CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CẠNH TRANH VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP 1. Lý thuyết về cạnh tranh a. Khái niệm cạnh tranh Có nhiều quan niệm khác nhau về cạnh tranh do thuật ngữ cạnh tranh được sử dụng cho nhiều lĩnh vực khác nhau.Samuelson và William D.
Nordhaus (1995) đã định nghĩa trong cuốn Kinh tế học “Cạnh tranh là sự kình địch giữa các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau để giành khách hàng hoặc thị trường.” [21] Theo Dương Ngọc Dũng (2006), Chiến lược cạnh tranh theo lý thuyết Michael E. Porter, “Cạnh tranh, hiểu theo cấp độ doanh nghiệp là việc đấu tranh hoặc giành giật từ một số đối thủ về khách hàng, thị phần hay nguồn lực của các doanh nghiệp. Tuy nhiên, bản chất của cạnh tranh ngày nay không phải tiêu diệt đối thủ mà chính là doanh nghiệp phải tạo ra và mang lại cho khách hàng những giá trị gia tăng cao hơn hoặc mới lạ hơn đối thủ để họ có thể lựa chọn mình mà không đến với đối thủ cạnh tranh.” [2] Giáo sư Tôn Thất Nguyễn Thiêm (2004) lại cho rằng “Cạnh tranh trên thương trường phải là cạnh tranh lành mạnh, cạnh tranh không phải để diệt trừ đối thủ của mình mà là để đem lại cho khách hàng những giá trị gia tăng cao hơn hoặc/và mới lạ hơn để khách hàng lựa chọn mình chứ không phải đối thủ của mình.” [8] Như vậy, với những khái niệm trên thì phạm trù cạnh tranh có thể được 11 hiểu là Cạnh tranh là quan hệ kinh tế mà ở đó các chủ thể kinh tế ganh đua nhau tìm mọi biện pháp, cả nghệ thuật lẫn thủ đoạn để đạt mục tiêu kinh tế của mình, thông thường là chiếm lĩnh thị trường, giành lấy khách hàng cũng như các điều kiện sản xuất, thị trường có lợi nhất. Mục đích cuối cùng của các chủ thể kinh tế trong quá trình cạnh tranh là tối đa hóa lợi ích.
Đối với người sản xuất kinh doanh là lợi nhuận và đối với người tiêu dùng là lợi ích tiêu dùng và sự tiện lợi. Vai trò và ý nghĩa của cạnh tranh * Đối với nhà sản xuất: Luôn linh hoạt, năng động, thích ứng nhanh, kịp thời với những thay đổi của môi trường bên ngoài. Để tồn tại và phát triển, doanh nghiệp cần phải giành thắng lợi trong cạnh tranh, huy động và sử dụng các nguồn lực một cách hiệu quả nhằm tiết kiệm chi phí, hạ giá thành sản phẩm, giảm giá bán sản phẩm. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp cũng phải thường xuyên cải tiến công nghệ, áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật, đầu tư thêm máy móc thiết bị,.
để tạo ra các sản phẩm mới có tính đặc sắc, có chất lượng tốt phù hợp với nhu cầu của khách hàng. Ngày nay, ngoài các giá trị cốt lõi, doanh nghiệp cũng cần phải quan tâm nhiều đến các dịch vụ trước, trong và sau bán hàng như là một biện pháp gia tăng các giá trị cho khách hàng. Việc cạnh tranh cũng giúp cho các doanh nghiệp hoàn thiện cơ cấu tổ chức, thúc đẩy nhân viên và lãnh đạo phát huy mọi ý tưởng của mình để tạo ra cho khách hàng những giá trị vượt trội. * Đối với người tiêu dùng: Trong nền kinh tế thị trường, sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp mang lại cho người tiêu dùng những lợi ích sau: - Có nhiều mặt hàng để lựa chọn, phù hợp với túi tiền.
Cùng một khoản tiền bỏ ra nhưng khách hàng có nhiều sự lựa chọn để có thể mua được nhiều 12 sản phẩm với nhiều tiện ích mong muốn nhất. - Nhận được sự chăm sóc chu đáo của người bán do họ muốn dành nhiều thiện cảm với khách hàng và giữ chân khách hàng. * Đối với xã hội: - Cạnh tranh làm cho xã hội ngày càng tiến bộ, nâng cao chất lượng cuộc sống, giải quyết công ăn việc làm. - Đưa con người vào những tầm nhận thức cao hơn, tạo điều kiện cho con người phát triển toàn diện.
- Tính cạnh tranh giúp cho con người không ngừng tìm tòi, khám phá, phát minh ra những cái mới, làm cho xã hội ngày càng văn minh hơn. Nói tóm lại, cạnh tranh có vai trò rất quan trọng trong sản xuất hàng hóa và là động lực mạnh mẽ để thúc đẩy sản xuất phát triển. Cạnh tranh buộc các nhà sản xuất phải năng động, nhạy bén, thường xuyên cải tiến và áp dụng các tiến bộ khoa học - kỹ thuật - công nghệ, nâng cao tay nghề, hoàn thiện tổ chức quản lý để nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế. Các loại hình cạnh tranh Theo Tôn Thất Nguyễn Thiêm (2004), có nhiều tiêu thức được sử dụng làm căn cứ để phân loại cạnh tranh.
Căn cứ phổ biến thường dựa vào: các chủ thể tham gia thị trường; hình thái, tính chất của cạnh tranh trên thị trường; và phạm vi ngành kinh tế. * Căn cứ các chủ thể tham gia trên thị trường: - Cạnh tranh giữa người bán và người mua: đây là cuộc cạnh tranh diễn ra theo quy luật “mua rẻ, bán đắt”. Người mua muốn mình mua được sản phẩm mình cần với giá thấp còn người bán muốn bán sản phẩm đó với giá cao qua quá trình mặc cả để xác định giá của hàng hoá. - Cạnh tranh giữa những người mua với nhau: là cuộc cạnh tranh trên cơ sở của quy luật cung - cầu.
Nếu cung nhỏ hơn cầu thì người mua phải mua 13 hàng hóa với giá đắt và ngược lại nếu cung lớn hơn cầu thì người mua lại có lợi vì người mua mua được hàng hoá với giá rẻ hơn. - Cạnh tranh giữa những người bán với nhau: đây là cuộc cạnh tranh chủ yếu trên thị trường với tính gay go và khốc liệt. Cuộc cạnh tranh này có ý nghĩa sống còn đối với các doanh nghiệp nhằm chiếm lĩnh thị phần, thu hút khách hàng và kết quả là hàng hoá gia tăng với chất lượng, mẫu mã đẹp hơn nhưng giá cả lại thấp hơn và có lợi cho người mua hơn. Những doanh nghiệp dành được thắng lợi trong cạnh tranh sẽ tăng được thị phần, tăng doanh thu bán hàng tạo ra lợi nhuận tăng và có vốn để mở rộng đầu tư sản xuất.
* Căn cứ vào hình thái và tính chất của cạnh tranh trên thị trường: - Cạnh tranh hoàn hảo: là loại cạnh tranh có đặc điểm như: có vô số người bán, người mua độc lập với nhau (mỗi cá nhân đơn lẻ không có tác động tới giá cả trên thị trường); sản phẩm đồng nhất (người mua không cần phân biệt sản phẩm này là của hãng nào); thông tin đầy đủ (cả người mua và người bán đều hiểu biết hoàn hảo, liên tục về sản phẩm và trao đổi sản phẩm); không có rào cản quy định (việc thâm nhập vào và rút lui khỏi thị trường hoàn toàn tự do, động cơ duy nhất là lợi nhuận). - Cạnh tranh không hoàn hảo: bao gồm cạnh tranh mang tính độc quyền và độc quyền tập đoàn. + Cạnh tranh mang tính độc quyền: là thị trường trong đó có nhiều hãng bán những sản phẩm tương tự (thay thế được cho nhau) nhưng được phân biệt khác nhau. Đặc điểm của loại hình cạnh tranh này là sản phẩm đa dạng.
Các hãng cạnh tranh với nhau bằng việc bán sản phẩm khác nhau về nhãn hiệu, mẫu mã, bao bì, chất lượng, danh tiếng và các điều kiện dịch vụ đi kèm. Mỗi hãng là người sản xuất duy nhất với sản phẩm của mình. Hình thức cạnh tranh chủ yếu là thông qua nhãn mác. + Cạnh tranh mang tính độc quyền tập đoàn: là thị trường chỉ có vài 14 hãng bán sản phẩm đồng nhất (độc quyền tập đoàn thuần tuý) hoặc phân biệt (độc quyền tập đoàn phân biệt).
Đặc điểm của độc quyền tập đoàn là: chỉ có ít hãng cạnh tranh trực tiếp; các hãng phụ thuộc chặt chẽ (mỗi hãng khi ra quyết định phải cân nhắc cẩn thận, xem hành động của mình ảnh hưởng như thế nào tới đối thủ cạnh tranh và sẽ phải ứng xử như thế nào); tốc độ phản ứng của thị trường có thể rất nhanh (thay đổi giá) hoặc đòi hỏi thời gian (trường hợp cải tiến sản phẩm); việc gia nhập vào thị trường của các hãng mới là rất khó khăn (rào chắn cao). * Căn cứ vào phạm vi ngành kinh tế: - Cạnh tranh trong nội bộ ngành: là cạnh tranh giữa các nhà doanh nghiệp trong cùng một ngành, cùng sản xuất, tiêu thụ một loại hàng hoá hoặc dịch vụ nào đó, trong đó các chủ doanh nghiệp tìm mọi cách để thôn tính lẫn nhau, giành giật khách hàng về phía mình, chiếm lĩnh thị trường. - Cạnh tranh giữa các ngành: là sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong ngành kinh tế khác nhau nhằm mục đích đầu tư có lợi hơn. Cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh a.
Khái niệm năng lực cạnh tranh Năng lực cạnh tranh là một khái niệm xuất hiện trong quá trình nghiên cứu về cạnh tranh. Năng lực cạnh tranh được xem xét ở các góc độ khác nhau như năng lực cạnh tranh quốc gia, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và năng lực cạnh tranh sản phẩm. Theo Krugman (1994) thì năng lực cạnh tranh phù hợp nhất với cấp độ doanh nghiệp, vì ở đây ranh giới cận dưới rất rõ ràng, nếu doanh nghiệp không bù đắp nỗi về chi phí, không thu hút được khách hàng sẽ phải từ bỏ kinh doanh hoặc bị phá sản. [17] Trong nghiên cứu này khái niệm năng lực cạnh tranh chủ yếu đề cập đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong ngành.
Theo Aldington Report (1985), “Doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh là 15 doanh nghiệp có thể sản xuất sản phẩm, dịch vụ với chất lượng vượt trội, giá cả thấp hơn đối thủ cạnh tranh trong và ngoài nước. Khả năng cạnh tranh đồng nghĩa với việc đạt được lợi ích lâu dài của doanh nghiệp, khả năng đảm bảo thu nhập cho người lao động và chủ doanh nghiệp.” [9] Quan điểm của Michael E. Porter (1985), “Năng lực cạnh tranh là khả năng sáng tạo ra những sản phẩm có quy trình công nghệ độc đáo để tạo ra giá trị gia tăng cao, phù hợp với nhu cầu khách hàng, có chi phí thấp, năng suất cao nhằm tăng lợi nhuận.” [19] Theo D'Cruz và Rugman (1992), “Năng lực cạnh tranh là khả năng thiết kế, sản xuất và tiếp thị sản phẩm vượt trội hơn so với thủ cạnh tranh, xem xét đến chất lượng về giá và phi giá cả.” [12] Horstmann và Markusen (1992) lại định nghĩa “Một nhà sản xuất là cạnh tranh nếu như họ có một mức chi phí đơn vị trung bình bằng hoặc thấp hơn chi phí đơn vị của các nhà cạnh tranh quốc tế.