Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Thành phố Đà Nẵng là trung tâm kinh tế, văn hóa và du lịch trọng điểm của khu vực miền Trung – Tây Nguyên, sở hữu tài nguyên thiên nhiên phong phú cùng vị trí kết nối ba Di sản Văn hóa Thế giới (Cố đô Huế, Phố cổ Hội An và Thánh địa Mỹ Sơn). Trong định hướng phát triển kinh tế, ngành du lịch thành phố đã từng bước đa dạng hóa các sản phẩm nhằm đáp ứng nhu cầu trải nghiệm ngày càng cao của du khách. Bên cạnh các loại hình du lịch biển, nghỉ dưỡng, sinh thái hay teambuilding, mảng du lịch về nguồn, thăm lại chiến trường xưa và tìm hiểu di tích lịch sử cách mạng đang được chính quyền địa phương tập trung đầu tư và khai thác.

Khu căn cứ cách mạng K20 (thuộc khu dân cư Đa Mặn 5, phường Khuê Mỹ, quận Ngũ Hành Sơn) là một "căn cứ lõm" độc đáo nằm ngay trong lòng địch thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, được Quận ủy Quận III (Đà Nẵng) xây dựng và chỉ đạo từ cuối năm 1964. Năm 2010, Căn cứ địa K20 chính thức được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hạng là Di tích lịch sử cấp Quốc gia. Mặc dù sở hữu hệ thống di vật, chứng tích và mạng lưới hầm bí mật tiêu biểu cùng vị trí liền kề danh thắng Ngũ Hành Sơn và dòng sông Cổ Cò, hoạt động khai thác du lịch tại di tích này trong thực tế vẫn còn nhiều hạn chế, cơ sở hạ tầng chưa đồng bộ và chưa thu hút được đông đảo du khách, đặc biệt là khách quốc tế. Xuất phát từ bối cảnh đó, khóa luận “Thực trạng và giải pháp phát triển du lịch tại căn cứ địa K20 – quận Ngũ Hành Sơn – thành phố Đà Nẵng” được thực hiện nhằm khảo sát toàn diện thực trạng và xây dựng hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả khai thác du lịch tại điểm di tích.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể:

  1. Tìm hiểu quá trình hình thành, vai trò lịch sử, các giá trị văn hóa – sinh thái và những đóng góp của căn cứ địa cách mạng K20 trong sự nghiệp giải phóng dân tộc.
  2. Khảo sát và đánh giá thực trạng phát triển du lịch tại Khu di tích Căn cứ địa K20, bao gồm hiện trạng tài nguyên di tích, cơ sở hạ tầng kỹ thuật, công tác đầu tư quy hoạch, cơ cấu thị trường khách và các tuyến tham quan hiện hữu.
  3. Đề xuất các nhóm giải pháp khoa học, khả thi nhằm nâng cao hiệu quả khai thác du lịch tại Căn cứ K20, phục vụ công tác nghiên cứu, giáo dục truyền thống và đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Thực trạng hoạt động phát triển du lịch và các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả khai thác du lịch tại Khu di tích Căn cứ địa cách mạng K20.
  • Phạm vi không gian: Khu di tích Căn cứ địa K20 nằm trên địa bàn phường Khuê Mỹ, quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng (diện tích khu vực di tích khoảng gần 9 ha).
  • Phạm vi thời gian: Nghiên cứu vai trò lịch sử của căn cứ từ năm 1954 đến năm 1975 (có khái quát giai đoạn trước 1954); tập trung đánh giá thực trạng khai thác du lịch và các chính sách bảo tồn từ năm 2010 đến năm 2018.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận tiếp cận đối tượng nghiên cứu dựa trên các khái niệm chuyên ngành quân sự và lịch sử:

  • Căn cứ địa cách mạng: Theo Từ điển thuật ngữ quân sự Việt Nam và Từ điển thuật ngữ lịch sử phổ thông, căn cứ địa cách mạng là khu vực lãnh thổ và dân cư do lực lượng cách mạng làm chủ hoặc kiểm soát, có đầy đủ các yếu tố "địa lợi, nhân hòa", vững chắc về chính trị và quân sự, giữ vai trò cung cấp sức mạnh vật chất, hậu cần và tinh thần, đồng thời làm bàn đạp xuất phát để tiến công đối phương.
  • Căn cứ "lõm": Thuật ngữ chỉ loại hình căn cứ cách mạng đặc thù nằm sâu trong vùng địch tạm chiếm trong chiến tranh giải phóng. Căn cứ lõm có quy mô diện tích không lớn nhưng chiếm giữ vị trí địa bàn xung yếu, dựa vào thế trận lòng dân để nuôi giấu cán bộ, tổ chức lực lượng chính trị, vũ trang và chỉ đạo phong trào ngay tại hậu phương đối phương.
  • Phân loại căn cứ địa: Văn bản trích dẫn cách phân loại căn cứ theo đơn vị hành chính (Trung ương, địa phương, cơ sở) và theo địa hình, vùng lãnh thổ (đồng bằng, vùng núi, đô thị).

Phương pháp nghiên cứu:

  • Phương pháp chủ đạo: Kết hợp phương pháp lịch sử và phương pháp logic nhằm tái hiện quá trình hình thành, vai trò của căn cứ và rút ra các quy luật, giải pháp phát triển du lịch.
  • Phương pháp bổ trợ: Phương pháp khảo sát thực địa tại di tích K20 và khu vực phụ cận; phương pháp phân tích, tổng hợp tài liệu; phương pháp so sánh (đối chiếu với mô hình khai thác tại Địa đạo Củ Chi và Căn cứ Trung ương Cục miền Nam); phương pháp thống kê mô tả số liệu du khách; phương pháp phỏng vấn, tiếp xúc trực tiếp cán bộ quản lý, nhân chứng lịch sử, người dân địa phương và du khách.

Nguồn dữ liệu:

  • Hệ thống văn kiện của Đảng, Nhà nước và Quân đội Nhân dân Việt Nam; các công trình nghiên cứu của Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam, Viện Lịch sử Đảng; tài liệu lưu trữ của Bộ Tư lệnh Quân khu V và Ban Tuyên giáo Thành ủy Đà Nẵng.
  • Lịch sử Đảng bộ thành phố Đà Nẵng, Lịch sử Đảng bộ quận Ngũ Hành Sơn, Lịch sử Đảng bộ phường Bắc Mỹ An (1930–2005).
  • Các quyết định hành chính và quy hoạch: Quyết định số 9008/QĐ-UBND ngày 18/10/2011 của UBND TP. Đà Nẵng về dự án bảo tồn, tôn tạo di tích K20; Quyết định số 2707/QĐ-UBND ngày 22/04/2013 về quy hoạch đô thị sinh thái Hòa Quý.
  • Báo cáo số liệu thống kê du khách và hoạt động quản lý của Ban Quản lý Danh thắng Ngũ Hành Sơn và Ban Quản lý Khu di tích K20 giai đoạn 2016–2017.
  • Lời kể, hồi ký của các cán bộ lão thành, nhân chứng lịch sử từng hoạt động tại căn cứ K20.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan về Căn cứ địa cách mạng K20 – Thành phố Đà Nẵng

Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận về căn cứ địa, điểm qua các căn cứ tiêu biểu tại Việt Nam (Việt Bắc, Chiến khu Đ, U Minh), đồng thời phân tích chi tiết điều kiện tự nhiên, truyền thống lịch sử và các giá trị cốt lõi của Căn cứ K20.

Về vị trí địa lý, K20 nằm cách trung tâm thành phố Đà Nẵng khoảng 10 km về phía Đông Nam, cách danh thắng Ngũ Hành Sơn 1,5 km về phía Tây và cách phố cổ Hội An khoảng 20 km. Địa bàn căn cứ nguyên gồm các xóm Đa Phước (xóm Cát), Nước Mặn (xóm Đồng), làng Mỹ Thị và Bà Đa; trung tâm là xóm Đồng với 32 hộ dân sinh sống. Địa hình nơi đây được bao bọc bởi sông Cổ Cò, các cánh đồng trũng, đập Bờ Quan và chỉ có một đường độc đạo đi vào, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác cảnh giới bí mật.

Giai đoạn lịch sử Vai trò và sự kiện tiêu biểu tại Căn cứ K20
Thời phong kiến & Cận đại Địa bàn hưởng ứng phong trào Cần Vương (Nghĩa hội Quảng Nam của Trần Văn Dư, Huỳnh Bá Chánh), phong trào Duy Tân và phong trào chống sưu thuế Trung Kỳ.
Kháng chiến chống Pháp (1945–1954) Ngày 16/01/1946, Chi bộ Đặng Tuyến (xã An Bắc) được thành lập tại nhà bà Xã Dậu. Xây dựng tổ quân báo Nước Mặn (1948), hình thành hệ thống hầm nuôi giấu cán bộ Thành ủy Đà Nẵng và Liên Khu ủy V; tổ chức các phong trào đấu tranh chính trị (chống đổ chất thải rắn xuống sông Hàn năm 1949, chống nộp thuế ghe và vật liệu xây đồn 1951–1953, chống bắt lính cuối năm 1953).
Kháng chiến chống Mỹ (1954–1975) Đầu năm 1965, cơ quan đầu não Quận ủy Quận III tập trung về K20. Căn cứ trở thành trung tâm huấn luyện cán bộ cơ sở theo phương châm "hai chân, ba mũi"; nơi tiếp nhận chỉ đạo của Đặc Khu ủy Quảng Đà; nơi tổ chức các hội nghị triển khai kế hoạch Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, chiến dịch Hè 1968; trạm xuất quân đánh các đồn bốt và sân bay Nước Mặn.

Về tiềm lực hậu cần, từ năm 1964 đến 1974, nhân dân K20 đã đóng góp quỹ nuôi quân gần 2 triệu đồng (tương đương khoảng 20 lượng vàng), hơn 4 tấn gạo, 87 kg thuốc chữa bệnh và vận chuyển nhiều tấn thuốc nổ, vũ khí phục vụ bộ đội.

Khóa luận chỉ ra 4 giá trị cơ bản của Căn cứ K20:

  1. Giá trị lịch sử: Là minh chứng cho mô hình "lõm chính trị" kiên cường tồn tại giữa khu liên hợp quân sự khổng lồ của đối phương (nơi tập trung tới 6.000 quân đối phương cùng sân bay Nước Mặn), với mạng lưới hầm bí mật có thời điểm lên đến 157 hầm.
  2. Giá trị văn hóa: Thể hiện truyền thống cố kết cộng đồng, văn hóa làng xã bền chặt và lòng trung kiên của quần chúng đối với cách mạng.
  3. Giá trị cảnh quan, sinh thái: Nằm liền kề trục cảnh quan sông Cổ Cò và cụm danh lam thắng cảnh Ngũ Hành Sơn (Kim Sơn, Mộc Sơn, Thủy Sơn, Hỏa Sơn, Thổ Sơn), thuận lợi để kết nối tuyến du lịch đường thủy Đà Nẵng – Hội An.
  4. Giá trị giáo dục truyền thống: Là địa chỉ thực địa trực quan phục vụ công tác giảng dạy lịch sử địa phương cho học sinh, sinh viên trên địa bàn thành phố.

Chương 2: Thực trạng phát triển du lịch tại Khu di tích Căn cứ địa cách mạng K20 – Thành phố Đà Nẵng

Chương 2 phân tích hiện trạng tài nguyên, cơ sở hạ tầng, chính sách đầu tư và lượng khách thực tế tại K20, có đối chiếu với kinh nghiệm khai thác du lịch tại Địa đạo Củ Chi (TP.HCM) và Căn cứ Trung ương Cục miền Nam (Tây Ninh).

Hiện trạng các điểm tài nguyên di tích tại K20: Do tác động của thời gian, thiên tai ngập lụt và quá trình đô thị hóa, nhiều hầm bí mật và nhà cơ sở cách mạng đã bị vùi lấp. Hiện tại, khu căn cứ chỉ còn lưu giữ 6 địa điểm bảo lưu tốt nhất dấu tích lịch sử, trong đó có 4 di tích thành phần đã được xếp hạng cấp quốc gia:

  • Nhà truyền thống K20: Trưng bày tài liệu, hình ảnh, phương tiện, mái chèo, thuyền nan và vũ khí dùng để đào hầm và chiến đấu; có phòng trang bị máy chiếu phục vụ thuyết minh.
  • Nhà ông Huỳnh Phiên (Huỳnh Vấn): Cơ sở cách mạng hợp pháp từ thời chống Pháp; từ năm 1968 ông làm Trưởng ấp ngụy để tạo vỏ bọc nội tuyến, là trạm bảo vệ vòng hai và nơi hội họp của lãnh đạo Quận ủy Quận III, Ban An ninh, Đoàn thanh niên.
  • Nhà thờ Bà Nhiêu: Nơi làm việc của Chi bộ Đặng Tuyến thời chống Pháp; năm 1962 được đào hầm bí mật, là nơi diễn ra các hội nghị quan trọng chuẩn bị cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968.
  • Nhà thờ tộc Huỳnh: Cơ sở hoạt động của tổ du kích Đa Mặn, nơi trú ẩn của Phó Tham mưu trưởng Mặt trận Quảng Đà Nguyễn Ngọc Phỉ; lợi dụng các dịp giỗ chạp để tổ chức tập huấn kỹ thuật chiến đấu.
  • Nhà ông Huỳnh Trưng: Nằm ở vị trí hợp lưu sông Cổ Cò, Vĩnh Điện, Cẩm Lệ; từ năm 1964 được giao nhiệm vụ dùng đèn dầu phát ám hiệu cho bộ đội qua sông. Tại đây có căn hầm bí mật đào từ năm 1968 dưới bàn thờ gia tiên thông ra ngoài ruộng, từng nuôi giấu các đồng chí Bí thư Quận ủy (Năm Thông, Ba Vân) và thương bệnh binh; nơi giăng bẫy bắt sống tên ác ôn Trinh năm 1968.

Hạ tầng và công tác đầu tư: Hạ tầng kỹ thuật tại di tích còn nhiều bất cập: đường sông chưa có cầu cảng đón tàu du lịch, đường bộ thiếu bãi đỗ xe tập trung, thiếu trạm dừng chân và hệ thống điện chiếu sáng; phòng chiếu phim tại Nhà truyền thống chưa có hệ thống điện nước hoàn chỉnh; toàn khu vực chỉ còn lại 3 căn hầm bí mật nhưng trong tình trạng xuống cấp, không còn nguyên vẹn. Về chính sách, ngày 18/10/2011, UBND TP. Đà Nẵng đã ban hành Quyết định số 9008/QĐ-UBND phê duyệt dự án "Bảo tồn, tôn tạo khu căn cứ Cách mạng K20" với tổng mức đầu tư hơn 36 tỷ đồng (50% vốn Trung ương, 50% vốn thành phố) do Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch làm chủ đầu tư. Dự án chia làm 2 giai đoạn (Giai đoạn 1: 2011–2012; Giai đoạn 2: 2013), tuy nhiên tiến độ triển khai giai đoạn 2 còn chậm trễ.

Thống kê số lượng khách du lịch tại Khu di tích K20:

Năm Khách nội địa (lượt) Khách quốc tế (lượt) Tổng lượt khách
2016 1.030 264 1.294
2017 3.485 94 3.579
Tăng trưởng (%) +238,3% -64,4% +176,6%

(Nguồn: Số liệu thống kê của Ban Quản lý Khu di tích K20)

Số liệu cho thấy lượng khách năm 2017 tăng mạnh ở phân khúc khách nội địa (học sinh, sinh viên học ngoại khóa, các đoàn cựu chiến binh, cơ quan nhà nước), song lượng khách quốc tế sụt giảm đáng kể (từ 264 lượt xuống còn 94 lượt), phản ánh công tác quảng bá quốc tế và liên kết doanh nghiệp lữ hành còn hạn chế.


Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả phát triển du lịch tại Khu di tích Căn cứ địa cách mạng K20 - Thành phố Đà Nẵng

Chương 3 đề xuất hệ thống các giải pháp dựa trên việc phân tích chính sách quy hoạch đô thị quận Ngũ Hành Sơn, kết hợp với kết quả khảo sát nguyện vọng của người dân địa phương và ý kiến phản hồi của du khách.

Cơ sở thực tiễn đưa ra giải pháp:

  • Quy hoạch địa phương: Dự án Công viên văn hóa - lịch sử Ngũ Hành Sơn quy mô gần 139 ha; quy hoạch khớp nối tuyến du lịch ven biển 580 ha; Quyết định số 2707/QĐ-UBND ngày 22/04/2013 phê duyệt dự án khu đô thị sinh thái, công viên làng quê Hòa Quý diện tích 909.793 m2; đề án khơi thông sông Cổ Cò kết nối tuyến đường thủy Đà Nẵng – Hội An.
  • Ý kiến du khách và cộng đồng: Du khách đánh giá cao giá trị lịch sử nhưng kiến nghị bổ sung bãi đỗ xe, trạm dừng nghỉ, biển chỉ dẫn và nâng cao trình độ thuyết minh viên. Người dân địa phương đồng tình với chủ trương phát triển du lịch nhưng mong muốn được tham gia cung cấp dịch vụ và hưởng lợi từ kinh tế du lịch.

Hệ thống 8 nhóm giải pháp cụ thể:

  1. Nghiên cứu quy hoạch tổng thể: Đưa Khu di tích K20 vào quy hoạch phân khu phát triển du lịch của quận Ngũ Hành Sơn; kết nối không gian di tích với trục sinh thái ven sông Cổ Cò.
  2. Nghiên cứu, tôn vinh giá trị di tích: Tiếp tục sưu tầm tài liệu, hiện vật, lập hồ sơ khoa học chi tiết về các trận đánh, các hầm bí mật và ghi nhận công lao của các nhân chứng lịch sử.
  3. Đầu tư phục hồi, tôn tạo di tích: Đẩy nhanh tiến độ thi công các hạng mục giai đoạn 2 theo Quyết định 9008/QĐ-UBND; phục chế, gia cố chống sụt lún cho hệ thống hầm bí mật tại nhà ông Huỳnh Trưng, nhà thờ Bà Nhiêu, nhà thờ tộc Huỳnh.
  4. Phát triển cơ sở hạ tầng, vật chất kỹ thuật: Xây dựng bãi đỗ xe, điểm dừng chân cho khách bộ hành; xây dựng bến thuyền du lịch ven sông Cổ Cò để đón khách đường sông; hoàn thiện hệ thống điện chiếu sáng, cấp thoát nước tại Nhà truyền thống.
  5. Xây dựng tour, tuyến du lịch: Thiết kế tour kết nối Danh thắng Ngũ Hành Sơn – Khu căn cứ K20 – Làng đá mỹ nghệ Non Nước; tour du lịch đường thủy xuất phát từ bến sông Hàn theo sông Cổ Cò qua K20 đến Phố cổ Hội An.
  6. Đa dạng hóa sản phẩm, dịch vụ du lịch: Tổ chức hoạt động trải nghiệm thực tế "chui hầm bí mật"; xây dựng các chương trình học tập ngoại khóa trải nghiệm đời sống kháng chiến; phát triển dịch vụ ẩm thực truyền thống và quà lưu niệm thủ công địa phương.
  7. Đẩy mạnh tuyên truyền, quảng bá: Phối hợp với Sở Du lịch và các công ty lữ hành (ETV Hà Nội, Top Ten Travel, Khoảnh Khắc Việt, HGH Travel) đưa K20 vào ấn phẩm quảng bá du lịch Đà Nẵng; lập trang thông tin chuyên đề, biển chỉ dẫn song ngữ tại các nút giao thông.
  8. Khai thác và phát huy nguồn lao động địa phương: Tuyển chọn, bồi dưỡng nghiệp vụ thuyết minh viên cho con em các gia đình có công cách mạng tại K20; khuyến khích người dân tham gia làm dịch vụ du lịch cộng đồng.

Kết quả và đóng góp

  • Tổng hợp số liệu thực chứng: Khóa luận trích xuất và hệ thống hóa được các dữ liệu định lượng có giá trị về căn cứ K20: mạng lưới hầm bí mật thời kỳ cao điểm (157 hầm); số liệu quyên góp sức người, sức của cho kháng chiến 1964–1974 (gần 2 triệu đồng ~ 20 lượng vàng, >4 tấn gạo, 87 kg thuốc men); quy mô dự án đầu tư bảo tồn theo Quyết định 9008/QĐ-UBND (>36 tỷ đồng); số liệu thống kê du khách tại K20 giai đoạn 2016–2017 (tăng từ 1.294 lên 3.579 lượt).
  • Hệ thống giải pháp đồng bộ: Đưa ra 8 nhóm giải pháp bám sát thực trạng địa bàn, kết hợp giữa bảo tồn di sản lịch sử với phát triển hạ tầng, quy hoạch tour tuyến và giải quyết sinh kế cho cộng đồng dân cư địa phương.
  • Đóng góp khoa học và thực tiễn: Khóa luận là một trong những công trình chuyên khảo đầu tiên nghiên cứu có hệ thống về Căn cứ địa K20 dưới góc độ phát triển du lịch; góp phần bổ sung nguồn tư liệu lịch sử – văn hóa địa phương phục vụ công tác giáo dục truyền thống và hỗ trợ các cơ quan quản lý trong việc xây dựng chính sách khai thác di tích.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Phạm vi khảo sát số liệu du khách tại điểm di tích K20 mới chỉ thu thập được trong 2 năm (2016 và 2017) do Ban Quản lý Khu di tích mới được thành lập riêng biệt từ năm 2016. Các khảo sát ý kiến du khách và người dân địa phương chủ yếu dừng lại ở phương pháp phỏng vấn định tính, quy mô mẫu chưa lớn.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội sau khi dự án nạo vét, khơi thông toàn tuyến sông Cổ Cò hoàn thành; nghiên cứu chuyên sâu về mô hình liên kết công - tư trong quản lý, khai thác du lịch di sản lịch sử cách mạng tại Đà Nẵng.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng hưởng lợi: Sinh viên, học viên chuyên ngành Lịch sử, Văn hóa học, Du lịch, Quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành; cán bộ quản lý di tích tại Ban Quản lý Danh thắng Ngũ Hành Sơn, Phòng Văn hóa - Thông tin quận Ngũ Hành Sơn; giáo viên phổ thông tham khảo tài liệu giảng dạy phần lịch sử địa phương thành phố Đà Nẵng.
  • Nội dung đáng tham khảo: Phần tư liệu lịch sử chi tiết về 4 di tích thành phần (nhà ông Huỳnh Trưng, nhà ông Huỳnh Phiên, nhà thờ Bà Nhiêu, nhà thờ tộc Huỳnh) tại Chương 2 và hệ thống đề xuất tour tuyến kết nối đường sông Cổ Cò tại Chương 3.

Câu hỏi thường gặp

1. Căn cứ địa cách mạng K20 được thành lập khi nào và có vị trí địa lý như thế nào?
K20 là mật hiệu liên lạc do Quận ủy Quận III (Đà Nẵng) đặt, chính thức xây dựng từ cuối năm 1964 tại khu dân cư Đa Mặn 5, phường Khuê Mỹ, quận Ngũ Hành Sơn. Căn cứ cách trung tâm thành phố Đà Nẵng khoảng 10 km về phía Đông Nam, cách danh thắng Ngũ Hành Sơn 1,5 km về phía Tây và nằm bên bờ sông Cổ Cò.

2. Mạng lưới hầm bí mật tại Căn cứ K20 thời kỳ chống Mỹ có quy mô ra sao và hiện trạng còn lại những gì?
Thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, nhân dân K20 đã đào hệ thống hầm bí mật dày đặc, có thời điểm lên tới 157 căn hầm để nuôi giấu cán bộ, thương binh và cất giấu vũ khí. Trải qua thời gian và thiên tai ngập lụt, phần lớn hầm đã bị sụt lở; hiện tại toàn khu vực chỉ còn lại 3 căn hầm nhưng đều trong tình trạng hư hỏng, không còn nguyên vẹn.

3. Những điểm di tích thành phần nào thuộc Khu căn cứ K20 đã được xếp hạng di tích lịch sử quốc gia?
Năm 2010, Căn cứ địa K20 được xếp hạng Di tích cấp Quốc gia, trong đó có 4 điểm di tích thành phần được xếp hạng gồm: Nhà ông Huỳnh Phiên (Huỳnh Vấn), Nhà thờ Bà Nhiêu, Nhà thờ tộc Huỳnh và Nhà ông Huỳnh Trưng.

4. Quy mô và nguồn vốn đầu tư của dự án bảo tồn, tôn tạo Khu căn cứ K20 theo Quyết định số 9008/QĐ-UBND là bao nhiêu?
Dự án được UBND TP. Đà Nẵng phê duyệt ngày 18/10/2011 với tổng mức đầu tư hơn 36 tỷ đồng (ngân sách Trung ương 50% và ngân sách thành phố 50%), do Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch làm chủ đầu tư. Dự án gồm 2 giai đoạn: Giai đoạn 1 (2011–2012) tôn tạo các di tích, xây mới nhà truyền thống, đài tưởng niệm, cổng làng, mở đường giao thông 10,5 m; Giai đoạn 2 (2013) hoàn thiện hạ tầng và tu bổ hầm bí mật, nhà ở cơ sở cách mạng.

5. Tình hình lượng khách tham quan tại Căn cứ K20 biến động như thế nào trong giai đoạn 2016–2017?
Năm 2016, khu di tích đón 1.294 lượt khách (1.030 khách nội địa, 264 khách quốc tế). Năm 2017, tổng lượt khách đạt 3.579 lượt, tăng 176,6% so với năm 2016. Trong đó, khách nội địa tăng mạnh lên 3.485 lượt (tăng 238,3%), nhưng khách quốc tế giảm mạnh xuống còn 94 lượt (giảm 64,4%).


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Đỗ Lê Tuấn Thanh đã cung cấp một bức tranh toàn diện và có hệ thống về giá trị lịch sử của Căn cứ địa cách mạng K20 cũng như thực trạng khai thác du lịch tại địa điểm này đến năm 2018. Thông qua các dữ liệu thực địa và số liệu thống kê cụ thể, tác giả đã chỉ rõ tiềm năng to lớn đi đôi với những bất cập về hạ tầng kỹ thuật, sản phẩm và công tác quảng bá tại di tích. Tám nhóm giải pháp được đề xuất trong công trình mang tính thực tiễn cao, đóng góp cơ sở khoa học quan trọng cho việc bảo tồn di sản và phát triển du lịch bền vững tại quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng.