CHƯƠNG 1: NHỮNG NHÂN TO TÁC DONG THÚC DAY SỰ HỢP TAC VE KINH TE THUONG MAI VIỆT NAM - HOA KỲ Năm 2001, khi Hiệp định Thuong mại song phương BTA hai nước có hiệu lực quan hệ kinh tế giữa Hoa Kỳ và Việt Nam đã mở ra một giai đoạn phát triển toàn điện cho quan hệ kinh tế song phương. Với tư cách là một quá trình lịch sử, quan hệ kinh tế Hoa Kỳ - Việt Nam (2001 - 2020) cũng có nguồn gốc ra đời, quá trình xác lập, vận động và phát triển, đồng thời chịu sự tác động mạnh mẽ từ hệ thống các nhân tố khách quan vả chủ quan của lịch sử. Tác động từ nhân tố lịch sử Nhân tổ lịch sử được hiệu là trong lịch sử đã có quá trình hợp tac, trao đổi hay tìm kiếm cơ hội hợp tác; đây là nguồn gốc nén tảng cho quan hệ sau nay. Hai quốc gia có lịch sử môi quan hệ day thăng tram.
Tổng thông thứ ba của Hoa Kỳ Thomas Jefferson - người đã viết Tuyên ngôn độc lập của Hoa Kỳ. trước khi trở thành người đứng đất nước đã từng nỗ lực tìm cách nhập giống lúa tốt của Việt Nam dé trồng ở trang trại Shadwell của mình tại bang Virginia. Hoa Kỳ thanh lập cơ quan lãnh sự day đủ đầu tiên tại thuộc địa Đông Dương của Pháp tại thành phố Sài Gòn vào ngày 9 tháng 12 năm 1907. Cách đây hơn 100 năm, Chủ tịch Hỗ Chí Minh trong khi tìm con đường đề giải phóng cho dân tộc Việt Nam đã đến Boston - nơi khởi đầu của cuộc cách mạng giành độc lập ở Hoa Kỳ.
Giữa Chủ tịch Hồ Chi Minh và hai Tổng thống Hoa Kỳ cũng có những bức thư đặc biệt. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có 8 thư và điện gửi Tông thông Harry Truman trong hai năm 1945-1946; tuy nhiên đã không được hồi âm, điều này đã tạo ra một “khoảng lặng đáng sợ” trong quan hệ Việt Nam — Hoa Kỳ lúc bây giờ. Đầu những năm 50 của thé ky XX, Hoa Kỳ bắt dau có những can thiệp trực tiếp vào cuộc chiến tranh ở Dong Dương biêu thị qua việc viện trợ kinh tế vả quân sự cho Pháp. Đặc biệt tháng 12 năm 1950, Hoa Kỳ và Pháp ki với nhau Hiệp định phòng thủ chung Đông Dương điều này giúp cho Hoa Kỳ tiến gần hơn việc thay thé Pháp.
Hiệp định Geneva được ký kết năm 1954 vẻ việc cham đứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Đông Duong, Hoa Kỳ chính thức tham chiến ở Việt Nam và Đông Dương bằng cách tạo ra một cuộc chiên tranh xâm lược thực dân kiêu mới với quy mô lớn hơn cuộc chiên trước đó. lá Giai đoạn 1954-1975 Việt Nam và Hoa Kỳ trở thành đối đầu nhau hơn nửa thé kỷ do chiến tranh va sau đó là những van đề thời hậu chiến tiếp tục làm mối quan hệ giữa Việt Nam với Hoa kỳ vừa căng thing vừa băng giá (ngày 1-5-1975: một ngày sau khi nước Việt Nam được thống nhất, Hoa ky đã nới rộng các biện pháp trừng phạt chỗng lại Việt Nam). Cuộc chiến tranh 21 năm ( 1954-1975) đã khiến cho quan hệ Việt Nam- Hoa Kỳ trở thành quan hệ đối dau, thù địch với nhau. Ngày 30/4/1975, miễn Nam Việt Nam hoàn toàn được giải phóng, nước Việt Nam độc lập và cường quốc Hoa Kỳ đã chính thức bị đánh bại bởi một đất nước nhỏ bé, kinh tế kém phát triển.
Dây cũng chính là nguyên nhân khiến cho sự kiêu hãnh của Hoa K¥ bị anh hưởng và khiến cho quá trình bình thường hóa quan hệ hai nước trở nên khó khăn hơn. Ngày 15/7/1969, khi Hoa Kỳ hứng chịu những that bại nặng né trước quyết tâm sắt đá giải phóng dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh; Tong thong R.Nixon đã viết thư gửi Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong bức thư có Tông thông Nixon đã thừa nhận cuộc chiến mang lại quá nhiều mat mát và cho rằng: “Giờ là lúc cần tiễn tới bàn dam phán dé thao luận về một giải pháp sớm cho cuộc chiến tranh tan khốc này. Các ngài sẽ thấy chúng tôi rat thang thắn va coi mở vì mục đích chung lả đem lại hòa bình như mong muốn của những người Việt Nam can trường.
Hãy đẻ lịch sử ghi lại thời khắc quan trong này khi hai bên cùng nhìn vẻ hòa bình thay vì xung đột và chiến tranh”!. Tuy vậy, Hoa Kỳ vẫn tiếp tục dem quân đánh phá miền Bắc Việt Nam. Ngày 25/8/1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết thư phúc đáp lên án những hành động sai trái của Hoa Kỳ và ngỏ ý Hoa Kỳ “đầu hàng trong danh dự”. yêu cầu nay không được chấp thuận vã cuộc chiến tranh vẫn tiếp tục kéo dai.
Có thé nói rằng, những bức thư giữa Hồ Chủ tịch và các Tống thống chính là những dấu mốc trong quan hệ Việt Nam — Hoa Ky trong những giai đoạn then chốt của cách mạng Việt Nam. Khoảng thời gian đặc biệt nhất trong quan hệ giữa Hoa Kỳ và Việt Nam giai đoạn 1954 — 1975 đã dé lại một chương đen tôi trong lịch sử quan hệ giữa hai quốc gia. Tác động tiêu cực của quá khử đã làm “tụt hậu” quả trình xác lập và dién tiền của quan hệ kinh tế song phương. đồng thời, sự đối đầu căng thăng trong giai đoạn chiến tranh đã dé lại những ám anh nhất định cho hiện tại va tương lai của mối quan hệ.
Có những thời điểm quan hệ Việt Nam — Hoa Kỳ được chớm nở nhưng rồi lại đóng băng. Tuy nhiên, ' Trân Khánh, VOV (2019). 3 bức thư “dinh mệnh” giữa Chủ tịch Hỗ Chí Minh và 2 Tổng thông Mp”.vn/chinh-tr/3-buc-thu-dinh-menh-giua-chu-tich-ho-cht-minh-va-2-tong-thong-my-950015.vav, , 15 quá trình này cũng dé lại những bài học kinh nghiệm, cho nên mang ý nghĩa tích cực nhất định cho cả hai quốc gia trong nỗ lực quan hệ hiện tại vì mục tiêu bình đẳng, hợp tác cùng có lợi cho cả hai phía Hoa Kỳ và Việt Nam. Đầu năm 1977, Tong thong Jimmy Carter sau khi nhậm chức đã điều chỉnh chính sách với Việt Nam thông qua việc giải quyết "Hội chứng Việt Nam” ở Hoa Kỳ.
Bên cạnh đó việc Việt Nam nộp đơn xin gia nhập Liên Hợp quốc Hoa Kỳ đã không phản đối đây được xem là một đấu hiệu tích cực trong tiền trình bình thường hóa quan hệ hai nước. Tuy nhiên, sau đó hai nước tiếp tục rơi vào trạng thái đóng băng với một loạt sự kiện xuất phát từ hai nước cũng như quốc tế. Tháng 9 năm 1978, Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Nguyễn Cơ Thạch đến New York dé tiến hành các cuộc đàm phán với Richard Holbrooke — lúc này là Thứ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ. Trong cuộc dam phán 46, Việt Nam không còn đưa ra những điều kiện trước đây dé day nhanh tiến trình bình thường hóa.
Sau nhiều tuần ở lại New York hoàn tat các chỉ tiết dé rồi nhận được câu trả lời rằng phía Hoa Kỳ thực ra chưa sẵn sàng cho bình thường hóa. Năm 1978, “van đề Campuchia” là một trong những nhân tổ khiến cho Hoa Kỳ quan ngại về quan hệ với Việt Nam. Ngày 25 thang 11 năm 1978, Việt Nam chính thức đưa quân đội vào Campuchia dé đánh đồ chế độ Pôn Pot. Sự kiện này trở thành một lý do dé chính quyén Hoa Ky cắt đứt moi nỗ lực nỗi lại quan hệ giữa hai nước.
Đối với những người đứng đầu chính phủ Hoa Kỳ, Việt Nam không chỉ đang trong tình thế đối đầu trong quá khứ mà đã trở thành lực lượng đối lập trong chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ thời điểm bay giờ. Những năm 80 của thé kỷ XX, quan hệ hai nước tiếp tục trong trạng thái thù địch bởi bên cạnh những nỗ lực cải thiện thì còn bị ảnh hưởng bởi nhiều yêu tố đặc biệt là chiến tranh lạnh. Năm 1986, Việt Nam tiến hành đôi mới toàn điện, ưu tiên chính sách đối ngoại đó là "thêm bạn bớt thù”. Trong quan hệ với Mỹ, tại Đại hội đại biêu toàn quốc lần thứ VI của Dang năm 1996 đã chủ trương: “Chính phú ta tiếp tục bàn bạc với Mỹ giải quyết các van đề nhân đạo do chiến tranh dé lại và sẵn sàng cái thiện quan hệ với Mỹ vì lợi ích hòa bình, ôn định ở Đông Nam A?, Với những chủ trương này đã mở ra cơ hội dé Việt Nam và Hoa Kỳ có những tiếp xúc trở lại.
Tháng 7/1987, Đại tướng John Vessey - Đặc phái viên của Tông thong Reagan sang Việt Nam dé ban về van đề lính Mỹ mat tích. Phía Hoa Kỳ đã bay tỏ sự * Dang Cộng sản Việt Nam.Văn kiện Dang toàn tập. Ha Nội: Nxb Chính trị Quốc gia, tr.442-443 l6 mềm dẻo với Việt Nam tuy nhiên vấn đề Campuchia vẫn là rào cản lớn trong quan hệ hai nước. Sau khi Việt Nam rút quân khỏi chiến trường Campuchia, động thái tích cực trong tiền trình bình thường hóa quan hệ hai nước.
Tại Đại hội đại biểu toản quốc lân thứ VII của Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1991 đã khang định: “thúc day quá trình bình thường hóa với Hoa Kỳ*Ê. Phía Hoa Kỳ cũng đã có những hành động bắt đầu bình thường hóa quan hệ với Việt Nam. Tháng 7/1991, Hoa Kỳ mở văn phòng đại điện ở Hà Nội dé giải quyết van dé MIA*, tháng 12 cùng năm tuyên bố hủy bỏ lệnh cam du lịch có tổ chức vao Việt Nam, tháng 12/1992, tuyên bố nới lỏng thêm lệnh cam vận đối với Việt Nam. Thông qua những động thai trên đã mở ra cơ hội rộng mở hơn trong quan hệ hai nước.Clinton nhậm chức Tông thống Hoa Kỳ năm 1993, nhiều động thái trong việc thúc đây bình thường hóa quan hệ hai nước đã tiếp tục diễn ra.
Tháng 7/1993, đưa ra tuyên bố Hoa Kỳ không phản đối việc các nước trong cộng đồng quốc tế hỗ trợ Việt Nam trả nợ Quỹ Tiên tệ quốc tế (IMF); tháng 9/1993, nới lỏng lệnh cam vận thương mại đối với Việt Nam; đặc biệt tháng 02/1994, chính thức bãi bỏ lệnh cam vận thương mại đối với Việt Nam và đồng ý mở cơ quan liên lạc giữa hai nước. Về phía Việt Nam dé đáp lại những thiện chí đó, Việt Nam cũng đã có những hoạt động như tháng 7/1993 cho nhân viên ngoại giao Hoa Kỳ được ở Thù đô Hà Nội trong sứ mệnh giải quyết van đề MIA; tích cực hợp tác tìm kiếm quân nhân Hoa Kỳ mat tích trong chiến tranh,. Ngày 06/10/1993, Phó Thủ tướng Việt Nam Phan Văn Khải đã đến Thủ đô Washington và có cuộc gặp gỡ với Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ Warren Christopher. Đây được xem như bước ngoặt quan trọng trong quan hệ hai nước, tại đây, Hoa Kỳ đã tuyên bo giữa Hoa Kỳ va Việt Nam không con tình trạng chiến tranh và Hoa Kỳ không còn coi Việt Nam là kẻ thù.
Ngày 03/02/1994, Tông thong B.