Mở đầu Phần 2. Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển du lịch. Phương pháp nghiên cứu Phần 4. Kết quả nghiên cứu và thảo luận Phần 5.
Kết luận và kiến nghị. 4 Tieu luan PHẦN 2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH 2. Các khái niệm cơ bản Khái niệm phát triển Phát triển là một phạm trù của triết học, là quá trình vận động tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn của một sự vật.
Quá trình vận động đó diễn ra vừa dần dần, vừa nhảy vọt để đưa tới sự ra đời của cái mới thay thế cái cũ. Sự phát triển là kết quả của quá trình thay đổi dần về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất, quá trình diễn ra theo đường xoắn ốc và hết mỗi chu kỳ sự vật lặp lại dường như sự vật ban đầu nhưng ở mức (cấp độ) cao hơn (Nguyễn Ngọc Long, 2012). Bùi Đình Thanh: phát triển là một quá trình tiến hóa của mọi xã hội, mọi cộng đồng dân tộc trong đó các chủ thể lãnh đạo và quản lý, bằng các chiến lược và chính sách thích hợp với những đặc điểm về lịch sử, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của xã hội và cộng đồng dân tộc mình, tạo ra, huy động và quản lý các nguồn lực tự nhiên và con người nhằm đạt được những thành quả bền vững và được phân phối công bằng cho các thành viên trong xã hội vì mục đích không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống của họ (Bùi Đình Thanh, 2015). Khái niệm du lịch Du lịch có từ xa xưa, gắn với ước mơ của con người, vì đặc tính cơ bản của con người là vừa thích quen, vừa thích lạ, vừa muốn đi tìm hiểu cái quen, cái lạ để thưởng thức cảnh đẹp thiên nhiên, con người của các nền văn hóa khác nhau mà quê hương mình chưa có hoặc không có, qua đó mà tăng thêm tri thức, tình cảm, sức khỏe.
Đồng thời với sự phát triển của văn minh nhân loại, du lịch ngày càng trở thành một nhu cầu không thể thiếu trong cuộc sống. Có thể xem xét mô ̣t số khái niê ̣m tiêu biểu về du lịch như sau: Năm 1811, lần đầu tiên có định nghĩa về du lịch tại Anh như sau: Du lịch là sự phối hợp nhịp nhàng giữa lý thuyết và thực hành của (các) cuô ̣c hành trình với mục đích là giải trí. Ở đây sự giải trí là đô ̣ng cơ chính (Nguyễn Văn Đính, Trần Thị Minh Hòa, 2008). 5 Tieu luan Định nghĩa của trường Đại học Kinh tế Praha (Cô ̣ng hòa Séc): Du lịch là tâ ̣p hợp các hoạt đô ̣ng kỹ thuâ ̣t, kinh tế và tổ chức liên quan đến cuô ̣c hành trình của con người về viê ̣c lưu trú của họ ngaoif nơi ở thường xuyên với nhiều mục đích khác nhau loại trừ mục đích hành nghề và thăm viếng có tổ chức thường kỳ (Nguyễn Văn Đính, Trần Thị Minh Hòa, 2008).
Định nghĩa của Hô ̣i nghị quốc tế về thống kê du lịch ở Otawa, Canada diễn ra vào tháng 6/1991: Du lịch là hoạt đô ̣ng của con người đi tới mô ̣t nơi ngoài môi trường thường xuyên (nơi ở thường xuyên của mình) trong mô ̣t khoảng thời gian ít hơn khoảng thời gian đã được các tổ chức du lịch quy định trước, múc đích của chuyến đi không là để tiến hành các hoạt đô ̣ng kiếm tiền trong phạm vi vùng tới thăm (Nguyễn Văn Đính, Trần Thị Minh Hòa, 2008). Định nghĩa của Đại học Kinh tế quốc dân Hà Nô ̣i: Du lịch là mô ̣t ngành kinh doanh bao gồm các hoạt đô ̣ng tổ chức hướng dẫn du lịch, sản xuất, trao đổi hàng hóa và dịch vụ của những doanh nghiệp, nhằm đáp ứng các nhu cầu về đi lại lưu trú, ăn uống, tham quan, giải trí tìm hiểu và nhu cầu khác của khách du lịch. Các hoạt động đó phải đem lại lợi ích kinh tế, chính trị, xã hô ̣i thiết thực cho nước làm du lịch và cho bản thân doanh nghiệp (Nguyễn Văn Đính, Trần Thị Minh Hòa, 2008). Luật Du lịch số 09/2017/QH 14 được Quốc hội thông qua ngày 19 tháng 6 năm 2017 đưa ra định nghĩa về du lịch như sau: “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên trong thời gian không quá 01 năm liên tục nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí, tìm hiểu, khám phá tài nguyên du lịch hoặc kết hợp với mục đích hợp pháp khác”.
Như vậy, du lịch có hai nghĩa: Thứ nhất, du lịch là cuộc hành trình và lưu trú tạm thời của con người ở một nơi khác (cách xa nơi ở thường xuyên của họ), để nghỉ dưỡng, chữa bệnh, thỏa mãn các nhu cầu về văn hóa, nghệ thuật, lịch sử, trao đổi công việc. Thứ hai, du lịch được hiểu là tập hợp các hoạt động kinh doanh nhằm hỗ trợ, giúp đỡ, thực hiện tốt mọi nhu cầu của khách du lịch. Nói cách khác, du lịch là tập hợp các hoạt động giữa cung du lịch và cầu du lịch tạo nên ngành du lịch. Hoạt động du lịch là hoạt động của khách du lịch, tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch, cộng đồng dân cư và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến du lịch.
Trong đó, chủ thể quan trọng của hoạt động du lịch là khách du 6 Tieu luan lịch. Đó là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến (Nguyễn Việt Hưng, 2013) Khái niệm phát triển du lịch Du lịch là ngành dịch vụ hoạt động trong nền kinh tế nhằm thỏa mãn những nhu cầu vui chơi giải trí, tìm hiểu thiên nhiên, các nét đẹp văn hóa…của dân cư các miền khác nhau trên thế giới để thu được lợi nhuận. Vì vậy, việc đẩy mạnh phát triển du lịch thường được các quốc gia trên thế giới quan tâm đề cao vì tính hiệu quả của nó, đôi khi nó còn được gọi là “nền công nghiệp không khói”. Trên cơ sở khái niệm về phát triển, ta có thể đi đến việc xác lập nội hàm của phát triển du lịch như sau: Đó là sự gia tăng sản lượng và doanh thu cùng mức độ đóng góp của ngành du lịch cho nền kinh tế, đồng thời có sự hoàn thiện về mặt cơ cấu kinh doanh, thể chế và chất lượng kinh doanh của ngành du lịch (Trương Thị Thu, 2011).
Khái niệm phát triển du lịch tâm linh Du lịch tâm linh trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng có những quan niệm khác nhau và đến nay vẫn chưa có một khái niệm chung nhất. Tuy nhiên, xét về nội dung và tính chất hoạt động, du lịch tâm linh thực chất là loại hình du lịch văn hóa, lấy yếu tố văn hóa tâm linh vừa làm cơ sở vừa làm mục tiêu nhằm thỏa mãn nhu cầu tâm linh của con người trong đời sống tinh thần. Theo cách nhìn nhận đó, du lịch tâm linh khai thác những yếu tố văn hóa tâm linh trong quá trình diễn ra các hoạt động du lịch, dựa vào những giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể gắn với lịch sử hình thành nhận thức của con người về thế giới, những giá trị về đức tin, tôn giáo, tín ngưỡng và những giá trị tinh thần đặc biệt khác. Theo đó, du lịch tâm linh mang lại những cảm xúc và trải nghiệm thiêng liêng về tinh thần của con người trong khi đi du lịch (Nguyễn Văn Tuấn, 2013).
Với cách hiểu như vậy, có thể nhận diện những dòng người đi du lịch đến các điểm tâm linh gắn với không gian văn hóa, cảnh quan các khu, điểm du lịch nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch của mình, trong đó nhu cầu tâm linh được xem là cốt yếu. Khách du lịch tâm linh ở Việt Nam thường hội tụ về các điểm du lịch tâm linh như: đền, chùa, đình, đài, lăng tẩm, tòa thánh, khu thờ tự, tưởng niệm và những vùng đất linh thiêng gắn với phong cảnh đặc sắc gắn kết với văn hóa truyền thống, lối sống địa phương. Ở đó du khách tiến hành các hoạt động tham quan, tìm hiểu văn hóa lịch sử, triết giáo, cầu nguyện, cúng tế, chiêm bái, tri ân, 7 Tieu luan báo hiếu, thiền, tham gia lễ hội. Thông qua đó, hoạt động du lịch mang lại những cảm nhận, giá trị trải nghiệm và giải thoát trong tâm hồn của con người, cân bằng và củng cố đức tin, hướng tới những giá trị chân, thiện, mỹ và góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống.Đáp ứng nhu cầu du lịch tâm linh, các hoạt động kinh doanh, tổ chức dịch vụ phục vụ du lịch tâm linh trên các tuyến hành trình và tại các khu, điểm du lịch được thực hiện, qua đó tạo việc làm, tăng thu nhập cho cư dân địa phương, bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội (Nguyễn Văn Tuấn, 2013).
Khái niệm phát triển du lịch dựa vào cộng đồng Khái niệm: Du lịch cộng đồng (DLCĐ) xuất hiện từ đầu thế kỷ 20 và có rất nhiều cách nhìn nhận và hiểu biết khác nhau về khái niệm này. Các khái niệm, định nghĩa khác nhau tùy thuộc vào các tác giả, khu vực địa lý, hoặc nghiên cứu dự án cụ thể. Tuy nhiên vẫn có một số nguyên tắc chung như tính bền vững, sự tham gia và lợi ích của cộng đồng địa phương. Định nghĩa phổ biến về DLCĐ là: Nicole Hausle và Wolfgang Strasdas (2009) cho rằng:“DLCĐ là một loại hình du lịch trong đó chủ yếu người dân địa phương đứng ra phát triển và quản lý.
Lợi ích kinh tế có được từ du lịch sẽ đọng lại nền kinh tế địa phương” (Nicole Hausle and Wollfgang Strasdas, 2000).Trong định nghĩa này, Nicole và Wolfgang chú trọng đến vai trò và lợi ích kinh tế mà DLCĐ đem lại cho CĐĐP. Theo tổ chức ESRT (2013): Du lịch cộng đồng mang lại cho du khách những trải nghiệm về cuộc sống địa phương trong đó các cộng đồng địa phương tham gia trực tiếp vào du lịch; thu được các lợi ích kinh tế - xã hội từ hoạt động du lịch và chịu trách nhiệm bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, môi trường và văn hóa địa phương. Như vậy, DLCĐ là một loại hình có sự tham gia của cộng đồng địa phương trong một phạm vi địa lý nhất định. Trong đó, cô ̣ng đồng địa phương CĐĐP có quyền chủ động tham gia và được thụ hưởng các lợi ích từ hoạt động du lịch nhưng đồng thời phải có trách nhiệm bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, môi trường và văn hóa địa phương nơi họ sinh sống (Lê Thu Hương, 2016).