2000, trang 20) thì “kinh tế vườn là một kiểu vườn nhiệt đới hỗn loài”. Các tỉnh đồng bằng và miền núi phía Bắc có các loại cây ăn trái đặc thù của vùng ôn đới; trong khi các tỉnh miền Nam, đặc biệt là ở Bến Tre có những loại trái cây mang tính đặc sản của vườn nhiệt đới. Có thể nói, kinh tế vườn ở nước ta là nơi tập hợp nhiều nhất các loại cây trồng, tạo nên thảm thực vật che phủ quanh năm và theo đó là nhiều “tầng” kinh tế với những đặc sản quý hiếm và riêng có ở Việt Nam. Lĩnh vực kinh tế truyền thống với kỹ thuật thâm canh cao: trải qua hàng nghìn năm khai phá, nghề làm vườn cũng trở thành một trong những nghề truyền thống và ăn sâu vào đời sống vật chất lẫn văn hóa tinh thần của dân tộc.
Có thể nói người Việt Nam đã mang trong mình cái “nghiệp” làm vườn nên họ đi đến đâu, vườn phát triển đến đó, sản phẩm của vườn không chỉ có trái cây mà còn những hàng hóa thủ công mỹ nghệ, thậm chí còn được dùng làm lễ vật, cống phẩm. Là lĩnh vực kinh tế truyền thống, ngày nay để phát triển kinh tế vườn đòi hỏi người dân cần biết và nhận thức đúng đắn các quy luật, quy trình sản xuất; áp dụng những tiến bộ của khoa học kỹ thuật, đòi hỏi người nông dân phải nâng cao hơn nữa về mặt trình độ để có thể tiếp thu và nắm vững công nghệ mới. Thực tiễn sản xuất đã chỉ ra rằng kỹ thuật, công nghệ làm vườn có ảnh hưởng rất lớn đến năng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất kinh doanh như: kỹ thuật lai tạo giống, trồng và chăm sóc cây, ra hoa trái vụ, công nghệ bảo quản hàng nông sản. Nếu là vườn kinh doanh tổng hợp thì đối tượng lao động rất đa dạng và cần có sự kết hợp hài hòa giữa các đối tượng để hình thành một cơ cấu sản xuất hợp lý, hiệu quả, đòi hỏi người làm vườn phải có kiến thức và kỹ thuật thâm canh cao.
Phương thức làm vườn linh hoạt: xuất phát từ những điều kiện thuận lợi về đất đai, khí hậu, thời tiết,. nên phương thức làm vườn ở nước ta cũng rất linh hoạt nhằm đáp ứng nhu cầu của thị trường hoặc để giảm thiểu rủi ro do thiên tai, dịch bệnh,. Hình thành những vùng chuyên canh bởi nhiều nông hộ liên kết với nhau cùng trồng một loại cây nào đó; hoặc chuyên canh một vài loại cây ăn trái trên 3 nền vườn đa canh. Nét đặc thù của kinh tế vườn nước ta là kinh doanh tổng hợp, tạo ra nhiều tầng sinh thái trong một không gian thích hợp như một số mô hình: vườn kết hợp với nuôi trồng thủy sản và chăn nuôi; vườn trồng cây ăn trái kết hợp với hoa kiểng, cây cảnh; làm vườn kết hợp với du lịch, sản xuất hàng hóa tiểu thủ công mỹ nghệ,.
Đây cũng là đặc điểm riêng và hoàn toàn khác với phương thức làm vườn của các nước châu Âu, Nam Mỹ (vườn chuyên canh nho, táo,. Nhiều đặc sản là hàng hóa riêng có của vùng, địa phương: nước ta chia thành nhiều khu vực khác nhau về điều hiện tự nhiên, đất đai, khí hậu nên mỗi địa phương, mỗi vùng miền có thể trồng những loại cây trái khác nhau. Quá trình phát triển với những điều kiện đặc thù của địa phương đã tạo nên những đặc sản gắn liền với tên của vùng miền, tỉnh thành, địa phương đó,… như vải thiều Thanh Hà (Hải Hưng); nhãn lồng Hưng Yên; nho Ninh Thuận; thanh long Bình Thuận; khóm Bến Lức (Long An); vú sữa Lò Rèn (Vĩnh Kim), xoài cát Hòa Lộc (Tiền Giang); quýt hồng Lai Vung (Đồng Tháp); dừa, sầu riêng Chín Hóa, bưởi da xanh (Bến Tre);… Là địa bàn sản xuất và sinh hoạt của cộng đồng dân cư nông thôn: vườn không chỉ là nơi trồng trọt cây trái, cung cấp nguồn nguyên liệu, giữ cho môi trường sinh thái trong lành,… mà còn là nơi sinh sống, tổ chức sản xuất, sinh hoạt của đại đa số cư dân nông thôn. Trong quá trình phát triển, nhiều khu dân cư đã trở thành thị trấn, thị tứ, làm cho sự tác động qua lại giữa kinh tế vườn với cộng đồng dân cư ngày càng sâu rộng và phức tạp.
Vai trò của kinh tế vƣờn Hiện nay, kinh tế vườn đã trở thành một trong những thế mạnh kinh tế của người dân ở những vùng nông thôn của Việt Nam. Với nhiều sản phẩm cung cấp đa dạng (rau, củ, quả, hoa, cây cảnh, dịch vụ,…), không những cung cấp cho thị trường trong nước mà đồng thời là nguồn xuất khẩu sang các nước trong khu vực và một số thị trường lớn trên thế giới. Đời sống của người dân miệt vườn ngày càng khá lên và sung túc hơn, từ đó cho thấy kinh tế vườn có vai trò quan trọng trong đời sống của người dân nông thôn, cụ thể: 4 1. Kinh tế vườn có vai trò quan trọng trong việc sử dụng có hiệu quả đất đai, lao động, tăng thu nhập cho người lao động: Hoạt động nông nghiệp phụ thuộc rất lớn về điều kiện tự nhiên (về vị trí, thổ nhưỡng, nguồn nước, khí hậu.) và mang tính thời vụ.
Song mùa vụ rất khác nhau đối với từng vùng đất và từng loại cây trồng. Đất đai từng vùng có rất nhiều loại, mỗi loại chỉ thích hợp với một hoặc vài loại cây trồng nhất định. Mặt khác, vị trí của đất (xa hay gần nhà, đường giao thông, thị trường tiêu thụ, trung tâm khoa học kỹ thuật,.) là điều kiện thuận lợi hoặc khó khăn trong việc sử dụng và khai thác đất đai. Đây cũng là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sử dụng lao động, đồng thời khẳng định rằng với một loại hình sản xuất thích hợp có thể khắc phục được tính mùa vụ, phát huy ưu thế của từng loại đất để có thể khai thác và sử dụng hiệu quả nhất.
Trong các loại hình sản suất nông nghiệp, kinh tế vườn là hình thức sản xuất kết hợp tốt nhất vì có đất, có lao động là có của cải. Đất càng rộng thì của cải càng nhiều. Nếu nhìn vào cấu trúc vườn, nó được bố trí theo dài, rộng trên một diện tích nhất định, nhưng vườn có khả năng chuyển tải thường xuyên một hệ thống cây con mà đất lúa, đất công nghiệp chưa có khả năng to lớn như vậy. Bởi vì nhìn vào góc độ các loại vườn có thể nhận thấy được sự tận dụng nguồn lao động và sử dụng đất một cách hợp lý nhất, ví dụ: khi cây chưa bị phân tán, người nông dân có thể trồng xen các loại cây con, rau màu và chăn nuôi trên một diện tích đất, mặt nước nhằm lấy “ngắn nuôi dài’’.
Thời gian và không gian không bị giới hạn, có thể làm trong giờ hay ngoài giờ, lực lượng lao động già hay trẻ, nam hay nữ,… đều có thể bố trí một cách hợp lý vừa không để đất trống mà lại giải quyết được việc làm, vừa tăng thêm thu nhập tạo ra một sự gắn bó và ràng buộc giữa con người và đất đai. Kinh tế vườn làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, phát triển nông nghiệp hàng hóa đa dạng và toàn diện: Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp bao giờ cũng gắn liền với sự vận động phát triển nền kinh tế nông nghiệp: chuyển từ nền sản xuất độc canh sang nền sản xuất nông sản hàng hóa đa dạng toàn diện. Quá trình chuyển dịch đó phải diễn 5 ra theo chiều hướng tỷ trọng ngành trồng trọt giảm thì chăn nuôi, ngư nghiệp tăng lên. Hiện tại, cơ cấu nông-lâm-ngư nghiệp ở nước ta còn nhiều bất cập, thiếu đồng bộ, có vùng chưa thoát khỏi độc canh.
Trên thực tế, kinh tế vườn đã tạo nên một tập đoàn cây và con hết sức đa dạng và phong phú, nó đang xóa dần tính độc canh, thuần nông một số vùng trong cả nước. Đồng thời, việc phát triển kinh tế vườn đã tạo ra hệ thống cây trồng vật nuôi phong phú đa dạng, bốn mùa có hoa trái đủ các loại, xóm làng trù phú, thu nhập của người dân tăng lên, bộ mặt nông thôn thay đổi từng ngày. Do vậy, kinh tế vườn càng phát triển thì ở đó chuyển dịch kinh tế càng nhanh, chuyên môn hóa càng sâu.