Chương 1: Tổng quan về Căn cứ địa cách mạng K20 – Thành phố Đà Nẵng. - Chương 2: Thực trạng phát triển du lịch tại Khu di tích Căn cứ địa cách mạng K20 – thành phố Đà Nẵng. - Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả phát triển du lịch tại Khu di tích Căn cứ địa cách mạng K20 – thành phố Đà Nẵng. 6 Luan van PHẦN NỘI DUNG CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CĂN CỨ ĐỊA CÁCH MẠNG K20 – THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 1.
Khái quát về căn cứ địa cách mạng 1. Khái niệm của căn cứ địa cách mạng, căn cứ “lõm” Theo Từ điển thuật ngữ quân sự Việt Nam: “Căn cứ địa cách mạng là vùng lãnh thổ và dân cư do lực lượng cách mạng làm chủ, tương đối an toàn (có thể là vùng tự do hoặc căn cứ du kích đã được xây dựng, củng cố vững chắc).127] Cuốn Từ điển thuật ngữ lịch sử phổ thông do Phan Ngọc Liên chủ biên định nghĩa: “Căn cứ địa cách mạng là khu vực lãnh thổ có đầy đủ các yếu tố”địa lợi, nhân hòa”, “Tiến khả dĩ công, thoái khả dĩ thủ”, có cơ sở vững chắc về chính trị và quân sự, được dùng làm nơi xây dựng lực lượng cách mạng để từ đó phát triển rộng ra nơi khác”.77] Trên cơ sở nghiên cứu tài liệu ta thấy rằng, căn cứ “lõm” là thuật ngữ dùng để chỉ căn cứ địa cách mạng của ta song điểm khác cơ bản giữa căn cứ địa bình thường và căn cứ “lõm” là ở địa bàn, phạm vi hoạt động, trong khi căn cứ địa là khu vực lãnh thổ và dân cư do ta làm chủ, tương đối an toàn thì căn cứ lõm là “Căn cứ của lực lượng kháng chiến nằm sâu trong vùng địch tạm chiếm trong kháng chiến chống Pháp và kháng chiến chống Mỹ; xuất hiện trong chiến tranh nhân dân Việt Nam để đấu tranh chống địch có hiệu quả. Căn cứ lõm thường có quy mô không lớn nhưng chiếm vị trí xung yếu mà lực lượng kháng chiến dựa vào đó để xây dựng và phát triển lực lượng phục vụ cho đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang trong vùng địch hậu. Phân loại căn cứ địa cách mạng Theo Từ điển thuật ngữ quân sự Việt Nam: “Theo đơn vị hành chính, có căn cứ địa cách mạng: Trung ương, địa phương, cơ sở.
Theo địa hình và vùng lãnh thổ, có căn cứ địa cách mạng: ở đồng bằng, vùng núi, đô thị”. Vai trò của căn cứ địa cách mạng 7 Luan van Cuốn Từ điển thuật ngữ lịch sử phổ thông: “Căn cứ địa là nơi cung cấp sức mạnh vật chất, quân sự, nguồn cổ vũ về tinh thần, chính trị trong cách mạng và kháng chiến.77] Cũng theo các nguồn tư liệu khác được nghiên cứu cũng cho thấy được vai trò của các căn cứ địa cách mạng. Cụ thể: “Căn cứ địa ở Việt Nam là chỗ dựa, nơi bày thế trận tiêu diệt đối phương tại chỗ, đồng thời làm nơi xuất phát, bàn đạp cho các lực lượng kháng chiến tiến công địch ở bên ngoài căn cứ, tạo điều kiện cho phong trào du kích chiến tranh phát triển ở vùng tạm bị chiếm, góp phần tạo ra cục diện chiến trường ngày càng có lợi cho cách mạng và kháng chiến. Một số căn cứ địa cách mạng tại Việt Nam Trên phạm vi cả nước, ngay trong kháng chiến chống Pháp, hàng loạt căn cứ địa ra đời và từng bước phát triển, như: Việt Bắc, các chiến khu Thanh - Nghệ - Tĩnh, Nam - Ngãi - Bình - Phú, Chiến khu Đ, Đồng Tháp Mười, U Minh, Dương Minh Châu… Bước sang cuộc kháng chiến chống Mỹ, miền Bắc trở thành hậu phương lớn của tiền tuyến miền Nam.
Trên cơ sở các chiến khu cũ, hàng loạt căn cứ địa cách mạng được xây dựng và phát triển trong thế xen kẽ và thông nối toàn bộ chiến trường miền Nam. Trong kháng chiến chống Pháp, Căn cứ địa Việt Bắc trở thành Thủ đô kháng chiến của cả nước. Trong kháng chiến chống Mỹ, Vĩnh Linh, rồi Tây Ninh trở thành “Thủ đô kháng chiến” của miền Nam. Các khu, tỉnh, huyện, xã đều có căn cứ địa, “Thủ đô kháng chiến” của riêng mình.
Việt Bắc là một vùng phía Bắc Hà Nội trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp bao trùm nhiều tỉnh ở Bắc Bộ. Ngày nay nó thường được hiểu là khu vực gồm 6 tỉnh Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Hà Giang, Tuyên Quang, Thái Nguyên hay còn được gọi tắt là Cao - Bắc - Lạng - Hà - Tuyên - Thái. Việt Bắc là căn cứ địa cách mạng ra đời sớm nhất và lớn nhất, được gọi một cách văn hoa là “Thủ đô kháng chiến”, bởi đây là nơi trú đóng của đầu não Đảng Cộng sản Việt Nam thời trước khi khởi nghĩa năm 1945, và là nơi trú đóng của đầu não chính phủ Việt Minh trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp (1945 - 1954). Nó 8 Luan van cũng được gọi là “Thủ đô gió ngàn”, tên gọi này được bắt nguồn từ bài thơ “Sáng tháng năm” của nhà thơ Tố Hữu.
Quá trình củng cố, phát triển của căn cứ địa Việt Bắc gắn liền với hoạt động lãnh đạo cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Trung ương Đảng và Chính phủ. Chiến khu Đ là một căn cứ quân sự ở miền Đông Nam bộ của Mặt trận Việt Minh và Quân đội Nhân dân Việt Nam trong Chiến tranh Đông Dương và của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam và Quân Giải phóng Miền Nam Việt Nam trong Chiến tranh Việt Nam. Chiến khu được thành lập vào tháng 2 năm 1946, bao gồm 5 xã: Tân Hòa, Mỹ Lộc, Tân Tịch, Thường Lang, Lạc An (nay thuộc thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương). Căn cứ địa U Minh là căn cứ cách mạng trong các thời kỳ chống Pháp, chống Mỹ và có lúc là căn cứ của nghĩa quân Anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực.
Trong 9 năm kháng chiến chống Pháp, nơi đây là căn cứ của Quân khu IX, Xứ uỷ, Trung ương Cục Miền Nam, Ủy ban Kháng chiến hành chánh Nam Bộ. U Minh Thượng có kinh xáng Chắc Băng là trung tâm khu tập kết 200 ngày thi hành Hiệp định Giơnevơ của miền Nam. Sau cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ, đồng chí Võ Văn Kiệt và một số đồng chí lão thành Cách mạng xây dựng lại cơ sở, gây dựng lại phong trào. Và từ đó, U Minh Thượng là căn cứ Cách mạng của Liên Tỉnh ủy miền Tây (sau được đổi tên là Khu Tây Nam Bộ, tức Khu IX), Liên Tỉnh ủy Hậu Giang, là nơi thành lập Tỉnh ủy lâm thời Rạch Giá,… 1.
Căn cứ địa cách mạng K20 – thành phố Đà Nẵng 1. Điều kiện tự nhiên, dân cư và truyền thống cách mạng Về vị trí địa lý, Căn cứ K20 nằm trên địa bàn khu dân cư Đa Mặn 5 (thuộc phường Khuê Mỹ, quận Ngũ Hành Sơn) cách phố cổ Hội An khoảng 20km và danh thắng Ngũ Hành Sơn khoảng 1,5km về phía Tây; cách trung tâm thành phố Đà Nẵng khoảng 10km về phía Đông Nam; phía Đông, phía Bắc giáp đường quy hoạch khu số 4 mở rộng – Nam cầu Tuyên Sơn; phía Tây giáp đường Trần Hưng Đạo; phía Nam giáp đường cách ly đường dây 110KV. Có diện tích gần 9ha, dân cư ở đây thưa thớt, sống trong khu căn cứ chỉ vài trăm hộ, co cụm thành từng xóm nhỏ về phía Nam, giữa vùng đất thấp để tiện cho việc sản xuất nông nghiệp trồng lúa và hoa màu. 9 Luan van Theo các nhân chứng lịch sử, trong thời kỳ chống Mỹ địa bàn Căn cứ K20 bao gồm các xóm Đa Phước (xóm Cát), Nước Mặn (xóm Đồng) và một phần của làng Mĩ Thị, Bà Đa thuộc quận III – Đà Nẵng, trung tâm căn cứ chính là xóm Đồng với lũy tre bao bọc xung quanh, cây cối rậm rạp; phía Đông tiếp giáp với song và đồng ruộng , phía Tây giáp sông Cổ Cò, Hòa Quý, Hòa Xuân; phía Nam giáp cánh đồng trũng vào tới đập Bờ Quan, phía Bắc giáp cánh đồng rộng lớn kéo dài xuống đập Mĩ Thị.
Mỹ - Ngụy muốn vào xóm Đồng thì phải qua một chiếc cầu độc đạo. Vì bốn phía đều trống nên việc cảnh giới, bảo vệ cho căn cứ rất thuận lợi, có thể phát hiện địch hoặc người lạ vào xóm từ xa để báo động cho cán bộ cách mạng xuống hầm bí mật trú ẩn. Tại xóm Đồng thời bấy giờ có tổng cộng 32 hộ dân sinh sống và ở đây lúc cao điểm có thể che giấu được gần 100 cán bộ, du kích, chiến sĩ biệt động của ta. Với địa thế thuận lợi, được che chở, bao bọc giữa ranh giới tự nhiên nên nơi đây đã trở thành điểm khởi đầu cho việc thông tin liên lạc từ vùng giải phóng vào căn cứ và từ căn cứ vào trung tâm thành phố bằng hệ thống giao thông thủy, bộ.
Do đặc điểm vị trí, địa hình nói trên nên K20 luôn được cả ta và địch xác định là một địa điểm trọng yếu ở phía Đông Nam thành phố Đà Nẵng. Địch sử dụng nơi này làm chốt chặn, kiểm soát lực lượng cách mạng, tạo ra hành lang quân, dân sự bảo vệ trung tâm thành phố ở phía Đông Nam, trong khi đó ta xác định đây là địa bàn chiến lược để xây dựng và phát triển lực lượng cách mạng, cầu nối giữa cách mạng địa phương với vùng giải phóng, là bàn đạp để lực lượng vũ trang của ta từ hậu cứ phục kích vào vùng địch hậu. Về khí hậu, Căn cứ K20 nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa với nhiệt độ trung bình hàng năm là 25 – 26oC; lượng mưa trung bình ở mức 2066mm, mưa tập trung nhiều vào các tháng 9,10,11,12 và chiếm khoảng 70% tổng lượng mưa hàng năm; độ ẩm trung bình là 82%. Về chế độ gió, ở đây có hai hướng gió chủ đạo là gió Đông và gió Bắc.
Gió Đông thịnh hành từ tháng 4 đến tháng 9 hàng năm và gió Bắc thịnh hành từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau. Vì gần biển nên hàng năm nơi đây cũng thường phải đón nhận các đợt gió bão từ biển Đông thổi vào, với cấp bão thường gặp là cấp 9 đến cấp 10, rơi vào khoảng thời gian từ tháng 9 dến tháng 12. 10 Luan van Về chế độ thủy văn, vùng Căn cứ K20 trong chống Mỹ tiếp giáp với biển và các con sông nên vào mùa mưa, nhiều khu vực ở đây bị ngập nước và xâm thực mặn ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống, hoạt động sản xuất nông nghiệp của nhân dân. Theo sử cũ, quá trình “Nam tiến” vùng đất Đa Mặn, Mĩ Thị, Bà Đa đã được những cư dân Việt ở phía Bắc đèo Ngang vào khai phá và sinh sống từ những thập niên cuối thế kỷ XV, đầu thế kỷ XVI.