Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Đề tài khóa luận tốt nghiệp "Xây dựng chương trình du lịch đặc thù cho TP. Hưng Yên" do sinh viên Phạm Thị Vân Anh thực hiện tại Khoa Việt Nam học và Tiếng Việt, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia Hà Nội), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. TS. Nguyễn Thị Nguyệt (năm 2016).

Về bối cảnh thực tiễn, tác giả chỉ ra rằng du lịch được xem là ngành kinh tế dịch vụ quan trọng, khai thác các giá trị di sản thiên nhiên và văn hóa để thúc đẩy kinh tế - xã hội bền vững. Thành phố Hưng Yên là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của tỉnh Hưng Yên, sở hữu quần thể di tích Phố Hiến từng là thương cảng quốc tế sầm uất vào thế kỷ XVII - XVIII với câu ca dân gian "Thứ nhất Kinh Kỳ, thứ nhì Phố Hiến". Dù sở hữu kho tàng di tích lịch sử - văn hóa dày đặc, các lễ hội dân gian truyền thống và cảnh quan ven sông Hồng, hoạt động khai thác du lịch tại thành phố vẫn chưa tương xứng với tiềm năng vốn có. Hoạt động lữ hành diễn ra mang tính tự phát, sản phẩm đơn điệu, chủ yếu dựa vào lượng khách chiêm bái tâm linh ngắn ngày, thiếu các sản phẩm du lịch mang tính đặc thù để kéo dài thời gian lưu trú và gia tăng mức chi tiêu của du khách.

Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể qua ba nhiệm vụ chính:

  1. Giới thiệu tổng quan về thành phố Hưng Yên trên các phương diện điều kiện tự nhiên, lịch sử, văn hóa, kinh tế và xã hội.
  2. Khảo sát, mô tả và hệ thống hóa vị trí, kiến trúc các di tích lịch sử - văn hóa Phố Hiến, lễ hội dân gian, làng nghề thủ công truyền thống và nghệ thuật biểu diễn bản địa.
  3. Phân tích, đánh giá thực trạng khai thác tài nguyên và kinh doanh du lịch của địa phương; từ đó hoạch định các chương trình du lịch đặc thù nhằm khai thác hiệu quả tiềm năng du lịch của thành phố Hưng Yên.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Tiềm năng tài nguyên du lịch (tự nhiên và nhân văn), thực trạng hoạt động kinh doanh du lịch và quy trình xây dựng các chương trình du lịch đặc thù cho thành phố Hưng Yên.
  • Phạm vi không gian: Địa bàn hành chính thành phố Hưng Yên (tỉnh Hưng Yên), bao gồm 17 phường, xã và các tuyến điểm phụ cận kết nối dọc sông Hồng.
  • Phạm vi thời gian: Tập trung khảo sát hiện trạng giai đoạn 2009 - 2015, đề xuất giải pháp cho giai đoạn 2015 - 2018 và định hướng quy hoạch đến năm 2020, tầm nhìn 2025.

Lịch sử vấn đề nghiên cứu được tác giả tổng thuật chi tiết qua các nhóm công trình:

  • Nhóm tư liệu lịch sử, văn hóa địa phương: Nguyễn Phúc Lai (chủ biên) với "Hưng Yên - 170 năm" (2001) và "Hưng Yên phù sa văn hóa" (2009); Bùi Việt Bắc (chủ biên) với "Những di tích thắng cảnh tiêu biểu Phố Hiến Hưng Yên" (2005); Kỷ yếu hội thảo khoa học "Phố Hiến" do Nguyễn Đình Nhã chủ biên (2006); cuốn sách "Phố Hiến" của Nguyễn Khắc Hào và Nguyễn Đình Nhã (2012); bài viết của Lê Minh Phụng (2012) về sự hưng thịnh và suy tàn của thương cảng Phố Hiến.
  • Nhóm đề tài du lịch chuyên ngành: Khóa luận của Đỗ Thị Thu Hằng (2012, ĐH Dân lập Hải Phòng) về "Đánh giá tài nguyên du lịch nhân văn của thành phố Hưng Yên" (dừng lại ở việc đánh giá chung, chưa xây dựng chương trình cụ thể); khóa luận của Nguyễn Thị Loan (2013) về "Tiềm năng, thực trạng và giải pháp chủ yếu khai thác tài nguyên du lịch nhân văn tỉnh Hưng Yên cho giai đoạn 2009 - 2015".
  • Nhóm bài viết khảo sát thực tế: Các nghiên cứu, phóng sự báo chí phản ánh về du lịch cộng đồng, hệ thống khách sạn, lễ hội văn hóa vùng Phố Hiến, Đền Mẫu, Đảo Cò và ẩm thực bún thang Thế Kỷ. Tác giả kết luận chưa có công trình nào đi sâu thiết kế hệ thống tour tuyến đặc thù hoàn chỉnh cho riêng địa bàn thành phố Hưng Yên.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận thiết lập nền tảng lý thuyết chuyên ngành du lịch và địa phương học thông qua việc trích dẫn các văn bản quy phạm pháp luật và giáo trình học thuật:

  • Khái niệm du lịch và tài nguyên du lịch: Khái niệm của Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO); Điều 4 và Điều 13 (Chương II) Luật Du lịch Việt Nam năm 2005; Điều 10 Pháp lệnh Du lịch Việt Nam năm 1999; giáo trình "Di tích và thắng cảnh Việt Nam" của PGS. Nguyễn Thị Nguyệt (2010). Tài nguyên du lịch được phân định thành hai nhóm chính: tài nguyên du lịch tự nhiên (khí hậu, địa hình, thủy văn, sinh vật) và tài nguyên du lịch nhân văn (vật thể và phi vật thể).
  • Khái niệm và quy trình xây dựng chương trình du lịch: Định nghĩa chương trình du lịch trọn gói; xác lập 10 bước xây dựng tour chuyên nghiệp (nghiên cứu nhu cầu thị trường, đánh giá khả năng đáp ứng tài nguyên/nhà cung ứng, xác định năng lực doanh nghiệp lữ hành, xây dựng ý tưởng mục đích, ấn định thời gian/mức giá, thiết kế lộ trình tham quan, lập phương án vận chuyển/lưu trú/ăn uống, chi tiết hóa hoạt động dịch vụ, xác định giá thành/giá bán, xây dựng quy định bắt buộc).
  • Phân loại chương trình du lịch: Phân theo nguồn gốc phát sinh (chủ động, bị động, kết hợp); phân theo mức giá (trọn gói, cơ bản, tự chọn); phân theo phạm vi lãnh thổ (du lịch nội địa - DIT, du lịch quốc tế - FIT, outbound tour, du lịch đoàn); phân theo mục đích chuyến đi (nghỉ dưỡng, chuyên đề văn hóa/lịch sử, tôn giáo tín ngưỡng, sinh thái thể thao).
  • Khái niệm sản phẩm du lịch đặc thù: Sản phẩm phát triển dựa trên tính độc đáo, nguyên bản và đại diện của tài nguyên du lịch cho một vùng lãnh thổ, tạo nên sự khác biệt văn hóa bản địa nhằm thỏa mãn nhu cầu trải nghiệm chiều sâu của du khách.

Phương pháp nghiên cứu được tác giả vận dụng gồm:

  • Phương pháp lịch đại: Khảo cứu tài liệu văn bản, thư tịch cổ và các nghiên cứu lịch sử để theo dõi quá trình biến đổi không gian đô thị Phố Hiến từ thế kỷ XVI đến nay.
  • Phương pháp phân tích - tổng hợp: Thu thập, xử lý các nguồn tư liệu thứ cấp, văn bản chính sách, quy hoạch và niên giám thống kê du lịch địa phương.
  • Phương pháp nghiên cứu điền dã: Khảo sát thực địa hệ thống di tích, cấu trúc đình chùa, các làng nghề thủ công (làm hương, long nhãn), cơ sở lưu trú và các điểm dịch vụ sinh thái trên địa bàn thành phố.
  • Phương pháp so sánh đối chiếu: So sánh các chỉ tiêu tăng trưởng khách, doanh thu, cơ cấu lao động ngành du lịch thành phố Hưng Yên qua các năm (2009 - 2015), đồng thời so sánh lợi thế cạnh tranh với các địa phương lân cận trong vùng Đồng bằng sông Hồng.

Nguồn dữ liệu của đề tài được cung cấp trực tiếp từ Phòng Văn hóa - Thể thao và Du lịch thành phố Hưng Yên, UBND thành phố Hưng Yên, Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch tỉnh Hưng Yên cùng các số liệu khảo sát từ các công ty lữ hành đang vận hành tour thực tế (như Ami Tour, Welcome Vietnam Tour, Nối Vòng Tay Lớn).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan về đề tài

Chương 1 tập trung làm rõ cơ sở lý luận về sản phẩm du lịch đặc thù, đồng thời phác họa bức tranh toàn cảnh về tiểu vùng du lịch thành phố Hưng Yên:

  • Điều kiện tự nhiên và hành chính: Thành phố Hưng Yên nằm ở phía Nam của tỉnh, bên bờ tả ngạn sông Hồng; diện tích tự nhiên đạt 7.342,07 ha, dân số 147.275 người (theo số liệu thống kê trong văn bản có thời điểm đạt xấp xỉ 150.000 người), gồm 17 đơn vị hành chính cấp xã (7 phường: An Tảo, Hiến Nam, Lam Sơn, Minh Khai, Lê Lợi, Quang Trung, Hồng Châu; 10 xã: Bảo Khê, Trung Nghĩa, Liên Phương, Hồng Nam, Quảng Châu, Phú Cường, Hùng Cường, Phương Chiểu, Hoàng Hanh, Tân Hưng). Mạng lưới giao thông đối ngoại kết nối thông qua Quốc lộ 38 (cầu Yên Lệnh), Quốc lộ 38A, 38B, 39A và 39B.
  • Tiến trình lịch sử - xã hội: Vùng đất Phố Hiến xưa từng là lỵ sở trấn Sơn Nam thời Hậu Lê (thế kỷ XVI - XVII). Đến tháng 10/1831 (niên hiệu Minh Mạng), tỉnh Hưng Yên được thành lập, lỵ sở đặt tại Xích Đằng. Sau năm 1954 và giai đoạn hợp nhất tỉnh Hải Hưng (1968 - 1996), thị xã Hưng Yên từng bước phục hồi vị thế trung tâm khi tái lập tỉnh (1996), được công nhận đô thị loại III năm 2007 (Quyết định 1012/QĐ-BXD) và chính thức thành lập thành phố Hưng Yên vào ngày 19/1/2009 theo Nghị định 04/NĐ-CP. Cư dân tại đây hình thành từ các lớp người Việt cổ châu thổ Bắc Bộ, kết hợp người Hoa di cư tị nạn từ thế kỷ XIII (lập làng Hoa Dương) và thế kỷ XVII, cùng các thương nhân Hà Lan, Anh, Pháp, Bồ Đào Nha từng lập thương điếm buôn bán.
  • Tài nguyên du lịch tự nhiên: Khí hậu nhiệt đới gió mùa trung châu thổ Bắc Bộ với độ ẩm trung bình 86%, nhiệt độ bình quân năm 22 - 23°C, lượng mưa trung bình 1.500 - 1.600 mm. Tài nguyên nước gồm 13,3 km sông Hồng chảy qua thành phố và sông đào Điện Biên dài hơn 20 km. Điểm nhấn sinh thái là Đảo Cò tự nhiên hình thành từ đầu thập niên 1990 tại hồ An Vũ 1 (thuộc Công viên Nam Hòa, phường Lê Lợi), diện tích đảo nổi được cải tạo năm 2005 là 3.883 m2 giữa lòng hồ 12,78 ha, là nơi cư ngụ của hơn 400.000 cá thể chim nước (cò đen, cò trắng, cò mỏ vàng, cò mỏ trắng).
  • Tài nguyên du lịch nhân văn vật thể: Địa bàn thành phố có hơn 130 di tích, trong đó có 20 di tích cấp quốc gia, 22 di tích cấp tỉnh, gần 100 bia ký, 11.200 hiện vật (với 6.022 hiện vật có giá trị lịch sử cao); Khu di tích Phố Hiến được công nhận là Di tích quốc gia đặc biệt. Khóa luận khảo sát chi tiết hai công trình tiêu biểu:
    • Đền Mẫu (Hoa Dương linh từ): Tọa lạc tại phường Quang Trung, thờ Dương Quý Phi thời Tống, khuôn viên rộng gần 3.000 m2 nhìn ra hồ Bán Nguyệt. Công trình có kiến trúc "tiền nhất, hậu đinh", giữ cây đa cổ thụ gần 700 năm tuổi (gốc tích hợp 3 cây đa - sanh - si), 15 đạo sắc phong triều Lê - Nguyễn, được xếp hạng Di tích kiến trúc nghệ thuật năm 1992.
    • Văn Miếu Xích Đằng: Tọa lạc tại phường Lam Sơn, thờ Khổng Tử và Chu Văn An; dựng lại năm 1839 (Minh Mạng thứ 20). Nơi đây lưu giữ 9 tấm bia đá khắc tên các bậc đại khoa như Trạng nguyên Dương Phúc Tư, Trạng nguyên Tống Tôn, Tiến sĩ Lê Như Hổ, Tể tướng Nguyễn Trung Ngạn; được xếp hạng Di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia năm 1992.
  • Tài nguyên du lịch nhân văn phi vật thể:
    • Lễ hội truyền thống: Có hơn 30 lễ hội thường niên (Bảng danh mục 1.3). Nổi bật là Lễ hội Đền Mẫu (từ ngày 10 đến 13 tháng 3 Âm lịch với nghi lễ rước nước, rước liềm múa "tùng hứ", rước du múa "Con đĩ đánh bồng") và Lễ hội văn hóa dân gian Phố Hiến (tổ chức thường niên từ năm 2007 với chương trình nghệ thuật sử thi "Phố Hiến, ánh sáng trong trầm tích phù sa sông Hồng").
    • Làng nghề truyền thống: Thành phố sở hữu 6 làng nghề (chiếm 7% toàn tỉnh), tiêu biểu là làng nghề Hương xạ Cao Thôn (xã Bảo Khê, xuất hiện cuối thế kỷ XIX do bà Đào Khương truyền nghề; gồm 120/190 hộ sản xuất, khoảng 300 lao động, cung ứng gần 10 triệu nén hương/năm, doanh thu 2,5 - 3 tỷ đồng) và nghề chế biến long nhãn (tập trung tại Phương Chiểu, Hồng Nam, Liên Phương với trên 500 hộ và 5.000 lao động).
    • Nghệ thuật biểu diễn và ẩm thực: Nghệ thuật hát Ả Đào / Ca trù tại câu lạc bộ thôn Đào Đặng (xã Trung Nghĩa, năm 2011 có 22 nghệ nhân thực hành), nghệ thuật Chèo truyền thống (Đoàn chèo Hưng Yên tái lập năm 1997), hát Trống quân. Ẩm thực bản địa đặc sắc gồm nhãn lồng tiến vua, bánh tẻ (bánh răng bừa) làng Đào Đặng và bún thang Thế Kỷ chế biến công phu từ thịt lươn thui, gà, trứng tráng mỏng ăn kèm bún Viên Tiêu.

Chương 2: Điều tra, đánh giá thực trạng kinh doanh du lịch TP. Hưng Yên

Chương 2 phản ánh toàn diện các chỉ số kinh tế kỹ thuật và hoạt động lữ hành thực tế trên địa bàn thành phố:

  • Đường lối chính sách và định hướng quy hoạch: Dự thảo Đề án phát triển du lịch thành phố Hưng Yên đến năm 2020, định hướng đến năm 2025 (ban hành ngày 5/2/2016) xác định mục tiêu đưa du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn, biến thành phố thành đô thị du lịch văn hóa, tâm linh, nghỉ dưỡng vào năm 2020 và trung tâm lễ hội của tỉnh vào năm 2025.
    • Không gian phát triển phân thành 3 vùng: Vùng 1 (Khu di tích quốc gia đặc biệt Phố Hiến: du lịch tâm linh, lễ hội); Vùng 2 (Hồng Nam, Quảng Châu: nghỉ dưỡng, sinh thái, công vụ); Vùng 3 (Làng nghề thủ công và trang trại nông nghiệp).
    • Thị trường mục tiêu quốc tế: Khách Đông Nam Á (chủ yếu là Trung Quốc theo văn bản xếp nhóm), Đông Bắc Á (Nhật Bản) và Tây Âu.
    • Nhu cầu vốn đầu tư: Giai đoạn 2016 - 2020 cần 29 tỷ đồng (ngân sách 9,5 tỷ đồng, xã hội hóa 19,5 tỷ đồng); giai đoạn 2020 - 2025 dự kiến 538 tỷ đồng (ngân sách 11,5 tỷ đồng, còn lại là xã hội hóa); tổng kinh phí cả đề án lên tới 878 tỷ đồng.
TT Chỉ tiêu định hướng đến năm 2025 Giá trị mục tiêu
1 Doanh thu du lịch 400 tỷ đồng
2 Tổng lượt khách du lịch 300.000 lượt (khách nội địa >250.000; khách quốc tế ~50.000)
3 Cơ sở lưu trú du lịch 200 cơ sở với 2.500 phòng đạt chuẩn (15 khách sạn 3 sao, 5 khách sạn 4 - 5 sao)
4 Lao động trực tiếp trong ngành 1.200 lao động (khoảng 80% qua đào tạo chuyên môn)
  • Thực trạng cung - cầu du lịch giai đoạn 2010 - 2015:
    • Tăng trưởng lượng khách và doanh thu: Lượng khách du lịch đến thành phố tăng liên tục, chủ yếu là khách nội địa đến từ Hà Nội và các tỉnh Đồng bằng sông Hồng. Năm 2010 đón lượng khách mang lại doanh thu 48 tỷ đồng; đến năm 2015 đón 65.500 lượt khách (trong đó khách quốc tế đạt 1.500 lượt), tổng doanh thu đạt 83 tỷ đồng, tăng trưởng 172,9% so với năm 2010.
Chỉ tiêu kinh tế Đơn vị Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013 Năm 2014 Năm 2015
Doanh thu du lịch Tỷ đồng 48 53 60 68 78 83
  • Hạ tầng lưu trú và dịch vụ phụ trợ: Đến năm 2015, thành phố có 54 cơ sở lưu trú với 690 phòng. Trong đó, có 8 cơ sở được xếp hạng chính thức gồm 3 khách sạn 2 sao (Hưng Thái, Sơn Nam Plaza, Hoàng Hiệp) và 5 khách sạn 1 sao (Ngân Giang, Á Đông I, Á Đông II, Thái Bình, Phố Hiến). Ngoài ra có khoảng 200 hộ kinh doanh dịch vụ ăn uống và 3 trung tâm mua sắm (Siêu thị Phố Hiến, Chợ Phố Hiến, Media Mart).
  • Chất lượng nguồn nhân lực: Tổng số lao động ngành du lịch - dịch vụ tăng từ 534 người (2009) lên 923 người (2015). Cơ cấu trình độ năm 2015 gồm: 15 người trên đại học, 310 người đại học/cao đẳng, 284 người trung cấp, 199 người sơ cấp và 115 lao động phổ thông chưa qua đào tạo. Hạn chế nổi cộm là thiếu nhân lực thông thạo ngoại ngữ, kỹ năng nghiệp vụ bàn, buồng, lễ tân còn yếu.
  • Tuyến điểm và hoạt động liên kết tour: Thành phố kết nối một số tuyến nội tỉnh và liên tỉnh như: TP. Hưng Yên - Phố Nối - Phù Ủng; Hưng Yên - Đền Đa Hòa - Dạ Trạch; tuyến đê sinh thái sông Hồng; tuyến Hưng Yên đi Hạ Long, Ninh Bình, Nam Định. Một số đơn vị tại Hà Nội (Ami Tour, Welcome Vietnam Tour, Nối Vòng Tay Lớn) đã khai thác tour đường sông kết hợp đường bộ tham quan Văn Miếu, Đền Mẫu, Chùa Chuông với mức giá tour ngắn ngày dao động từ 450.000 đến 750.000 đồng/khách.
  • Hạn chế tồn đọng: Sản phẩm nghèo nàn (gần như chỉ có du lịch tâm linh 3 tháng đầu năm và sinh thái vườn nhãn mùa thu hoạch); cơ sở lưu trú mang tính kinh tế gia đình, thiếu dịch vụ bổ trợ cao cấp; đầu tư công còn dàn trải, chưa thu hút được nguồn vốn xã hội hóa quy mô lớn; việc kết nối giao thông bến thủy nội địa trên sông Hồng còn nhiều bất cập kỹ thuật.

Chương 3: Hoạch định các chương trình du lịch đặc thù cho TP. Hưng Yên

Dựa trên kết quả khảo sát tài nguyên và phân tích hạn chế thực trạng ở hai chương trước, Chương 3 đề xuất định hướng xây dựng các sản phẩm du lịch đặc thù cùng các giải pháp quản lý:

  • Du lịch MICE kết hợp du lịch tâm linh: Tận dụng vị trí gần Hà Nội và hệ thống khách sạn hiện có (Sơn Nam Plaza) để thu hút các hội nghị, hội thảo ngắn ngày của các cơ quan, doanh nghiệp; lồng ghép hoạt động tham quan quần thể di tích quốc gia đặc biệt Phố Hiến, dâng hương Đền Mẫu, vãn cảnh Chùa Chuông và Văn Miếu Xích Đằng.
  • Du lịch homestay: Khai thác đời sống sinh hoạt dân dã của các làng cổ ven sông Hồng, cho phép du khách lưu trú tại nhà dân, trải nghiệm nếp sống văn hóa truyền thống xứ nhãn, thưởng thức ẩm thực gia đình thay vì lưu trú khép kín tại các khách sạn khu vực nội đô.
  • Du lịch làng nghề: Thiết kế tuyến tham quan trực tiếp quy trình sản xuất hương thơm tại làng nghề Hương xạ Cao Thôn (xã Bảo Khê) và các cơ sở xoáy long nhãn, sấy nhãn truyền thống tại xã Phương Chiểu, Hồng Nam; kết hợp mua sắm sản phẩm đặc sản có chứng nhận nguồn gốc xuất xứ.
  • Du lịch tham quan vườn sinh thái cây trái: Hình thành tour dã ngoại trải nghiệm hái nhãn lồng tươi tại vườn ở các xã Hồng Nam, Quảng Châu vào mùa hè - thu; tham quan không gian sinh thái Đảo Cò hồ An Vũ, kết hợp thưởng ngoạn phong cảnh đồng quê châu thổ.
  • Du lịch sông Hồng kết nối với các vùng phụ cận: Phối hợp với ngành đường thủy và các công ty lữ hành liên tỉnh phát triển tuyến du lịch đường sông từ bến Chương Dương (Hà Nội) xuôi dòng sông Hồng về bến Yên Lệnh (Hưng Yên), ghé thăm cụm đền Đa Hòa - Dạ Trạch (Khoái Châu) trước khi cập bến trung tâm thương cảng Phố Hiến xưa.
  • Các chương trình khác: Đẩy mạnh loại hình du lịch trải nghiệm học đường tìm hiểu văn hóa khoa bảng tại Văn Miếu Xích Đằng và thưởng thức nghệ thuật diễn xướng dân gian hát Ả Đào tại Đào Đặng.
  • Những khuyến nghị về quy hoạch du lịch TP. Hưng Yên:
    • Quy hoạch không gian tổng thể và chi tiết, tránh chồng chéo chức năng giữa các điểm tham quan.
    • Hoàn thiện kết cấu hạ tầng kỹ thuật: cứng hóa mạng lưới giao thông liên xã trước năm 2020; ưu tiên xây dựng Bến cảng đón khách du lịch Phố Hiến trên sông Hồng; quy hoạch bãi đỗ xe và hệ thống nhà vệ sinh công cộng đạt chuẩn tại các di tích trọng điểm.
    • Phát triển công nghệ và truyền thông: phủ sóng cáp quang, cung cấp wifi miễn phí tại các điểm di tích; thành lập Trung tâm Xúc tiến Du lịch trực thuộc Phòng Văn hóa - Thông tin; phát hành ấn phẩm quảng bá song ngữ chuyên nghiệp.
    • Chuẩn hóa nhân lực: đào tạo lại nghiệp vụ lưu trú, buồng bàn cho 1.200 lao động mục tiêu; tuyển dụng và cấp thẻ thuyết minh viên, hướng dẫn viên du lịch có trình độ ngoại ngữ.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã tổng hợp và công bố các kết quả nghiên cứu cụ thể gắn liền với hệ thống dữ liệu thực tế tại thành phố Hưng Yên:

  • Hệ thống hóa tài nguyên: Thống kê đầy đủ danh mục hơn 130 di tích (trong đó có 20 di tích cấp quốc gia, 22 di tích cấp tỉnh), hơn 30 lễ hội dân gian thường niên, phân tích chi tiết quy mô của 6 làng nghề thủ công và xác lập hiện trạng sinh thái của Đảo Cò với hơn 400.000 cá thể.
  • Lượng hóa thực trạng hoạt động du lịch: Phản ánh chuỗi tăng trưởng kinh tế du lịch giai đoạn 2010 - 2015, từ mốc doanh thu 48 tỷ đồng lên 83 tỷ đồng (tăng 172,9%); thống kê năng lực cơ sở vật chất với 54 cơ sở lưu trú (690 phòng), ghi nhận 30 dự án đầu tư mở rộng dịch vụ và sự biến động nguồn nhân lực từ 534 lên 923 lao động.
  • Đóng góp giải pháp khoa học: Khóa luận là công trình khoa học đầu tiên ở cấp độ đại học chuyên ngành Việt Nam học đề xuất khung xây dựng sản phẩm du lịch đặc thù cho thành phố Hưng Yên, phân định rõ ràng 5 nhóm sản phẩm (MICE - tâm linh, homestay, làng nghề, sinh thái miệt vườn, du lịch đường thủy sông Hồng) thay thế cho mô hình tham quan đền chùa thuần túy.
  • Đóng góp so với các công trình trước: Nếu như các nghiên cứu của Bùi Việt Bắc (2005) hay Nguyễn Đình Nhã (2006, 2012) chủ yếu tiếp cận Phố Hiến dưới góc độ lịch sử - văn hóa đơn thuần, còn khóa luận của Đỗ Thị Thu Hằng (2012) chỉ dừng lại ở bước kiểm kê tài nguyên nhân văn, thì khóa luận của Phạm Thị Vân Anh đã gắn kết chặt chẽ tài nguyên với dự thảo Đề án phát triển du lịch của UBND thành phố Hưng Yên ban hành năm 2016, đưa ra các luận cứ trực tiếp phục vụ công tác quy hoạch kinh tế - xã hội địa phương.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Tác giả tự nhận định do giới hạn về mặt thời gian thực tập và nguồn lực nghiên cứu, đề tài chủ yếu sử dụng các tài liệu thứ cấp do Phòng Văn hóa - Thể thao và Du lịch thành phố cung cấp cùng một số khảo sát cá nhân, chưa thể triển khai điều tra xã hội học bằng bảng hỏi trên diện rộng đối với toàn bộ các nhóm khách du lịch quốc tế và nội địa. Phần thiết kế các chương trình du lịch ở Chương 3 mới dừng lại ở việc hoạch định ý tưởng, cung đường và mô hình sản phẩm, chưa đi sâu tính toán chi tiết cơ cấu giá thành (chiết tính giá tour), định mức lợi nhuận và phương án tiếp thị thương mại cho từng đơn vị lữ hành.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Dựa trên phạm vi nghiên cứu của đề tài, các nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng khảo sát chuyên sâu về mức độ hài lòng và hành vi tiêu dùng của du khách khi tham gia các tour homestay hoặc tour làng nghề tại Hưng Yên; thực hiện các nghiên cứu thực nghiệm chào bán sản phẩm trên thị trường lữ hành Hà Nội để kiểm chứng tính khả thi thương mại và đo lường sức chứa môi trường sinh thái tại Đảo Cò cũng như các làng nghề ven đê sông Hồng.

Giá trị tham khảo

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Phạm Thị Vân Anh mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho nhiều đối tượng:

  • Sinh viên và nhà nghiên cứu: Là tài liệu học tập, tham khảo hữu ích cho sinh viên các chuyên ngành Việt Nam học, Du lịch học, Quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành, Văn hóa học, Địa lý kinh tế khi nghiên cứu về tài nguyên du lịch vùng Đồng bằng sông Hồng hoặc xây dựng khóa luận về quy hoạch sản phẩm du lịch địa phương.
  • Cơ quan quản lý nhà nước: Cung cấp nguồn số liệu khảo sát nền tảng, hệ thống bảng biểu danh mục di tích, lễ hội và các khuyến nghị chính sách trực tiếp cho Phòng Văn hóa - Thông tin, Trung tâm Xúc tiến Du lịch thành phố Hưng Yên trong quá trình triển khai Đề án phát triển du lịch giai đoạn 2016 - 2020 và định hướng 2025.
  • Doanh nghiệp lữ hành: Các công ty kinh doanh du lịch có thể khai thác nội dung Chương 3 để làm căn cứ xây dựng lộ trình tour mới, đa dạng hóa các gói tour ngắn ngày xuất phát từ Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh về Phố Hiến kết hợp giữa trải nghiệm tâm linh, làng nghề hương Cao Thôn, vườn nhãn Hồng Nam và du thuyền sông Hồng.

Câu hỏi thường gặp

1. Thành phố Hưng Yên sở hữu bao nhiêu di tích lịch sử - văn hóa và những công trình tiêu biểu nào được tác giả phân tích sâu?
Toàn thành phố có hơn 130 di tích, bao gồm 20 di tích cấp quốc gia, 22 di tích cấp tỉnh, gần 100 bia ký và 6.022 hiện vật có giá trị lịch sử; Khu di tích Phố Hiến là Di tích quốc gia đặc biệt. Hai công trình tiêu biểu được tác giả phân tích kiến trúc và lịch sử chi tiết là Đền Mẫu (Hoa Dương linh từ, xây dựng từ thời Trần, tôn tạo năm 1896, nổi bật với cây đa cổ thụ 3 gốc gần 700 năm tuổi) và Văn Miếu Xích Đằng (dựng lại năm 1839 dưới thời vua Minh Mạng, lưu giữ 9 tấm bia đá ghi danh các nhà khoa bảng).

2. Làng nghề thủ công truyền thống nào tại địa phương được khảo sát để đưa vào chương trình du lịch đặc thù?
Khóa luận tập trung khảo sát hai làng nghề tiêu biểu: làng nghề Hương xạ Cao Thôn (xã Bảo Khê) có lịch sử hàng trăm năm với 120 hộ làm nghề, sản lượng xấp xỉ 10 triệu nén/năm, doanh thu 2,5 - 3 tỷ đồng; và nghề chế biến long nhãn truyền thống tập trung tại các xã Phương Chiểu, Hồng Nam, Liên Phương với hơn 500 hộ tham gia và tạo việc làm cho khoảng 5.000 lao động.

3. Thực trạng cơ sở lưu trú và đội ngũ lao động du lịch của thành phố Hưng Yên giai đoạn đến năm 2015 như thế nào?
Tính đến năm 2015, toàn thành phố có 54 cơ sở lưu trú với 690 phòng nghỉ, trong đó có 3 khách sạn 2 sao (Hưng Thái, Sơn Nam Plaza, Hoàng Hiệp) và 5 khách sạn 1 sao (Ngân Giang, Á Đông I, Á Đông II, Thái Bình, Phố Hiến). Lực lượng lao động du lịch - dịch vụ đạt 923 người (tăng từ 534 người năm 2009), tuy nhiên tỷ lệ lao động qua đào tạo nghiệp vụ chuyên sâu còn thấp, đặc biệt thiếu nhân lực lễ tân và hướng dẫn viên có trình độ ngoại ngữ.

4. Khóa luận đề xuất những loại hình sản phẩm du lịch đặc thù nào cho thành phố Hưng Yên?
Tác giả đề xuất 5 nhóm chương trình du lịch đặc thù tại Chương 3 gồm: (1) Du lịch MICE kết hợp du lịch tâm linh tại quần thể Phố Hiến; (2) Du lịch homestay tại các làng cổ ven sông; (3) Du lịch trải nghiệm làng nghề hương xạ Cao Thôn và chế biến long nhãn; (4) Du lịch tham quan vườn sinh thái cây trái (nhãn lồng) kết hợp ngắm chim tại Đảo Cò; (5) Tuyến du lịch đường thủy sông Hồng kết nối Hà Nội - Đa Hòa Dạ Trạch - Phố Hiến.

5. Mục tiêu phát triển du lịch của thành phố Hưng Yên đến năm 2025 được xác định trong văn bản gồm các chỉ tiêu nào?
Theo dự thảo đề án của UBND thành phố được trích dẫn trong khóa luận, định hướng đến năm 2025 gồm: đạt doanh thu du lịch 400 tỷ đồng; đón 300.000 lượt khách (khách nội địa trên 250.000 lượt, khách quốc tế khoảng 50.000 lượt); phát triển 200 cơ sở lưu trú với 2.500 phòng đạt chuẩn (trong đó có 15 khách sạn 3 sao, 5 khách sạn 4 - 5 sao); thu hút và đào tạo 1.200 lao động hoạt động trong lĩnh vực du lịch.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Phạm Thị Vân Anh đã hệ thống hóa một cách khoa học khối lượng tư liệu toàn diện về điều kiện tự nhiên, tiến trình lịch sử và kho tàng tài nguyên du lịch của thành phố Hưng Yên. Dựa trên việc phân tích khách quan các số liệu kinh doanh, hạ tầng lưu trú và nguồn nhân lực giai đoạn 2009 - 2015, công trình đã chỉ rõ những điểm nghẽn kìm hãm sự phát triển du lịch địa phương. Các chương trình du lịch đặc thù và giải pháp quy hoạch được đề xuất trong khóa luận bám sát định hướng của chính quyền thành phố, mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho công tác nghiên cứu học thuật cũng như thực tiễn tổ chức hoạt động lữ hành tại vùng đất Phố Hiến.