Chương I : Cái đẹp áo dài Việt Nam dƣới góc nhìn nghệ thuật. Chương II: Thực tiễn hình ảnh cái đẹp áo dài Việt Nam từ truyền thống đến hiện đại Chương III : Quảng bá và khai thác cái đẹp truyền thống áo dài Việt Nam vào các hoạt động Văn hóa du lịch. Sinh viên: Vũ Thị Ánh Ngọc - Lớp: VH 1001 4 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CHƢƠNG I: CÁI ĐẸP ÁO DÀI VIỆT NAM DƢỚI GÓC NHÌN NGHỆ THUẬT TRUYỀN THỐNG VÀ VĂN HÓA DU LỊCH 1.1 Lý luận chung về “Cái đẹp”, cái đẹp nghệ thuật truyền thống, tổng quan về văn hóa du lịch.1 Lý luận chung về cái đẹp Từ xƣa đến nay, quan niệm về cái đẹp đƣợc các nhà Mỹ học bàn luận rất nhiều, song chƣa đi đến một quan điểm thống nhất. Quá trình tìm tòi về cái đẹp tựu chung thƣờng xoay quanh hai câu hỏi cơ bản: “ cái đẹp là gì?” và “ Cái gì là đẹp?”.
Các nhà mỹ học Hy Lạp cổ đại giải thích cái đẹp trên quan điểm vũ trụ luận. Họ dựa vào những đặc tính tự nhiên của sự vật để vạch ra những thuộc tính và những phẩm chất cái đẹp. Các nhà mỹ học duy vật đầu tiên ( Democorit, Aritsot) cho rằng cái đẹp có một số thuộc tính nhƣ sự cân xứng, sự hài hòa, trật tự, số lƣợng, chất lƣợng… Các nhà mỹ học duy tâm ( Platon) lại cho rằng cái đẹp không gắn với sự vật mà ta thƣờng thấy, nó chỉ tồn tại ở thƣợng giới, cái mà chúng ta gọi là đẹp ở hạ giới chỉ là “ Cái bóng” của một ý niệm đẹp chiếu rọi từ thiên đình xuống. Các nhà mỹ học Trung cổ phong kiến Phƣơng Tây cho rằng cái đẹp bị kéo lên chín tầng mây.
Vì cuộc đời chỉ là “ngọn nến leo lét trƣớc cơn gió mạnh”, là “con thuyền mỏng manh trƣớc cơn sóng dữ” nên cuộc đời không có cái đẹp. Chỉ có trênvƣờn địa đàng của chúa trời mới tràn ngập cây “ hằng sinh”, “ hằng sống”, mới có hạnh phúc vĩnh hằng. Thời phục hƣng đề cao khát vọng con ngƣời và đến thời kỳ Cổ điển đòi hỏi phải đẹp tình cảm để đề cao nghĩa vụ phục vụ quốc gia. Đến thời Khai sáng thì các nhà mỹ học Khai sáng cho rằng vẻ đẹp trong sáng đầy hòa điệu, hồn nhiên là vẻ đẹp lý tƣởng của con ngƣời.
Didro viết : “ Chỉ có những cái đẹp nào dựa trên sự liên hệ với những tạo vật của thiên nhiên thì mới sống lâu”. Các nhà mỹ học Cổ điển Đức giữa thế kỷ XVII đến giữa thế kỷ XIX Sinh viên: Vũ Thị Ánh Ngọc - Lớp: VH 1001 5 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP cũng đƣa ra những quan điểm về cái đẹp khác nhau.Kant ( 1724- 1804) không thừa nhận cái đẹp khách quan, theo ông mọi vẻ đẹp chỉ là do sự định giá chủ quan. Nhƣng theo F. Heghen ( 1770- 1831) lại cho rằng cái đẹp tồn tại trong tự nhiên tuy nhiên còn mờ nhạt, và cái đẹp đọng nhiều nhất trong nghệ thuật.
Các nhà mỹ học dân chủ cách mạng Nga cho rằng “ cái đẹp là cuộc sống, cái đẹp trong nghệ thuật là phản ánh cái đẹp ngoài đời” ( Tsecnusepki và Dobroeliubop). Các ông phản đối cái đẹp bất động, bất biến. cái đẹp phụ thuộc vào những điều kiện sinh sống của nhân dân. Quan điểm của một số dòng triết học Phƣơng Đông: Theo Nho giáo: “ Mỹ” gắn với “ Thiện”.
Khổng Tử nhấn mạnh sự thống nhất Thiện- nội dung và Mỹ - Hình thức. Đó là biểu hiện giữa Đức và Văn. Mạnh Tử cho rằng cái đẹp thống nhất với Thiện, thêm Tín nữa là sự thống nhất Chân- Thiện- Mỹ. Theo Tuân Tử thì cái đẹp của con ngƣời là ở sự tu dƣỡng đạo đức, học tập, làm cho tính ác đi vào quỹ đạo của thiện.
Theo Đạo giáo: cái đẹp chân chính là “ Đạo”. Cái “ Đạo” nằm trong hình thái sự vật, không nhìn thấy, không sờ thấy mà đều chỉ là cái hình thành bản thiên, tự tính, tự nhiên của nó. Cái đẹp của Đạo chân chính là không đầy không vơi, không thành, không mất, không có giới hạn giữa bộ phận và chỉnh thể. Theo Phật giáo: Đỉnh cao của cái đẹp là chốn “ Niết Bàn”, là trí tuệ, là cái không, cái siêu thực… Có thể đƣa ra nhận xét rằng Cái Đẹp là một trong bốn phạm trù cơ bản của Mỹ học, giữ vị trí trung tâm trong đời sống thẩm mỹ, đƣợc hình thành do sự kết hợp các yếu tố khách quan - chủ quan, tạo nên thực thể hoàn thiện Chân - Thiện Mỹ, gây nên ảnh hƣởng toàn vẹn, sinh động, đầy xúc cảm lành mạnh và tiến bộ.
Trong thế giới bao la rộng lớn với muôn ngàn hiện tƣợng, lĩnh vực, phạm vi khác nhau. Cái Đẹp đều có mặt, hiện hữu qua các sự vật với những kích thƣớc, hình dáng, phẩm chất… đem đến xúc cảm, rung động thẩm mỹ cho con ngƣời. Từ những cái đẹp của tự nhiên do tạo hóa sinh ra nhƣ sông, núi, trăng, sao, cây cỏ, hoa lá đến những thành phố, làng mạc, nhà cửa, đƣờng sá… đều do bàn tay lao Sinh viên: Vũ Thị Ánh Ngọc - Lớp: VH 1001 6 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP động của con ngƣời làm ra và ngay thậm chí bản thân con ngƣời với hành động, cử chỉ, ánh mắt, lời nói và hình thể đều chứa đựng yếu tố của Cái Đẹp, là hiện thân của Cái Đẹp. Tuy nhiên, trên hết, tính hoàn thiện, toàn vẹn, chỉnh thể, sinh động và hài hòa đƣợc thể hiện cao nhất trong cái đẹp nghệ thuật; vì đó là cái đẹp đƣợc sáng tạo ra bởi những chủ thể tài năng theo mục đích của con ngƣời nhằm vƣơn tới lý tƣởng của loài ngƣời tiến bộ.
Chúng ta biết từ kinh nghiệm thông thƣờng rằng mọi ngƣời không thấy đẹp đối với cùng đối tƣợng. Cái gì làm vui lòng một số ngƣời này lại không làm vui lòng những ngƣời khác. Thỉnh thoảng ngƣời ta “vin” vào điều này để nói rằng cái đẹp chỉ hiện hữu trong mắt ngƣời nhìn ngắm. Nhƣng nó cũng có nghĩa rằng khi thị hiếu của một ngƣời đƣợc trau dồi, ngƣời ấy có thể hiểu rõ giá trị của những yếu tố của cái đẹp trong các đối tƣợng mà các đối tƣợng này lại không làm vui lòng những ngƣời khác bởi vì họ chƣa biết cách đánh giá đúng cái đẹp đó.
Phƣơng diện chủ quan của cái đẹp đƣợc Aquinas nhìn nhận khi ông định nghĩa cái đẹp là cái làm vui lòng chúng ta đang khi nó đƣợc nhìn. Ở đây từ “đƣợc nhìn” không liên quan gì tới việc nhìn thấy bằng mắt. Nó ám chỉ cái nhìn bằng tâm trí – một kiểu nhận thức trực giác đối tƣợng riêng lẻ đƣợc chiêm ngắm hay đƣợc kinh nghiệm về mặt thẩm mỹ. Sự thỏa mãn hay vui thích mà đối tƣợng đẹp đem đến cho chúng ta nằm ở tính khả tri của nó – trong cách nó đƣợc cấu tạo để cho chúng ta có thể đánh giá đúng nó trong tình trạng cá thể độc đáo của nó.
Lý thuyết của Immanuel Kant về cái đẹp đƣợc trình bày bằng những thuật ngữ hơi khác. Tƣơng tự Aquinas, ông định nghĩa cái đẹp là cái gì mang lại cho người quan sát một kiểu vui thích không vụ lợi nào đó; nghĩa là, niềm vui thích, một cách thuần khiết và giản dị, đến từ sự thỏa mãn của chúng ta trong việc nhận biết đối tượng mà chúng ta đang chiêm ngắm. Nhƣng trong lúc Aquinas đƣa ra một phân tích về những yếu tố khách quan của cái đẹp, thì Kant viện đến một vài đặc điểm phổ quát của tinh thần con ngƣời làm nền tảng của Sinh viên: Vũ Thị Ánh Ngọc - Lớp: VH 1001 7 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ông để đƣa sự phán đoán thẩm mỹ thực thụ về cái đẹp lên trên phản ứng vui thích chủ quan đơn thuần trong đối tƣợng. Đối với ông, cũng nhƣ đối với Aquinas, thị hiếu tốt có thể đƣợc trau dồi và những ai có nó đều có một thẩm định đúng đắn hơn về những gì thực sự là đẹp.
Tóm lại, Đẹp là một hiện tƣợng thẩm mỹ vô cùng đa dạng và phức tạp. Nó là lĩnh vực vừa có tính bản thể vừa có tính định hƣớng. Có tính bản thể là vì đẹp có thể là một hiện tƣợng, sự vật hay một ý nghĩ, một hành vi… nó tồn tại nhƣ những chỉnh thể độc lập. Có tính định hƣớng vì đẹp còn là một chuẩn mực do con ngƣời xác định lý tƣởng sống sao cho đạt tới Chân- Thiện- Mỹ.
Đẹp là một lĩnh vực tinh thần, tình cảm. Dù có thể tồn tại dƣới dạng vật chất, cái đẹp cũng liên quan đến đời sống tinh thần, tình cảm. Đồng thời đẹp là giá trị: Nó là sự đánh giá, thẩm định của con ngƣời về bản thân mình. Trong sự cảm nhận, vì cái đẹp có yếu tố khách quan, nên sự đánh giá cái đẹp mang tính vô tƣ nhƣng không phải là vô định.
Gớt cho rằng: Cái đẹp cứu rỗi linh hồn chúng ta, không có cái đẹp cuộc sống thật buồn chán”. Đẹp vừa có tính khách quan vừa có tính chủ quan. Nó vừa đƣợc tạo thành bởi các kết cấu hài hào- toàn vẹn tự thân, vừa chịu sự đánh giá của chủ thể thẩm mỹ. Tiêu chí để đánh giá và cảm thụ cái đẹp là Chân- Thiện- Mỹ, trong biểu hiện phong phú của nó qua tính dân tộc, tính nhân dân, tính giai cấp và tính nhân loại.
Lý luận chung về cái đẹp nghệ thuật. Nghệ thuật là gì? Đó là một hiện tƣợng xã hội sống động, chứa đựng số phận cụ thể có bản chất “tổng hòa những quan hệ xã hội” rất chung mà cũng rất riêng, rất quen thuộc mà cũng rất mới lạ. Chính thể nghệ thuật là "bản sao" sinh động, toàn vẹn cuộc sống xã hội nhƣng đã vƣợt khỏi nguyên mẫu, lung linh tài năng sáng tạo và thấm đƣợm "cái tâm” vì con ngƣời, vì "ngƣời hơn" của quần chúng lao động mà nghệ sĩ là đại diện trung thực. Một tác phẩm có giá trị thẩm mỹ cao là kết quả Sinh viên: Vũ Thị Ánh Ngọc - Lớp: VH 1001 8 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP của sự hòa quyện nhuần nhuyễn ba yếu tố cơ bản: phản ánh chân thực đời sống xã hội, độc đáo, đặc sắc sáng tạo nghệ thuật tình cảm nhân đạo, với ý thức xã hội tiên tiến.
Thời Cổ đại, ngƣời ta chia nghệ thuật ra làm bảy loại hình nghệ thuật tự do (artes liberales) là: trivium (3 con đƣờng) bao gồm: Văn phạm, Logic, Hùng biện; và quadrivium (4 con đƣờng) bao gồm: Số học (lý thuyết về các con số), Hình học (các con số trong không gian), Âm nhạc (các con số trong thời gian), và Thiên văn học (các con số trong không gian và thời gian). Mẹ của cả 7 nghệ thuật đó là Triết học.