MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong quá trình hội nhập kinh tế của Việt Nam đã và đang đặt ra cho các DN nói chung và DN tỉnh Gia Lai nói riêng nhiều cơ hội song cũng xuất hiện nhiều khó khăn, thách thức. Để tồn tại và phát triển trong điều kiện mới, đòi hỏi các DN Gia Lai cần cải tiến, đổi mới phƣơng thức quản lý, sử dụng có hiệu quả các công cụ quản trị, giúp cho nhà quản trị thực hiện chiến lƣợc kinh doanh, mở rộng thị trƣờng phù hợp với xu thế hội nhập, phát triển bền vững. Kế toán nói chung và KTQT nói riêng là một trong những công cụ quan trọng trong cung cấp thông tin hữu ích để các nhà quản trị có thể đƣa ra các quyết định điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh trong DN.
Trong các chức năng của quản trị, lập kế hoạch là chức năng quan trọng không thể thiếu đối với mọi DN. Kế hoạch là xây dựng mục tiêu của DN và vạch ra các bƣớc thực hiện để đạt đƣợc mục tiêu đã đặt ra. Dự toán cũng là một loại kế hoạch nhằm liên kết các mục tiêu cụ thể, chỉ rõ các tài nguyên phải sử dụng, đồng thời dự tính kết quả thực hiện trên cơ sở các kỹ thuật dự báo. Hiện nay, KTQT trong các DN trên địa bàn tỉnh Gia Lai chƣa đƣợc thực hiện một cách đầy đủ, khoa học và hệ thống.
Bên cạnh đó, chƣa có một nghiên cứu nào liên quan đến thực trạng vận dụng công cụ lập dự toán trong các DN trên địa bàn tỉnh. Chính điều này đã thúc đẩy tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến việc lập dự toán ở các DN trên địa bàn tỉnh Gia Lai”, từ đó giúp nhà quản trị trong việc đề ra các chính sách kế toán thúc đẩy việc vận dụng công cụ này, nâng cao năng lực quản trị của DN mình. Mục tiêu nghiên cứu Luận văn hƣớng đến các mục tiêu nghiên cứu sau: - Thứ nhất, làm rõ cơ sở lý luận về dự toán tổng thể trong DN, các nhân 2 tố ảnh hƣởng đến việc lập dự toán trong các DN. - Thứ hai, thông qua kết quả điều tra thực nghiệm, xác định mức độ áp dụng công cụ lập dự toán ở các DN trên địa bàn tỉnh Gia Lai.
- Thứ ba, xác định các nhân tố ảnh hƣởng đến việc lập dự toán ở các DN trên địa bàn tỉnh Gia Lai, qua đó đề xuất các hàm ý chính sách phù hợp góp phần thúc đẩy việc vận dụng công cụ lập dự toán trong các DN trên địa bàn tỉnh Gia Lai. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu: Công cụ lập dự toán và các nhân tố ảnh hƣởng đến việc vận dụng công cụ này trong các DN. Phạm vi nghiên cứu: Các DN hoạt động trong các lĩnh vực khác nhau trên địa bàn tỉnh Gia Lai, không khảo sát các DN hoạt động ở các lĩnh vực nhƣ: tài chính, bảo hiểm, ngân hàng, các DN siêu nhỏ. Phƣơng pháp nghiên cứu Nghiên cứu này sử dụng cả phƣơng pháp nghiên cứu định tính và định lƣợng.
Phƣơng pháp định tính đƣợc sử dụng trong giai đoạn xây dựng bảng câu hỏi. Phƣơng pháp định lƣợng đƣợc sử dụng thông qua bảng câu hỏi thu thập thông tin đƣợc thu thập dựa trên phƣơng pháp phỏng vấn trực tiếp thông qua bảng câu hỏi bằng giấy gửi đến đối tƣợng trả lời là kế toán của DN, thông tin thu thập đƣợc xử lý bằng phần mềm SPSS16. Thang đo đƣợc sử dụng là thang đo định danh và thang đo điểm Likert. Thang đo định danh dùng để đánh giá về thông tin của DN.
Thang đo điểm Likert dùng để đánh giá mức độ sử dụng công cụ lập dự toán, các nhân tố ảnh hƣởng đến lập dự toán ở các DN. Thống kê mô tả đƣợc sử dụng để so sánh mức độ vận dụng công cụ lập dự toán cũng nhƣ mức độ hữu ích của công cụ lập dự toán. Kiểm định T-test và ANOVA đƣợc sử dụng để kiểm định sự khác biệt trong việc vận dụng công cụ lập dự toán của các nhóm đối tƣợng khác nhau. Mô hình hồi quy tuyến tính 3 bội đƣợc sử dụng để đánh giá ảnh hƣởng của các nhân tố đến việc vận dụng công cụ lập dự toán.
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài Ý nghĩa khoa học của đề tài nghiên cứu Nghiên cứu sẽ cung cấp bằng chứng thực nghiệm về việc sử dụng công cụ dự toán trong các DN trên địa bàn tỉnh Gia Lai. Đồng thời nghiên cứu này sẽ đóng góp vào việc bổ sung những nhân tố ảnh hƣởng đến lập dự toán của các DN trên địa bàn tỉnh trong bối cảnh hiện nay, đây là đóng góp quan trọng vì chƣa có một nghiên cứu nào về việc đánh giá các nhân tố tác động đến việc lập dự toán của các DN trên địa bàn tỉnh Gia Lai. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài nghiên cứu Các nhà quản lý trong các DN trên địa bàn tỉnh Gia Lai sẽ nhận thức đƣợc tầm quan trọng của công cụ lập dự toán nhƣ là phƣơng tiện để cải thiện thành quả hoạt động và duy trì khả năng cạnh tranh trên thị trƣờng. Đồng thời, kết quả của nghiên cứu sẽ hỗ trợ cho các nhà nghiên cứu trong việc hoạch định chính sách bao gồm mức độ vận dụng công cụ lập dự toán trong các DN trên địa bàn và các nhân tố ảnh hƣởng đến mức độ vận dụng này để UBND tỉnh, các tổ chức tài chính, các đối tƣợng quan tâm đến các DN trên địa bàn có các quyết định chính sách trong tƣơng lai.
Kết cấu đề tài Đề tài gồm 4 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về lập dự toán và các nhân tố ảnh hƣởng tới việc lập dự toán trong các DN Chƣơng 2: Thiết kế nghiên cứu Chƣơng 3: Kết quả nghiên cứu Chƣơng 4: Hàm ý chính sách 4 7. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Các nghiên cứu về nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng KTQT: Đã có một số nghiên cứu việc vận dụng kế toán quản trị nói chung trong các DN, trong đó công cụ lập dự toán nhƣ nghiên cứu của Joshi (2001) ở 60 DN vừa và lớn ở Ấn Độ. Kết quả nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ áp dụng các công cụ KTQT truyền thống cao hơn so với các công cụ KTQT hiện đại. Công cụ liên quan đến việc lập dự toán theo cách truyền thống và hệ thống đánh giá thành quả đƣợc áp dụng rộng rãi, trong khi đó các công cụ KTQT hiện đại đƣợc áp dụng với tỷ lệ khá thấp và tỷ lệ áp dụng tăng lên khá chậm.
[33] El-Ebaishi và cộng sự (2003) tiến hành khảo sát thực trạng áp dụng KTQT ở 121 DN vừa và lớn ở Saudi. 15 công cụ đƣợc đƣa vào khảo sát gồm phân bổ chi phí bộ phận, phân bổ chi phí sản xuất chung, chi phí tiêu chuẩn, dự toán sản xuất, dự toán vốn bằng tiền, dự toán doanh thu, dự toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, dự toán chi phí nhân công trực tiếp, dự toán chi phí sản xuất chung, dự toán vốn, chu kỳ sống sản phẩm, quản trị hàng tồn kho kịp thời, tính giá dựa trên hoạt động và sử dụng công cụ dự toán hồi quy. Kết quả khảo sát cho thấy các DN cho rằng các công cụ KTQT truyền thống đƣợc xem là hữu dụng và quan trọng đối với DN, các công cụ KTQT hiện đại nhƣ ABC chỉ đƣợc áp dụng trong một số DN. [22] Wu và cộng sự (2007) tiến hành khảo sát ở 64 DN liên doanh và 115 DN nhà nƣớc ở Trung Quốc.
Kết quả cho thấy, các DN Trung Quốc chủ yếu sử dụng các công cụ KTQT truyền thống. Cụ thể, các nhà quản trị DN nhà nƣớc cho rằng họ sẽ tập trung vào các công cụ KTQT truyền thống, ngƣợc lại, các nhà quản trị DN liên doanh có xu hƣớng sử dụng công cụ KTQT hiện đại. [54] Horngen và cộng sự (2008) trong nghiên cứu “tầm quan trọng của 5 KTQT chi phí”, đã đề cập đến việc lập dự toán tổng quát trong DN. Xuất phát từ chiến lƣợc chung của DN kế toán quản trị sẽ lập dự toán tổng quát, sau đó từ dự toán tổng quát sẽ lập các dự toán cụ thể, bao gồm: (1) Dự toán hoạt động (Dự toán sản xuất, dự toán doanh thu, dự toán mua vào, dự toán giá vốn, dự toán chi phí hoạt động, dự toán báo cáo kết quả kinh doanh); (2) Dự toán vốn; (3) Dự toán tài chính (Dự toán dòng tiền, dự toán bảng cân đối, dự toán báo cáo lƣu chuyển tiền).
Nghiên cứu cũng chỉ rõ dự toán có thể lập chung cho các hoạt động hoặc dự toán riêng cho các bộ phận tùy thuộc vào nhà quản trị DN. Bên cạnh việc xây dựng dự toán linh hoạt trong các DN sản xuất, Horngen và các cộng sự còn đề cập đến dự toán linh hoạt và vai trò của dự toán linh hoạt trong các DN dịch vụ. [31] Catapan và cộng sự (2012) nghiên cứu việc áp dụng các công cụ KTQT trong 14 DNVVN kinh doanh trong ngành vật liệu xây dựng ở miền Nam Brazil. Kết quả nghiên cứu cho thấy, chỉ có 37,73% số công ty có đội ngũ kế toán nội bộ, trong số đó 35,72% số công ty đƣợc khảo sát sử dụng công cụ lập dự toán và 64,28% sử dụng công cụ lƣu chuyển tiền tệ.
[16] Kamilah Ahmad (2012) cũng tiến hành nghiên cứu “việc áp dụng trong các DNVVN trong lĩnh vực sản xuất ở Malaysia”. Kết quả nghiên cứu từ 160 DN cho thấy tỷ lệ áp dụng các công cụ KTQT truyền thống cao hơn so với các công cụ KTQT hiện đại. Nghiên cứu cũng cho thấy rằng, 4 nhân tố ảnh hƣởng đến mức độ vận dụng KTQT ở DNVVN ở Malaysia gồm: quy mô DN, mức cạnh tranh trên thị trƣờng, sƣ tham gia của nhà quản lý và công nghệ sản xuất. [34] Đoàn Ngọc Phi Anh (2012), nghiên cứu “về mức độ vận dụng và các nhân tố ảnh hƣởng đến việc vận dụng KTQT trong các DN Việt Nam”, bao gồm các nhân tố mang đặc tính của DN nhƣ hình thức sở hữu của DN, quy mô DN, thời gian hoạt động, định hƣớng thị trƣờng, lĩnh vực hoạt động và 6 nhân tố ngữ cảnh nhƣ nhân tố cạnh tranh, phân cấp quản lý.
Nghiên cứu đã chỉ ra rằng các công cụ KTQT truyền thống đƣợc áp dụng nhiều hơn các công cụ KTQT hiện đại, cụ thể là dự toán doanh thu, dự toán lợi nhuận, dự toán sản xuất, tính giá theo phƣơng pháp toàn bộ có tỷ lệ áp dụng khá cao so với các công cụ liên quan đến chức năng chiến lƣợc, đánh giá thành quả.