chương 1: Lý luận chung về hoạt động tín dụng và RRTD của NHTM, tác giả sử dụng nguồn số liệu thu thập được trong các sách, tài liệu và trên các trang web. Đối với chương 2: Thực trạng hoạt động tín dụng và QTRR trong hoạt động cho vay tại Agribank Bến Tre, các số liệu về tình hình hoạt động kinh doanh, dư nợ theo từng nhóm nợ, tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ qua các năm, số dự phòng rủi ro được trích lập… của Agribank Bến Tre giai đoạn 2014 - 2018 số liệu tổng hợp từ xii z báo cáo tổng kết hàng năm, báo cáo tổng kết chuyên đề, báo cáo thường niên, …. Ngoài ra cũng có một ít số liệu, tác giả thu thập trong kế hoạch, báo cáo nội bộ. Tất cả các số liệu nói trên đều là nguồn số liệu sơ cấp.
Bên cạnh nguồn thông tin sơ cấp, tác giả còn sử dụng thêm các số liệu từ nguồn thứ cấp như báo cáo của NHNN; các bài viết của các nhà nghiên cứu trên các tạp chí, trang web, hội thảo, trên các diễn đàn hội nghị, các bài phỏng vấn các chuyên gia, các nhà quản trị ngân hàng,… 1. Nội dung nghiên cứu Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, trả lời các câu hỏi đã đặt ra, luận văn hướng đến việc giải quyết các nội dung sau: Về tổng quan: Luận văn nghiên cứu các sách, báo, tài liệu có liên quan đến QTRR đối với hoạt động cho vay tại NHTM để từ đó khái quát, tổng hợp cơ sở lý thuyết có liên quan, làm tiền đề cho nội dung nghiên cứu. Khái quát về tình hình hoạt động kinh doanh, đặc biệt là hoạt động cho vay, tỷ lệ nợ xấu, số dự phòng rủi ro được trích tại Agribank Bến Tre giai đoạn 2014 – 2018, trên cơ sở đó phân tích, đánh giá tổng quan chất lượng dư nợ tại đơn vị. Dựa vào các số liệu thu thập được, tính toán các chỉ tiêu đánh giá chất lượng quản trị rủi ro đối với hoạt động cho vay tại Agribank Bến Tre, phân tích kết quả có được, đồng thời, căn cứ vào hệ thống quy định, quy trình nghiệp vụ, những trường hợp phát sinh RRTD tại đơn vị để đánh giá, tìm hiểu nguyên nhân, nhận xét những mặt đã đạt được và chỉ ra những hạn chế trong công tác QTRR hoạt động cho vay tại Agribank Bến Tre, từ đó đề xuất những giải pháp có tính khả thi, tiếp cận chuẩn mực quốc tế, góp phần nâng chất lượng QTRR tín dụng tại Agribank Bến Tre.
Đóng góp của đề tài Về mặt lý luận: luận văn làm rõ những cơ sở lý luận về hoạt động cho vay, RRTD và cách thức QTRR tín dụng đối với NHTM. Những quy dịnh chủ yếu của pháp luật hiện hành liên quan đến cấp tín dụng. Một số vấn đề QTRR theo chuẩn mực quốc tế. xiii z Luận văn khẳng định: Để giảm thiểu rủi ro và nâng cao chất lượng trong hoạt động cho vay, các NHTM có thể áp dụng các mô hình QTRR khác nhau.
Công tác QTRR hoạt động cho vay được bắt đầu từ khâu thẩm định khách hàng cho đến khi kết thúc việc thu hồi nợ của khách hàng vay. Mỗi mô hình QTRR với các ưu, nhược điểm khác nhau, mô hình mà các NHTM lựa chọn cần phải tiếp cận thông lệ quốc tế nhằm đáp ứng nhu cầu hội nhập trong quản trị NH và phù hợp với điều kiện thực tế của NH, của hệ thống tài chính. Về thực tiễn: nhằm nâng cao được năng lực cho cán bộ tại chi nhánh. Nhận diện được rủi ro và biện pháp xử lý.
Thông qua tìm hiểu cách thức QTRR tín dụng tại Agribank Bến Tre thời gian qua, cập nhật đến thời điểm hiện tại và khảo sát điển hình về nguyên nhân gây ra rủi ro tại một số chi nhánh. Luận văn khẳng định, công tác QTRR tín dụng tại Agribank Bến Tre chưa toàn diện, chỉ quan tâm đến việc tuân thủ quy trình nghiệp vụ, chưa quan tâm đúng mức đến việc lựa chọn và bố trí cán bộ làm công tác tín dụng cũng như đến trình độ chuyên môn nghiệp vụ, phòng ngừa rủi ro đạo đức của cán bộ, chất lượng kiểm tra kiểm soát nội bộ. Quản trị đối với hoạt động tín dụng tại Agribank Bến Tre phụ thuộc vào phương pháp xếp hạng tín dụng nội bộ mà xếp hạng tín dụng lại chủ yếu phụ thuộc vào cảm nhận của cán bộ tín dụng. Việc xếp hạng tín dụng cũng không được đánh giá lại và cập nhật thường xuyên.
Từ những hạn chế nêu trên, luận văn tìm ra các nguyên nhân để từ đó kiến nghị các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động QTRR tín dụng tại Agribank trong thời gian tới. Lƣợc khảo các công trình nghiên cứu có liên quan Trong thời đại ngày nay, với trình độ phát triển cao của nền kinh tế - xã hội, thị trường ngày càng mở rộng. Đây là điều kiện môi trường thuận lợi để các hoạt động SXKD nói chung và hoạt động NH nói riêng phát triển. Là một trong những kênh cung cấp vốn chủ yêu cho nền kinh tế, hệ thống NHTM luôn chuyển mình và có những bước phát triển vượt bậc.
Sự lớn mạnh của hệ thống NHTM Việt Nam gắn liền với hoạt động tín dụng, đây là nghiệp vụ mang lại nguồn thu chủ yếu cho các NH. Tuy nhiên mức độ rủi ro tiềm ẩn trong nền kinh tế hiện đại luôn gắn liền xiv z với quá trình hoạt động và phát triển của NH. Trên thực tế RRTD là rủi ro đặc trưng của loại hình kinh doanh này. Và chỉ có thể đề phòng chứ không thể loại trừ.
Vì vậy tìm giải pháp hạn chế rủi ro là vấn đề quan tâm của tất cả các NH. Vấn đề QTRR trong cho vay luôn được các lãnh đạo NH cũng như các nhà nghiên cứu đặc biệt quan tâm. Thời gian qua đã có rất nhiều công trình nghiên cứu, thảo luận khoa học xung quanh vấn đề QTRR nói chung và QTRR hoạt động cho vay nói riêng. ₋ Lê Khắc Thái (2014).
“Quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh TP. Luận văn thạc sĩ Trường Đại học Công nghệ TP. Luận văn đã hệ thống hóa lý luận về RRTD và QTRR tín dụng trên cơ sở ứng dụng nguyên tắc Basel trong xây dựng mô hình QTRR tín dụng cho các NHTM tại Việt Nam. Luận văn đã phân tích và đánh giá được thực trạng công tác quản trị rủi ro tín dụng đang áp dụng tại ngân hàng Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh TP.HCM ₋ Phạm Thị Ngọc Yến.
Quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay đối với khách hàng doanh nghiệp tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Chi nhánh Đắk Lắk. Luận văn Thạc sĩ, Trường Đại học Đà Nẵng. Đề tài đã tổng hợp nhiều vấn đề về lý luận rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay của NHTM, thu thập số liệu về tình hình hoạt động kinh doanh, đặc biệt là hoạt động cho vay tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Chi nhánh Đắk Lắk đồng thời phân tích, nhận định tình hình quản trị rủi ro, từ đó đề xuất giải pháp nhằm tăng cường quản trị rủi ro trong hoạt động cho vay trong cho vay đối với khách hàng doanh nghiệp tại đơn vị này giai đoạn 2012 – 2014. Tuy nhiên, nghiên cứu này chỉ giới hạn đối tượng nghiên cứu là khách hàng doanh nghiệp tại Saigonbank – chi nhánh Đắk Lắk.
- Phạm Thị Vân Bình (2012) “ Giải pháp hạn chế rủi ro trong cho vay đối với khách hàng doanh nghiệp tại ngân hàng Đầu tư và Phát triển chi nhánh Hải Vân” luận văn thạc sĩ trường Đại học Kinh tế thành phố Đà Nẳng. Với các đề tài này tác giả đã sử dụng biện pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, kết hợp với các phương pháp thống kê, phương pháp so sánh tổng hợp để xv z nghiên cứu. Tôi nhận thấy tác giả đã đưa ra việc quản trị rủi ro tín dụng thông qua việc nhận dạng RRTD, đo lường RRTD bằng phân tích tín dụng cổ điển và mô hình định lượng cổ điển và mô hình định lượng, kiểm soát RRTD bằng việc ứng dụng công cụ phái sinh và tài trợ rủi ro. ₋ Bùi Diệu Anh.
Quản trị danh mục cho vay tại các Ngân hàng Thương mại Cổ phần Việt Nam. Luận án tiến sĩ kinh tế, Trường Đại học Ngân hàng TP. Luận án tập hợp những lý luận về quản trị danh mục cho vay, phân tích thực trạng danh mục cho vay tại các NHTM Việt Nam trong khoảng thời gian từ 2006 – 2010, từ đó chỉ ra những ưu điểm cũng như hạn chế và đề xuất những giải pháp nhằm hạn chế rủi ro trong hoạt động quản trị danh mục cho vay tại các ngân hàng TMCP ở Việt Nam. ₋ Trần Thị Việt Thạch.
Quản trị rủi ro tín dụng theo Hiệp ước Basel 2 tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam. Luận án tiến sĩ kinh tế, Học viện Tài chính. xvi z CHƢƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI 1.1 Rủi ro trong hoạt động tín dụng của Ngân hàng thƣơng mại 1.1 Khái niệm rủi ro RRTD là loại rủi ro phát sinh trong quá trình cấp tín dụng của NH, biểu hiện trên thực tế qua việc khách hàng không trả được nợ hoặc trả nợ không đúng hạn cho ngân hàng. Căn cứ vào khoản 01 Điều 02 của Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro theo Quyết định số 493 /2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 của Thống đốc NHNN thì “RRTD trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động NH của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết”.
Như vậy, có thể nói rằng RRTD có thể xuất hiện trong các mối quan hệ mà trong đó ngân hàng là chủ nợ, mà khách hàng nợ lại không thực hiện hoặc không đủ khả năng thực hiện nghĩa vụ trả nợ khi đến hạn. Nó diễn ra trong quá trình cho vay, chiết khấu công cụ chuyển nhượng và giấy tờ có giá, cho thuê tài chính, bảo lãnh, bao thanh toán của NH.2 Phân loại rủi ro tín dụng Theo Trần Huy Hoàng.(2010), nếu căn cứ vào nguyên nhân phát sinh, RRTD phân chia thành các loại sau: 1 z Sơ đồ 1.1: Phân loại RRTD - Rủi ro giao dịch (Transaction risk): là một hình thức của RRTD mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng. Rủi ro giao dịch có ba bộ phận chính là rủi ro lựa chọn, rủi ro bảo đảm và rủi ro nghiệp vụ.