LỜI MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Ngày nay, du lịch và hoạt động du lịch đƣợc coi là ngành công nghiệp lớn nhất thế giới. tạo ra một ƣớc tính khoảng 11% GDP toàn cầu và sử dụng 200 triệu lao động năm 2001. Đến năm 2010, theo dự báo sẽ có hơn 328.000 công ăn việc làm trực tiếp và liên quan đến du lịch trên toàn cầu.
Các lợi ích kinh tế liên quan đến ngành công nghiệp này là rất lớn và có thể đo lƣờng đƣợc ở cả hai mặt, đó là tạo doanh thu và tạo nguồn việc làm cho xã hội. Các yếu tố xã hội và công nghệ là hai yếu tố chính là cơ sở cho sự gia tăng sự phát triển trong ngành công nghiệp du lịch và hoạt động du lịch. Kinh tế phát triển, thu nhập tăng dẫn đến khả năng chi tiêu tăng lên, bên cạnh đó là sự phát triển của các điều kiện liên quan khác nhƣ công nghệ thông tin, điều kiện cơ sở vật chất kỹ thuật hạ tầng trong đó có giao thông vận tải cùng các ngành dịch vụ hỗ trợ liên quan khác nhƣ kinh doanh khách sạn đƣợc chuẩn hóa hơn, chất lƣợng dịch vụ cao hơn. Đó là những điều kiện và là các yếu tố quyết định của việc tăng nhu cầu về du lịch trong xã hội.
Tổ chức du lịch thế giới đã tổng kết: Phát triển du lịch đã tạo ra một nguồn thu nhập lớn đối với các quốc gia và các địa phƣơng. Đặc biệt, các nƣớc đang phát triển đang quan tâm phát triển du lịch đặc biệt là du lịch quốc tế, hàng năm lƣợng khách lớn đã đóng góp không nhỏ cho thu nhập ngoại tệ của các quốc gia. Đối với các quốc gia đang phát triển và chậm phát triển, Du lịch đã và đang trở thành một ngành xuất khẩu tại chỗ mang lại nhiều lợi nhuận. Có nhiều quốc gia coi đây là giải pháp phát triển nhanh chóng và là một nguồn thu ngoại tệ đáng kể cho các quốc gia đó (UNWTO, 2002).
Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO) còn khẳng định rằng việc phát triển du lịch ở các quốc gia đang phát triển sẽ tạo ra những cơ hội cho ngƣời dân đặc biệt là ngƣời nghèo trong việc nâng cao mức sống của mình (UNWTO 2002). Nhƣ vậy, việc phát triển du lịch đã là một biện pháp hay nói cách khác là cách thức để các quốc gia thực hiện chủ trƣơng xóa đói giảm nghèo. Thành công trong xóa đói giảm 6 z nghèo thông qua việc phát triển du lịch phụ thuộc một phần vào cộng đồng của các quốc gia, đồng thời phụ thuộc vào quan hệ đối tác giữa nhà nƣớc và tƣ nhân trong quá trình triển khai hoạt động này để bảo đảm về quyền lợi của cộng đồng, đồng thời phát triển đƣợc nền kinh tế địa phƣơng thông qua việc cung cấp các dịch vụ liên quan đến du lịch. Hội nghị về du lịch tại những nƣớc kém phát triển nhất tổ chức vào tháng ba 2001 tại Hà Lan đã kết luận rằng: đối với phần lớn những nƣớc kém phát triển nhất, phát triển du lịch có thể là một phƣơng tiện để quốc gia đó tham gia ngày càng sâu vào nền kinh tế toàn cầu, giảm đƣợc đói nghèo và đạt đƣợc tiến bộ kinh tế - xã hội của mình.
Có ít nhất 60% số nƣớc kém phát triển đã đặt việc phát triển du lịch quốc tế là trọng tâm trong chiến lƣợc phát triển của họ, và thông qua ngành kinh tế mũi nhọn này để tái thiết lập nền kinh tế của họ. Du lịch nhƣ vậy, tạo cơ hội lớn cho các nƣớc đang phát triển và kém phát triển, tuy nhiên một điều dễ nhận thấy rằng rất nhiều các chính sách phát triển du lịch chỉ đƣợc quyết định và triển khai bởi chính phủ các nƣớc mà không có sự tham gia của cộng đồng địa phƣơng để phục vụ hiệu quả cho những nguyện vọng của ngƣời dân nơi tổ chức các hoạt động du lịch. Trải qua quá trình dài, nhiều quốc gia đã phát triển du lịch theo cách thức truyền thống của ngành du lịch mang tính đại chúng, mà hậu quả của nó thƣờng là phá vỡ cơ cấu của nền kinh tế địa phƣơng, tăng tỷ lệ thất nghiệp theo mùa, suy thoái của thiên nhiên và sự xói mòn các giá trị truyền thống văn hóa. Hoạt động phát triển theo cách thức đó đã bộc lộ tính không bền vững.
Từ nhiều trƣờng hợp cụ thể liên quan đến ảnh hƣởng của hoạt động phát triển du lịch liên quan đến môi trƣờng và văn hóa truyền thống, thì ngành du lịch đã quan tâm đến việc bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên và văn hóa truyền thống. Hội nghị năm 2002 về Du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng ở Đông Nam Á đã khẳng định rằng để giảm thiểu những ảnh hƣởng của hoạt đọng du lịch đến cuộc sống và sinh kế của mình, cộng đồng địa phƣơng phải có quyền tự quyết và quyết định có tham gia vào việc phá triển du lịch hay không. 7 z Giải pháp của du lịch dựa vào cộng đồng đƣợc đƣa ra và vận hành để cung cấp các lợi ích kinh tế cho cộng đồng, hơn là việc dành trọn các lợi nhuận cho các tập đoàn lớn thông các khu nghỉ mát trọn gói. Vào đầu những năm 2000 loại hình du lịch cộng đồng mới bắt đầu đƣợc thử nghiên cứu và thử nghiệm tại một số khu vực có nhiều tài nguyên thiên ở Việt Nam.
Một số khu, điểm du lịch ở miền núi vùng có các tộc ngƣời thiểu số cƣ trú là nơi đa dạng tài nguyên thiên nhiên và phong phú tài nguyên nhân văn đang thu hút nhiều khách du lịch trong và ngoại nƣớc. Các khu điểm này cũng triển khai loại hình du lịch cộng đồng và thu đƣợc hiệu quả bƣớc đầu. Đó là các khu vực nhƣ: Mai Châu – Hòa Bình, Ba Bể - Bắc Cạn; Sa Pa – Lào Cai, Suối Voi – Huế. Tuy vậy, trong nƣớc chƣa có công trình nghiên cứu riêng đầy đủ và phát triển du lịch cộng đồng để áp dụng cho từng khu vực nên các hoạt động du lịch cộng đồng tại các khu vực này chƣa dựa trên sự nghiên cứu hệ thống đầy đủ mà chỉ dựa vào kinh nghiệm mang tính thí điểm vừa làm vừa rút kinh nghiệm.
Nằm ở vùng cao phía Bắc của tỉnh Tuyên Quang, trên vòng cung sông Ngâm, với hơn 83% diện tích tự nhiên là rừng, huyện Nà Hang tự hào với sức cuốn hút kỳ lạ của một vùng sinh thái đa dạng. Nà Hang có nhiều ngọn núi, có những cánh rừng nguyên sinh và những con suối. Na Hang có rất nhiều các thắng cảnh đẹp và các điểm tham quan hấp dẫn. Đồng thời Na Hang còn là địa bàn cƣ trú của 15 dân tộc khác nhau phong phú, đặc trƣng, đậm đà văn hóa dân tộc.
Có thể khẳng định rằng, huyện Na Hang rất giàu tài nguyên du lịch. Tuy nhiên, việc khai thác du lịch ở đây rất hạn chế. Đời sống của cộng đồng địa phƣơng còn rất lạc hậu và khó khăn. Một giải pháp phát triển nền kinh tế ở đây là phát triển du lịch.
Trong đó, loại hình du lịch cộng đồng là một giải pháp phù hợp với điều kiện tài nguyên và kinh tế ở đây. Du lịch cộng đồng không đỏi hỏi phải đầu tƣ quá lớn vào cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch, đem lại lợi ích kinh tế thiết thực đến với cộng đồng địa phƣơng và góp phần bảo tồn những giá trị thiên nhiên và văn hóa của huyện Na Hang. Việc khai thác các tiềm năng để phát triển du lịch đã đƣợc quan tâm, cụ thể là Sở Văn Hoá Thể Thao và Du Lịch đã tổ chức một số các khoá 8 z học cho dân cƣ địa phƣơng về phát triển cộng đồng, Triển khai hoạt động du lịch tại Khu Bảo Tồn Na Hang. Tuy nhiên, hoạt động du lịch ở huyện Na hang hiện nay phát triển chƣa tƣơng xứng với tiềm năng, số lƣợng khách du lịch đến Na hang còn rất nhỏ.
Vấn đề ở đây là cần có một công trình nghiên cứu các điều kiện phát triển du lịch cộng đồng phù hợp với điều kiện của huyện. Đồng thời, thu hút đƣợc cộng đồng cƣ dân tham gia vào các hoạt động du lịch nhằm phát triển du lịch bền vững, nâng cao đời sống kinh tế của cộng đồng địa phƣơng từ du lịch, đƣa ngành du lịch Nà Hang nói riêng và tỉnh Tuyên Quang nói chung phát triển ngang tầm với các tỉnh khác trong cả nƣớc. Vì lý do trên đây, học viên đã trọn đề tài “Nghiên cứu điều kiện phát triển du lịch cộng đồng ở huyện Na hang, tỉnh Tuyên Quang” làm luận văn tốt nghiệp của mình. Lịch sử nghiên cứu vấn đề Khái niệm về cộng đồng cộng đồng đã đƣợc Liên hiệp quốc công nhân và khuyến khích các quốc gia sử dụng vào năm 1950.
Khái niện về du lịch cộng đồng cũng đã đƣợc hình thành từ ba thập kỷ và đã đƣợc áp dụng ở nhiều nơi trên thế giới. Tài liệu “Community Based Tourism for Conservation anh Development” xuất bản năm 2003 của học viện The Mountain Institute, Hoa Kỳ (năm 2003) đã đƣa ra các khái niệm về du lịch cộng đồng, vai trò, yếu tố phát triển. Các tác giả cũng đƣa ra các ví dụ về các vùng ở Nam Mỹ và Malaysia đang hoạt động theo mô hình du lịch cộng đồng. Các tác giả cũng đƣa ra các kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm thu hút khách du lịch theo loại hình du lịch cộng đồng.
Trong “Du lịch cộng đồng – lý thuyết và vận dụng” (tập 1), TS. Võ Quế (2006) đã phân tích, nghiên cứu lý thuyết phát triển du lịch dựa vào cộng đồng với khái niệm, mục tiêu, ý nghĩa, điều kiện, nguyên tắc và tiêu chí tham gia phát triển du lịch dựa vào cộng đồng. Tác giả cũng nghiên cứu để đƣa ra mô hình phát triển dựa vào cộng đồng của khu vực Châu Á và một số khu sinh thái trong nƣớc. Tuy nhiên, tác giả chƣa đƣa ra đƣợc một cách cụ thể và chi tiết cho các chủ thể và khách 9 z du lịch về các điều kiện phát tiển du lịch cộng đồng cũng nhƣ mô hình cụ thể cho khu vực miền núi ở Việt Nam.
“Du lich bền vững” của hai tác giả Nguyễn Đình Hòe và Vũ Văn Hiếu (năm 2001) đã khẳng định cộng đồng địa phƣơng tham gia vào lĩnh vực du lịch đóng vai trò rất quan trọng trong việc phát triển du lịch bền vững. Đồng thời, nhóm tác giả cũng đánh giá vai trò và vị trí của cộng đồng bản địa trong du lịch miền núi là vấn đề quan trọng hàng đầu.