Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, nhu cầu du lịch của con người ngày càng mở rộng và đa dạng hóa với nhiều loại hình như du lịch sinh thái, du lịch văn hóa - lịch sử hay du lịch MICE. Cùng với áp lực từ nhịp sống hiện đại, xu hướng tìm về các không gian thanh tịnh để giải tỏa căng thẳng, cân bằng đời sống tinh thần và củng cố đức tin đã thúc đẩy loại hình du lịch tâm linh hình thành và phát triển. Việt Nam là quốc gia có nền văn hóa phong phú, sở hữu hệ thống di tích tôn giáo, tín ngưỡng và lễ hội phân bố rộng khắp, tạo điều kiện thuận lợi cho việc khai thác các hoạt động hành hương, chiêm bái.

Thành phố Đà Nẵng nằm ở vị trí trung độ của miền Trung, giữ vai trò đầu mối giao thông và trung tâm kinh tế quan trọng. Địa phương sở hữu cảnh quan tự nhiên gắn với hệ thống đồi núi, bờ biển cùng các công trình kiến trúc tôn giáo, tín ngưỡng lâu đời như các ngôi chùa trên danh thắng Ngũ Hành Sơn, bán đảo Sơn Trà, đỉnh Bà Nà và hệ thống đình làng, di tích lịch sử cách mạng. Dù có nhiều tiềm năng về tài nguyên du lịch tâm linh, việc khai thác thực tế tại Đà Nẵng trong giai đoạn trước năm 2011 vẫn còn mang tính tự phát, phân tán, chưa hình thành hệ thống sản phẩm hoàn chỉnh và chưa tương xứng với tiềm năng sẵn có. Do đó, tác giả Phạm Thị Thủy (Khoa Lịch sử, Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng) đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp nhằm làm rõ thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển loại hình này.

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là phân tích, đánh giá toàn diện tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch tâm linh tại thành phố Đà Nẵng; từ đó đề xuất các giải pháp khả thi nhằm thúc đẩy du lịch tâm linh phát triển đúng hướng, đóng góp vào cơ cấu ngành du lịch của địa phương và cả nước.

Nhiệm vụ nghiên cứu được xác định cụ thể gồm 3 nội dung:

  1. Tìm hiểu, hệ thống hóa cơ sở tri thức lý luận chung về du lịch và du lịch tâm linh.
  2. Khảo sát, phân tích các tiềm năng tài nguyên và đánh giá thực trạng phát triển du lịch tâm linh tại Đà Nẵng.
  3. Xác định định hướng và đề xuất hệ thống giải pháp phát triển loại hình du lịch tâm linh tại thành phố Đà Nẵng trong giai đoạn tiếp theo.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Vấn đề phát triển du lịch tâm linh tại thành phố Đà Nẵng.
  • Phạm vi không gian: Địa bàn thành phố Đà Nẵng (bao gồm 6 quận nội thành và huyện ngoại thành Hòa Vang).
  • Phạm vi thời gian: Tập trung nghiên cứu dữ liệu và thực tiễn trong giai đoạn 2011 – 2015.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng nội dung dựa trên khung lý thuyết về du lịch học, văn hóa học và các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành:

  • Nguồn gốc và khái niệm du lịch: Thuật ngữ du lịch bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp (Tonus - đi một vòng), Latinh hóa thành Turnur, chuyển hóa sang tiếng Pháp thành Tour (cuộc dạo chơi) và Touriste (người dạo chơi). Theo Robert Languar (1980), thuật ngữ Tourism xuất hiện trong tiếng Anh từ khoảng năm 1800. Khóa luận dẫn chiếu Điều 10 Pháp lệnh Du lịch Việt Nam năm 1999 xác định du lịch là hoạt động ngoài nơi cư trú thường xuyên nhằm thỏa mãn nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định.
  • Khái niệm khách du lịch: Căn cứ Điều 20 Pháp lệnh Du lịch Việt Nam năm 1999, phân định rõ hai nhóm đối tượng là khách du lịch nội địa và khách du lịch quốc tế.
  • Khái niệm du lịch tâm linh: Khóa luận tổng hợp định nghĩa từ các nhà hoạt động thực tiễn như ông Nguyễn Trung Toàn (Giám đốc Công ty Du lịch & Dịch vụ Hoa Thiền - Zenflower) và bà Huỳnh Long Ngọc Diệp (Giám đốc Công ty Ngọc Việt Travel), xác định đây là hình thức kết hợp giữa du lịch và hành hương đến các địa điểm thiêng liêng. Ngoài ra, tác giả trích dẫn quan điểm của Tiến sĩ APJ Abdul Kalam (cựu Tổng thống Ấn Độ) về sự khác biệt giữa du lịch thông thường (ngắm nhìn các chiều kích vật lý) với du lịch tâm linh (thăm viếng tư tưởng, tâm trí của các bậc tiền nhân tại các không gian văn minh).
  • Đặc điểm và tài nguyên du lịch tâm linh: Khóa luận xác định 4 đặc trưng cơ bản (gắn với đức tin tôn giáo/thờ cúng tổ tiên, luôn hướng thiện, hướng về cội nguồn, mang tính giáo dục sâu sắc) và phân loại tài nguyên thành hai dạng: tài nguyên vật thể (cơ sở tôn giáo, cơ sở tín ngưỡng, di tích lịch sử cách mạng) và tài nguyên phi vật thể (niềm tin tôn giáo, phong tục tập quán, lễ hội dân gian, ẩm thực chay, diễn xướng văn hóa).
  • Cơ sở pháp lý: Điều 70 Hiến pháp năm 1992 của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam quy định về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân.

Phương pháp nghiên cứu được tác giả áp dụng bao gồm:

  • Phương pháp thu thập và xử lý số liệu: Thu thập tài liệu từ sách chuyên khảo, báo cáo thống kê ngành du lịch, văn bản quản lý và các công trình khoa học liên quan.
  • Phương pháp thực địa: Khảo sát thực tế tại các điểm di tích, danh lam thắng cảnh, chùa chiền, đình làng trên địa bàn Đà Nẵng; ghi nhận hiện trạng hoạt động và phỏng vấn trực tiếp du khách, người dân bản địa, ban quản lý di tích.
  • Phương pháp chuyên gia: Tham khảo ý kiến đánh giá của các nhà nghiên cứu lịch sử, cán bộ quản lý văn hóa - du lịch và các doanh nghiệp lữ hành.
  • Phương pháp thống kê: Xử lý các chuỗi số liệu về lượt khách du lịch, cơ cấu khách quốc tế - nội địa, số lượng cơ sở thờ tự và quy mô lễ hội.
  • Phương pháp phân tích - tổng hợp: Hệ thống hóa dữ liệu để rút ra nhận định về tiềm năng, mặt tích cực, hạn chế và đề xuất giải pháp.

Nguồn dữ liệu của đề tài:

  • Tài liệu thành văn: Sách địa chí, lịch sử địa phương (Quảng Nam Đà Nẵng của Dương Văn Tâm, Địa lý du lịch của Nguyễn Thị Minh Tuệ, công trình nghiên cứu về Ngũ Hành Sơn của TS. Lưu Trang...), văn bản pháp quy, kỷ yếu khoa học.
  • Dữ liệu thực địa: Ý kiến thu thập tại chỗ của người dân, du khách tại Ngũ Hành Sơn, Sơn Trà, Bà Nà và các đình làng.
  • Dữ liệu điện tử: Cổng thông tin của Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch Đà Nẵng, website các công ty lữ hành (Viet Da Travel, Đà Nẵng Xanh).

Nội dung chính theo từng chương

Chương I: Cơ sở lý luận chung

Chương này tập trung làm rõ hệ thống lý luận nền tảng phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài:

  • Khái niệm và phân loại: Trình bày nguồn gốc học thuật của các khái niệm du lịch, khách du lịch nội địa, khách du lịch quốc tế theo quy định của pháp luật Việt Nam.
  • Bản chất du lịch tâm linh: Phân tích du lịch tâm linh như một loại hình du lịch đặc thù, kết hợp giữa nhu cầu thưởng ngoạn phong cảnh, nghỉ dưỡng với nhu cầu thực hành tín ngưỡng, thanh lọc thân tâm và tìm kiếm sự an lạc.
  • Đặc trưng cơ bản: Khái quát 4 đặc trưng chủ yếu gồm tính gắn kết với đức tin tôn giáo và lòng tôn kính tiền nhân; tính hướng thiện thông qua các hoạt động cầu an, tu tập; tính hướng về cội nguồn văn hóa dân tộc; và giá trị giáo dục đạo đức, tăng cường sự hòa hợp liên tôn.
  • Vai trò và ý nghĩa: Đánh giá vai trò của du lịch tâm linh đối với du khách (giải tỏa áp lực, nuôi dưỡng tâm trí) và đối với ngành du lịch (tăng doanh thu, đa dạng hóa sản phẩm, kích thích đầu tư hạ tầng, tạo việc làm).
  • Phân loại tài nguyên du lịch tâm linh: Xác định cấu trúc tài nguyên vật thể (chùa chiền, nhà thờ họ, đền miếu, lăng mộ, nghĩa trũng liệt sĩ) và tài nguyên phi vật thể (lễ hội, văn hóa ẩm thực chay, âm nhạc tôn giáo, thiền định).

Chương II: Tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch tâm linh tại thành phố Đà Nẵng

Chương II là phần nội dung trọng tâm, cung cấp bức tranh chi tiết về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, hệ thống tài nguyên và số liệu khai thác thực tế:

  1. Khái quát địa bàn nghiên cứu:

    • Vị trí địa lý: Tọa độ từ 15°55’ đến 16°14’ Bắc, 107°18’ đến 108°20’ Đông; cách Hà Nội 764 km, cách TP. Hồ Chí Minh 964 km, cách Huế 108 km; là trung điểm nối 4 di sản thế giới miền Trung (Phong Nha – Kẻ Bàng, Cố đô Huế, Phố cổ Hội An, Thánh địa Mỹ Sơn) và là cửa ngõ ra biển của Hành lang kinh tế Đông – Tây qua cảng Tiên Sa.
    • Dân số và kinh tế: Dân số đạt 887.070 người; tốc độ tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 2001–2006 đạt 12%; cơ cấu kinh tế chuyển dịch với công nghiệp - xây dựng chiếm 47,59%, dịch vụ chiếm 49,4%, nông - lâm - thủy sản chiếm 3,01%; có 4 làng nghề truyền thống (đá Non Nước, nước mắm Nam Ô, đan lát Yến Nê, dệt chiếu Cẩm Nê).
    • Lịch sử - văn hóa: Địa bàn sáp nhập vào Đại Việt năm 1306 (sự kiện vua Trần Anh Tông gả công chúa Huyền Trân cho vua Chế Mân đổi lấy hai châu Ô, Lý); trải qua các giai đoạn đô thị Tourane thời Pháp thuộc đến khi trở thành thành phố trực thuộc Trung ương ngày 01/01/1997 và đô thị loại 1 ngày 15/7/2003.
  2. Tiềm năng tài nguyên du lịch tâm linh vật thể:

    • Hệ thống cơ sở Phật giáo: Toàn thành phố có khoảng 105 ngôi chùa và 2 tịnh xá. Phân bố cụ thể: quận Hải Châu có 25 chùa và 1 tịnh xá (tiêu biểu: Pháp Lâm, Tam Bảo, Bát Nhã, Phổ Đà); quận Thanh Khê có 15 chùa và 1 tịnh xá (Kỳ Viên, Tân Thành, Tam Giác); quận Ngũ Hành Sơn có 18 chùa (Tam Thai, Linh Ứng, Quán Thế Âm, Từ Lâm); quận Sơn Trà có 14 chùa (Linh Ứng Bãi Bụt, An Hải, Mỹ Khê); quận Liên Chiểu có 13 chùa (Quang Minh, Kim Sơn); huyện Hòa Vang có 20 chùa.
    • Các điểm nhấn Phật giáo tiêu biểu:
      • Chùa Linh Ứng – Bãi Bụt (Sơn Trà): Nằm ở độ cao 693 m so với mực nước biển; có tượng Quan Thế Âm cao 67 m (đường kính tòa sen 35 m, tương đương tòa nhà 30 tầng) do hai nhà điêu khắc Thụy Lam và Châu Viết Thạnh thực hiện; lòng tượng gồm 17 tầng với 21 bệ thờ Phật.
      • Cụm chùa Ngũ Hành Sơn: Chùa Quán Thế Âm (Kim Sơn) xây dựng năm 1950, có pho tượng Quan Âm cao 1,75 m; Chùa Tam Thai (Thủy Sơn) xây dựng từ thời Hậu Lê (năm 1630), vua Minh Mạng trùng tu năm 1825 và đúc 9 tượng, 3 chuông lớn (năm 1827), trùng tu lớn năm 1995; Chùa Linh Ứng – Non Nước có tháp Xá Lợi cao 30 m thờ gần 200 tượng Phật, Bồ Tát, La Hán.
      • Chùa Linh Ứng – Bà Nà: Tọa lạc ở độ cao gần 1.500 m, khánh thành ngày 05/3/2004, có tượng Phật Thích Ca ngồi thiền cao 27 m.
    • Hệ thống di tích lịch sử, văn hóa, lăng mộ, đình làng:
      • Nhà thờ phái chư tộc Quá Giáng (xã Hòa Phước, Hòa Vang): Xây dựng năm Tân Tỵ (1821) thờ Quan Thánh và tiền hiền 4 tộc Đinh, Lê, Trần, Nguyễn; được Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận di tích quốc gia ngày 01/02/2000.
      • Lăng mộ Ông Ích Khiêm (xã Hòa Thọ, Hòa Vang): Danh tướng triều Nguyễn tham gia kháng chiến chống Pháp năm 1858; mộ xây hình bát giác, cải táng năm 1938; công nhận di tích quốc gia ngày 12/7/2001.
      • Đình làng Túy Loan (xã Hòa Phong, Hòa Vang): Xây dựng khoảng năm 1470 (thời Lê Thánh Tông, niên hiệu Hồng Đức); hiện lưu giữ văn bia lập năm 1889 và 20 sắc phong thần từ thời vua Minh Mạng (1826) đến vua Khải Định (1924); công nhận di tích quốc gia ngày 04/01/1999.
      • Nghĩa trũng Khuê Trung (quận Hải Châu): Thành lập năm 1866 (năm Tự Đức thứ 19) quy tụ hơn 1.000 ngôi mộ tướng sĩ hy sinh trong trận chiến chống Pháp năm 1858; công nhận di tích quốc gia ngày 04/01/1999.
      • Nghĩa địa Y Pha Nho (bán đảo Sơn Trà): Nơi chôn cất các binh lính trong liên minh viễn chinh Pháp - Tây Ban Nha giai đoạn 1858–1860, hiện còn hơn 40 ngôi mộ và nhà nguyện mang dòng chữ OSSUAIRE.
  3. Tiềm năng phi vật thể và lễ hội:

    • Thành phố duy trì nhiều lễ hội tôn giáo, dân gian truyền thống thu hút đông đảo du khách và cộng đồng cư dân:
Tên lễ hội Thời gian (Âm lịch) Địa điểm Quy mô và đối tượng tham gia
Lễ hội Quán Thế Âm 19/2 KDL Ngũ Hành Sơn Lớn; hơn hàng ngàn người; khách trong nước và quốc tế
Lễ hội Cầu Ngư Tháng Giêng Mân Thái, Thọ Quang, Thanh Khê Hàng trăm người; ngư dân và cộng đồng ven biển
Lễ hội đình làng Hòa Mỹ 12/1 Quận Liên Chiểu Hàng trăm người; khách trong nước và nhân dân địa phương
Lễ hội đình làng An Hải 10/8 Quận Sơn Trà Hàng trăm người; cư dân địa phương
Lễ hội đình làng Túy Loan 14 - 15/2 Xã Hòa Phong, Hòa Vang Vài trăm người; nhân dân thành phố và khách thập phương
Lễ rước Mục Đồng 29 - 30/3 Huyện Hòa Vang Hàng trăm người; lễ hội truyền thống cho trẻ chăn trâu
Lễ hội đình làng Hải Châu 24 - 26/3 Quận Hải Châu Hàng trăm người; khách du lịch nội địa và quốc tế
Lễ hội đua thuyền 2/9 và 29/3 (Dương lịch) Sông Hàn Vài trăm người; du khách và nhân dân địa phương
Lễ hội pháo hoa quốc tế 28 - 29/3 (Dương lịch) Sông Hàn Hàng vạn người; khách du lịch trong nước và quốc tế
  • Các sản phẩm phi vật chất khác: Ẩm thực chay tại các chùa và cơ sở chuyên doanh; nghệ thuật biểu diễn phục dựng sự tích Phật giáo; hoạt động khóa tu thiền (ngồi thiền, tụng kinh, pháp thoại, pháp đàm).
  1. Thực trạng khai thác và số liệu phát triển:
    • Tuyến điểm: Năm 2010, tour du lịch tâm linh đầu tiên được tổ chức cho 100 khách bởi Công ty Du lịch Việt Đà và Công ty Đà Nẵng Xanh, kết nối "tam giác" 3 chùa Linh Ứng (Ngũ Hành Sơn - Sơn Trà - Bà Nà) gắn với trải nghiệm khóa tu.
    • Tăng trưởng lượng khách toàn thành phố giai đoạn 2007 – 2011:
      • Năm 2007: Đạt 1.000.000 lượt khách (khách quốc tế: 299.103 lượt).
      • Năm 2011: Đạt 2.350.000 lượt khách (khách quốc tế: 500.000 lượt).
      • Tốc độ tăng trưởng năm 2011 so với năm 2010: Khách quốc tế tăng 35%, khách nội địa tăng 32%. Sau 5 năm, tổng lượt khách tăng gấp 2,35 lần (tăng 1.350.000 lượt).
    • Lượng khách tại điểm du lịch tâm linh Ngũ Hành Sơn trong 4 tháng đầu năm 2012:
Chỉ tiêu Lượng khách (lượt) Tỷ lệ (%)
Khách quốc tế 49.530 31,88% (~32%)
Khách nội địa 105.850 68,12% (~68%)
Tổng cộng 155.380 100,00%
  • Tồn tại, hạn chế: Du lịch tâm linh chưa được đưa vào quy hoạch phát triển thành sản phẩm du lịch mũi nhọn độc lập; phần lớn hoạt động hành hương do các đạo tràng, Phật tử tự tổ chức khép kín; các công ty lữ hành khai thác còn manh mún, thiếu bài bản; nguồn nhân lực thuyết minh chuyên sâu về tôn giáo, lịch sử còn thiếu.

Chương III: Định hướng và giải pháp phát triển du lịch tâm linh tại thành phố Đà Nẵng

Trên cơ sở đánh giá thực trạng, chương III đưa ra định hướng chiến lược và 6 nhóm giải pháp thực thi:

  1. Định hướng phát triển: Khẳng định du lịch tâm linh là hướng đi quan trọng để đa dạng hóa sản phẩm du lịch Đà Nẵng; phát triển theo hướng bền vững, giữ gìn nét tôn nghiêm của di tích, bảo tồn môi trường tự nhiên và bản sắc văn hóa địa phương.
  2. Tăng cường quản lý, quy hoạch phát triển du lịch tâm linh: Đưa du lịch tâm linh vào quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của thành phố; phân định rõ không gian thờ tự linh thiêng và không gian dịch vụ thương mại; kiểm soát trật tự, vệ sinh môi trường và an ninh tại các điểm di tích.
  3. Đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực: Tổ chức các khóa đào tạo nâng cao kiến thức lịch sử, giáo lý tôn giáo, phong tục tập quán và ngoại ngữ cho đội ngũ hướng dẫn viên, thuyết minh viên tại điểm.
  4. Đẩy mạnh xúc tiến thị trường, quảng bá hình ảnh: Xây dựng các ấn phẩm, cẩm nang du lịch tâm linh; ứng dụng công nghệ thông tin để giới thiệu các điểm đến chùa chiền, đình làng, lễ hội của Đà Nẵng đến thị trường trong nước và quốc tế.
  5. Đầu tư cơ sở vật chất phục vụ du lịch: Hoàn thiện hạ tầng giao thông kết nối đến các di tích ngoại thành (đình Túy Loan, nhà thờ Quá Giáng); xây dựng bãi đỗ xe, nhà vệ sinh đạt chuẩn, các điểm dừng chân phù hợp cảnh quan.
  6. Phát triển sản phẩm du lịch tâm linh đặc thù: Xây dựng các tour chuyên đề như "Hành trình tam giác 3 chùa Linh Ứng", tour trải nghiệm văn hóa đình làng cổ Hòa Vang, tour tham gia lễ hội Quán Thế Âm kết hợp thưởng thức ẩm thực chay và thực hành khóa tu thiền.
  7. Tăng cường hợp tác, liên kết: Thúc đẩy liên kết chặt chẽ giữa cơ quan quản lý du lịch, chính quyền địa phương, ban trị sự các chùa, ban khánh tiết đình làng và các công ty lữ hành để xây dựng các chương trình du lịch thống nhất.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đạt được các kết quả nghiên cứu cụ thể dựa trên việc tổng hợp và phân tích dữ liệu thực tế:

  • Thống kê toàn diện hệ thống tài nguyên du lịch tâm linh của thành phố Đà Nẵng với 105 ngôi chùa, 2 tịnh xá, 20 đình làng cổ cùng các di tích lịch sử cấp quốc gia (Đình Túy Loan, Nhà thờ chư tộc Quá Giáng, Lăng mộ Ông Ích Khiêm, Nghĩa trũng Khuê Trung).
  • Đánh giá cụ thể tình hình khai thác thông qua chuỗi số liệu thực tế: lượng khách toàn thành phố tăng trưởng từ 1.000.000 lượt (năm 2007) lên 2.350.000 lượt (năm 2011); ghi nhận 155.380 lượt khách tham quan Ngũ Hành Sơn trong 4 tháng đầu năm 2012 (trong đó khách quốc tế đạt 49.530 lượt).
  • Xây dựng hệ thống 6 nhóm giải pháp mang tính đồng bộ từ khâu quy hoạch, đầu tư hạ tầng, đào tạo nhân lực đến thiết kế sản phẩm tour chuyên đề.

Đóng góp của đề tài do tác giả tự nêu:

  • Về mặt lý luận: Góp phần hệ thống hóa cơ sở khoa học về loại hình du lịch tâm linh gắn với thực tiễn một đô thị ven biển miền Trung, làm rõ mối quan hệ giữa bảo tồn di sản tôn giáo - tín ngưỡng với phát triển kinh tế du lịch.
  • Về mặt thực tiễn: Khắc phục tình trạng nghiên cứu tản mạn trước đây bằng việc lập bảng tổng hợp tài nguyên, tuyến điểm và lễ hội; cung cấp tài liệu tham khảo cho các cơ quan quản lý nhà nước trong việc hoạch định chính sách và các doanh nghiệp lữ hành trong việc thiết kế tour du lịch hành hương tại Đà Nẵng.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận có một số giới hạn nghiên cứu được rút ra từ phạm vi và dữ liệu văn bản:

  • Phạm vi số liệu khảo sát thực tế tập trung chủ yếu trong giai đoạn 2011 – 2015; các dữ liệu thống kê chi tiết về lượng khách và doanh thu tại các điểm di tích đình làng, di tích lịch sử cách mạng chưa có hệ thống theo dõi định kỳ đồng bộ như tại điểm du lịch Ngũ Hành Sơn.
  • Đề tài chưa tiến hành các cuộc điều tra xã hội học quy mô lớn về mức độ chi tiêu và hành vi tiêu dùng chuyên biệt của từng thị trường khách quốc tế đối với sản phẩm du lịch tâm linh.

Hướng nghiên cứu tiếp:

  • Nghiên cứu mở rộng việc liên kết tuyến du lịch tâm linh Đà Nẵng với các trung tâm di sản và tôn giáo lân cận như Cố đô Huế, Hội An, Mỹ Sơn (Quảng Nam) theo trục Hành lang kinh tế Đông – Tây.
  • Khảo sát chuyên sâu về mô hình quản lý xã hội hóa và giải pháp cân bằng giữa hoạt động khai thác du lịch thương mại với việc bảo tồn không gian thanh tịnh tại các cơ sở tự viện.

Giá trị tham khảo

Tài liệu khóa luận có giá trị tham khảo thiết thực cho các nhóm đối tượng:

  • Sinh viên, học viên chuyên ngành Lịch sử, Du lịch học, Văn hóa học, Địa lý kinh tế phục vụ công tác học tập và nghiên cứu các đề tài về du lịch văn hóa, di sản tôn giáo miền Trung.
  • Cán bộ quản lý tại các cơ quan quản lý văn hóa, thể thao và du lịch, ban quản lý di tích tại Đà Nẵng trong công tác kiểm kê tài nguyên, quy hoạch không gian lễ hội và bảo tồn di tích.
  • Các chuyên viên xây dựng sản phẩm và hướng dẫn viên tại các công ty lữ hành trong việc khai thác thông tin lịch sử, kiến trúc của hệ thống 3 chùa Linh Ứng, cụm di tích Hòa Vang và xây dựng lịch trình tour kết hợp lễ hội truyền thống.

Phần nội dung có giá trị tham khảo cao nhất trong công trình là hệ thống dữ liệu chi tiết về kiến trúc, lịch sử hình thành của các di tích cấp quốc gia (Đình Túy Loan, Nhà thờ họ Quá Giáng, Nghĩa trũng Khuê Trung) và bảng thống kê lễ hội truyền thống tại Chương II.


Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận thống kê thành phố Đà Nẵng có bao nhiêu ngôi chùa và phân bố tại các quận, huyện như thế nào?
Theo số liệu thống kê trong khóa luận, toàn thành phố Đà Nẵng có khoảng 105 ngôi chùa và 2 tịnh xá. Phân bố gồm: quận Hải Châu có 25 chùa và 1 tịnh xá; quận Thanh Khê có 15 chùa và 1 tịnh xá; quận Ngũ Hành Sơn có 18 chùa; quận Sơn Trà có 14 chùa; quận Liên Chiểu có 13 chùa; và huyện Hòa Vang có 20 chùa.

2. Các thông số kiến trúc chính của tượng Phật Quan Thế Âm tại chùa Linh Ứng – Bãi Bụt (Sơn Trà) được ghi nhận trong văn bản là gì?
Tượng cao 67 m, đường kính tòa sen rộng 35 m (tương đương quy mô tòa nhà 30 tầng), do hai nhà điêu khắc Thụy Lam và Châu Viết Thạnh thực hiện. Trên mũ tượng có tượng Phật Tổ cao 2 m. Trong lòng tượng có 17 tầng, mỗi tầng đều có bệ thờ với tổng cộng 21 bức tượng Phật mang hình dáng và tư thế khác nhau ("Phật trung hữu Phật").

3. Tour du lịch tâm linh chuyên đề đầu tiên tại Đà Nẵng được tổ chức khi nào và có lịch trình ra sao?
Tour được tổ chức vào năm 2010 bởi Công ty Du lịch Việt Đà và Công ty Đà Nẵng Xanh phục vụ 100 khách đầu tiên. Lịch trình kết nối "tam giác" 3 ngôi chùa Linh Ứng tại Ngũ Hành Sơn, Bà Nà và Bán đảo Sơn Trà; kết hợp vãn cảnh với các hoạt động khóa tu như ngồi thiền, tụng kinh, pháp thoại và dùng cơm chay.

4. Đình làng Túy Loan được xây dựng vào thời gian nào và hiện lưu giữ những hiện vật lịch sử nào?
Đình làng Túy Loan được xây dựng vào khoảng năm 1470 dưới thời vua Lê Thánh Tông (hiệu Hồng Đức nguyên niên). Đình hiện còn lưu giữ một văn bia đá lập năm Thành Thái nguyên niên (1889) và 20 sắc phong thần của các triều vua từ thời Minh Mạng (1826) đến thời Khải Định (1924). Di tích được công nhận cấp quốc gia ngày 04/01/1999.

5. Lượng khách du lịch đến tham quan thắng cảnh Ngũ Hành Sơn trong 4 tháng đầu năm 2012 đạt bao nhiêu lượt?
Trong 4 tháng đầu năm 2012, Ban quản lý Khu du lịch thắng cảnh Ngũ Hành Sơn ghi nhận tổng cộng 155.380 lượt khách tham quan; trong đó khách quốc tế đạt 49.530 lượt (chiếm gần 32%) và khách nội địa đạt 105.850 lượt (chiếm gần 68%).


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Phạm Thị Thủy đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về du lịch tâm linh và phản ánh bức tranh toàn diện về tiềm năng tài nguyên văn hóa, tôn giáo, lịch sử tại thành phố Đà Nẵng. Công trình đã tổng hợp các số liệu thực tế về lượng khách, cơ sở tự viện, lễ hội và chỉ ra những hạn chế trong công tác quản lý, khai thác giai đoạn 2011–2015. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất 6 nhóm giải pháp thực tiễn nhằm định hướng phát triển du lịch tâm linh thành sản phẩm đặc thù, bền vững của địa phương. Khóa luận là tài liệu học thuật có giá trị tham khảo rõ ràng cho sinh viên ngành du lịch, các cơ quan quản lý văn hóa và các đơn vị kinh doanh lữ hành.