CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG 1. Một số khái niệm về du lịch 1. Du lịch Thuật ngữ du lịch: bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp “Tonus” nghĩa là đi một vòng. Thuật ngữ này được Latinh hóa thành Turnur và sau đó thành Tour (tiếng Pháp) nghĩa là đi vòng quanh, cuộc dạo chơi, còn Touriste là người đi dạo chơi.
Theo Robert Languar (1980) từ Tourism (du lịch) lần đầu tiên xuất hiện trong tiếng Anh vào khoảng năm 1800 và được quốc tế hóa nên nhiều nước sử dụng trực tiếp mà không dịch nghĩa. Du lịch là một hiện tượng kinh tế - xã hội phổ biến ở các nước phát triển cũng như đang phát triển, trong đó có Việt nam. Theo điều 10, Pháp lệnh du lịch Việt Nam: “Du lịch là hoạt động của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm thỏa mãn nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng trong khoảng thời gian nhất định". Khách du lịch Ngành du lịch muốn hoạt động và phát triển thì đối tượng “khách du lịch” là nhân tố quyết định.
Nếu không có “khách du lịch” thì các nhà kinh doanh du lịch không thể kinh doanh được, không có “khách du lịch” thì hoạt động của các nhà kinh doanh du lịch trở nên vô nghĩa. Trong Pháp lệnh du lịch của Việt Nam ban hành năm 1999 có nói: “Khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến”. Tại điều 20, chương IV: “Khách du lịch bao gồm khách du lịch nội địa và khách du lịch quốc tế”. “Khách du lịch nội địa là công dân Việt Nam và người nước ngoài cư trú tại Việt Nam đi du lịch trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam”.
“Khách du lịch quốc tế là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài vào Việt Nam du lịch và công dân Việt Nam ở nước ngoài cư trú ở Việt Nam ra nước ngoài du lịch”. Du lịch tâm linh 1. Khái niệm du lịch tâm linh Du lịch tâm linh: Du lịch tâm linh là sự kết hợp giữa yếu tố du lịch và yếu tố tâm linh. Hiện nay, chưa có một định nghĩa cụ thể và rõ ràng nhất cho du lịch tâm linh.
Nó được hiểu một cách khái quát, chung chung dưới cái nhìn của những người đi du lịch và những người tổ chức tour du lịch. Theo ông Nguyễn Trung Toàn, Giám đốc Công ty Du lịch & Dịch vụ Hoa Thiền (Zenflower) thì du lịch tâm linh (du lịch hành hương) là sự kết hợp giữa hành hương và du lịch nhằm thực hiện những hành trình đến những địa điểm thiêng liêng, có ý nghĩa tôn giáo và tín ngưỡng. Còn bà Huỳnh Long Ngọc Diệp, Giám đốc Công ty Ngọc Việt Travel phát biểu: Du lịch hành hương tâm linh là những hành trình đến những địa điểm thiêng liêng, nơi ấy người hành hương không chỉ đạt được sự gia tăng về niềm tin và chất lượng cho cuộc sống tâm linh của mình mà còn tăng cường sợi dây gắn bó, kết nối mối quan hệ cá nhân với những người đồng đạo. Cựu Tổng thống Ấn-độ, tiến sĩ APJ Abdul Kalam đã có phân biệt rạch ròi giữa du lịch thông thường với du lịch tâm linh:“Du lịch tâm linh hoàn toàn khác với việc tham quan các địa danh và ngắm nhìn các chiều kích vật lý.
Du lịch tâm linh có nghĩa là thăm viếng trái tim và tâm trí của những bậc hiền triết tại nhiều địa điểm khác nhau và nhất là những nơi có môi trường văn minh phong phú”. Hiện nay, du lịch tâm linh đã thực sự là một loại hình du lịch đặc thù. Nó thỏa mãn các nhu cầu: thưởng ngoạn, thư giãn và tâm linh. Nó giải tỏa mọi căng thẳng, chuyển hóa mọi phiền não trong thân tâm thông qua chuyến đi thiêng liêng đến những địa điểm thiêng liêng mà người hành hương mong muốn.
Đặc điểm của du lịch tâm linh Với mỗi loại hình phát triển đều có những đặc điểm, đặc trung riêng của nó. Với loại hình du lịch tâm linh vốn xuất phát từ những hoạt động của sinh hoạt đời sống tâm 11 Luan van linh kết hợp với du lịch để đạt được những giá trị cao nhất. Đời sống tâm linh ấy chính là niềm tin tôn giáo, thờ cúng tổ tiên và các vị anh hùng dân tộc. Đó cũng chính là một đặc điểm dễ nhận thấy của loại hình này.
Du lịch tâm linh là đến những di tích, thắng tích, Phật tự - nơi các vị Đức Phật, các anh hùng, những vị cứu thế thượng tọa; những lễ hội mang yếu tố tâm linh tín ngưỡng để hòa mình vào cuộc sống tịnh tâm, thanh nhàn, giải thoát. Thêm nữa, Du lịch tâm linh luôn gắn với đức tin. Những người khi đến các điểm, thắng tích đều thể hiện lòng thành kín, tôn trọng, họ đặt vào đó những lời nguyện ước, cầu mong cho cuộc sống yên ổn, thanh bình, gặp nhiều may mắn. Và họ tin rằng, có một thế giới hiển linh luôn lắng nghe và biến những lời thỉnh cầu chân thành kia thành sự thật.
Du lịch tâm linh là hướng thiện. Tham gia du lịch tâm linh là để có cơ hội thực hành và sống trong môi trường của cầu nguyện và chiêm bái, thực tập việc tu tập và thư giãn, chăm sóc thân và tâm, tạo niềm tin và tìm nơi nương tựa, hành trì các lễ nghi và nạp năng lượng cho chính mình cho chuyến hành trình dài trong cả cuộc đời này. Những chuyến đi nhiều khi mang lại những kết quả kỳ diệu cho khách hành hương mà không ai tin được. Hướng về cội nguồn cũng là một đặc điểm của du lịch tâm linh.
Những người tham gia du lịch tâm linh là quay trở về với chính mình, với cội nguồn, thoát khỏi cuộc sống thế tục. Tâm và thân luôn trong trạng thái an bình, hạnh phúc của một thế giới tâm linh. Vai trò và ý nghĩa của du lịch tâm linh Du lịch tâm linh là loại hình du lịch mới với những tác dụng và ý nghĩa trong đời sống tinh thần của khách du lịch nói chung. Ngoài những tác dụng vui chơi, giải trí, tham quan nghỉ dưỡng thì du lịch tâm linh còn mang lại những giá trị về tâm hồn, thân tâm, về cách sống, đồng thời giải quyết nhu cầu tôn giáo, tín ngưỡng của tín đồ.
Với những đặc trưng riêng, du lịch tâm linh có vai trò và ý nghĩa không chỉ đối với khách du lịch mà còn cả với những tổ chức du lịch và ngành du lịch nói chung. 12 Luan van Đối với khách du lịch : Tham gia những chương trình du lịch tâm linh, khách hành hương được quay về với cội nguồn tâm linh của mình, được khám phá những thánh tích hay không gian tâm linh quý giá mà khách chưa một lần, hay chưa có dịp tham quan, chiêm ngưỡng. Du lịch tâm linh đến các Phật tích sẽ giúp tháo gỡ được các cảm xúc khổ đau, vun bồi tâm trí và tinh thần minh triết. Du lịch tâm linh rất cần thiết cho tâm trí con người.
Trên thực tế cuộc sống, những chuyến du lịch tâm linh làm cho các thành viên thắt chặt tình đoàn kết, gắn bó, yêu thương nhau bởi mọi thành viên đang trở về cội nguồn, giống như những người con của đức Phật. Họ giúp nhau tu tập, giúp đỡ lẫn nhau trong cuộc sống, cả vật chất lẫn tinh thần sau khi trở về đời thường. Sau mỗi chuyến đi các thành viên thường sống tốt hơn, thâm tâm được thanh lọc hơn. Cuộc sống của khách hành hương sau đó trở nên an lạc và có ý nghĩa hơn.
Việc du lịch hành hương tâm linh đến những ngôi chùa vừa góp phần bảo vệ văn hóa truyền thống vừa góp phần hoằng pháp thông qua du lịch hành hương. Du lịch tâm linh mang ý nghĩa giáo dục khá sâu sắc, bằng những triết lý tôn giáo, những khóa tu ngồi thiền, tụng kinh, pháp đàm, pháp thoại…khiến cho tâm hồn con người đạt trạng thái giải thoát, tịnh tâm, thoát khỏi trần tục, loại bỏ cái ác, hướng tới cái thiện. Du lịch tâm linh đóng vai trò quan trọng trong việc nuôi lớn sự hiểu biết truyền thống tâm linh của tôn giáo khác và thiết lập sự hoà hợp liên tôn. Ngoài ra, du lịch tâm linh có thể ở một chừng mực nào đó giúp cho con người thoát khỏi bệnh tật, tạo khát vọng sống, vươn lên cuộc sống đói nghèo.
Đối với ngành du lịch và các tổ chức kinh doanh du lịch : Loại hình du lịch tâm linh được khai thác giúp ngành du lịch, các công ty lữ hành, các cơ sở lưu trú và các hãng vận chuyển thu được hiệu quả kinh tế cao; phát triển đội ngũ nhân lực; nâng cao chất lượng và đa dạng hóa các sản phẩm du lịch; xây dựng được danh tiếng và thương hiệu. Ngoài ra, loại hình du lịch tâm linh còn giúp ngành du lịch thu hút được nhiều dự án đầu tư, phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng, tăng số lượt khách du lịch nội địa cũng như khách quốc tế. Đồng thời tạo thêm nhiều công ăn việc làm cho người dân. 13 Luan van Bên cạnh đó, du lịch tâm linh còn mang ý nghĩa trong việc trao đổi quan điểm và kinh nghiệm, thiết lập tình hữu nghị, hoà hợp, đoàn kết giữa các pháp lữ trên khắp thế giới.
Tài nguyên du lịch tâm linh Tài nguyên du lịch tâm linh bao gồm hai dạng: vật thể và phi vật thể * Tài nguyên du lịch tâm linh ở dạng vật thể: Là những loại tài nguyên ở dạng vật chất, có giá trị về mặt tâm linh do con người sáng tạo nên được khai thác vào mục đích phục vụ du lịch. Tài nguyên du lịch tâm linh ở dạng vật chất bao gồm hệ thống các cơ sở tôn giáo, cơ sở tín ngưỡng, các di tích lịch sử cách mạng * Tài nguyên du lịch tâm linh ở dạng phi vật thể: Là những loại tài nguyên ở dạng tinh thần, có giá trị về mặt văn hóa, tâm linh, do con người tạo ra trong qua trình sống có thể sử dụng vào mục đích phục vụ du lịch như: Niềm tin tôn giáo tín ngưỡng, lòng tự hào dân tộc và các anh hùng có công với cách mạng, phong tục tập quán, lễ hội… Việt Nam là một đất nước có sự đa dạng về tài nguyên du lịch tâm linh, cả về vật thể lẫn phi vật thể. Do vậy, đây là yếu tố tạo điều kiện thuận lợi cho một du lịch tâm linh ở Việt Nam phát triển trong tương lai. CHƯƠNG II: TIỀM NĂNG VÀ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH TÂM LINH TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 2.
Khái quát về thành phố Đà Nẵng 2. Điều kiện tự nhiên 2. Vị trí địa lý: Thành phố Đà Nẵng nằm trong khoảng từ 15°55’ đến 16°14’ Bắc, 107°18’ đến 108°20’ Đông.