CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH 1. Các vấn đề về phát triển du lịch 1. Các khái niệm cơ bản về du lịch Du lịch hiện đang trở thành một ngành công nghiệp quan trọng, đóng góp lớn cho sự phát triển của nhiều quốc gia trên thế giới. Phát triển tốt ngành du lịch sẽ giúp đáp ứng nhu cầu tham quan, học tập, thư giãn; tạo dựng công việc, thu nhập cho người lao động, người dân tại địa phương từ đó giúp ổn định và tăng trưởng kinh tế xã hội.
Với vai trò ngày càng quan trọng của ngành du lịch đối với địa phương, quốc gia; đã có nhiều chuyên gia, nhà khoa học, nhà quản lý quan tâm nghiên cứu, định nghĩa về du lịch. Từ xa xưa, nguồn gốc từ du lịch mang nghĩa khá đơn giản. Theo tiếng Hy Lạp, du lịch là từ “Tonos” (đi một vòng); hay theo tiếng Pháp là từ “Tour” (đi chơi vòng quanh); đến tận thế kỷ 18, mới xuất hiện từ tiếng Anh “Tourism”, còn từ “du lịch” theo tiếng Việt có xuất phát từ tiếng Hán: đi nghĩa là đi chơi, lịch có nghĩa là sự từng trải. Do đó, tổng kết lại, về mặt từ ngữ, du lịch có thể hiểu là đi chơi, đi tham quan từ nơi này đến nơi khác và quay trở lại.
Đã có nhiều chuyên gia, tổ chức với các cách tiếp cận khác nhau về du lịch và phát triển du lịch, trong đó có thể kể đến một số khái niệm tiêu biểu, được nhiều người quan tâm như sau: Phát biểu Hunziker và Krapf, (1942) đã đưa ra khái niệm tổng quát về du lịch, đây cũng là khái niệm tổng quát đầu tiên về du lịch được nhiều nghiên cứu và các tác giả công nhận. Định nghĩa này đã được trình bày trong tài liệu “Đề cương giảng dạy chung về du lịch” (Grundriss der Allgemeinen Fremdenverkehrslehre): “Du lịch là tập hợp của các mối quan hệ và các hiện tượng phát sinh trong các cuộc hành trình và lưu 6 Luan van trú của những người ở ngoài địa phương, nếu việc lưu trú đó không thành cư trú thường xuyên và không liên quan đến hoạt động kiếm lời” (Vanhove 2005) Cũng tương tự với cách phát biểu của Hunziker và Krapf Theo Liên hiệp Quốc tế các tổ chức lữ hành chính thức IUOTO (International Union of Official Travel Organization) định nghĩa: “Du lịch được hiểu là một hành động du hành đến một nơi khác với địa điểm cư trú thường xuyên của mình nhằm mục đích không phải để làm ăn, tức không phải làm một nghề hay một việc kiếm tiền sinh sống”. Pirojnik cho rằng: “Du lịch là một dạng hoạt động của dân cư trong thời gian rỗi liên quan với sự di chuyển và lưu lại tạm thời bên ngoài nơi cư trú thường xuyên nhằm nghỉ ngơi, chữa bệnh, phát triển thể chất và tinh thần, nâng cao trình độ nhận thức văn hóa hoặc thể thao kèm theo việc tiêu thụ những giá trị về tự nhiên, kinh tế và văn hóa” (Pirojnik 1989). Đối với trường hợp tại Việt Nam, trong Giáo trình kinh tế du lịch của nhóm tác giả Nguyễn Văn Đính, Trần Minh Hòa (2006) có đưa ra định nghĩa: “Du lịch là một ngành kinh doanh bao gồm các hoạt động tổ chức hướng dẫn du lịch, sản xuất, trao đổi hàng hóa và dịch vụ của những doanh nghiệp, nhằm đáp ứng các nhu cầu về đi lại, lưu trú, ăn uống, tham quan, giải trí, tìm hiểu và các nhu cầu khác của khách du lịch.
Các hoạt động đó phải đem lại lợi ích kinh tế chính trị - xã hội thiết thực cho nước làm du lịch và cho bản thân doanh nghiệp”. Trong khi đó, khoản 1, điều 3 Luật du lịch 2017 quy định “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên trong thời gian không quá 01 năm liên tục nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí, tìm hiểu, khám phá tài nguyên du lịch hoặc kết hợp với mục đích hợp pháp khác”. Ta thấy rằng, khái niệm du lịch có thể được diễn giải theo các cách khác nhau. Tuy nhiên các khái niệm này đang được hoàn thiện và khái quát hóa.
Theo đó, du lịch là việc con người rời nơi cư trú đi đến một nơi khác để tham quan, thư giãn, nghỉ ngơi trong một khoảng thời gian. Do đó, từ cách tiếp cận khái niệm này ta nhận thấy được 7 Luan van mối quan hệ tác động qua lại giữa 3 yếu tố: du khách, địa điểm du lịch, ngành du lịch của địa phương. Sự phát triển hay xuống cấp của một yếu tố sẽ kéo theo các yếu tố còn lại cùng phát triển hoặc thụt lùi. Vì thế đặt ra nhu cầu cấp thiết trong việc phát triển du lịch sao cho vừa đem lại hiểu quả cao về kinh tế, vừa đạt được sự phát triển ổn định bền vững về lâu dài tại địa phương.
Khách du lịch Khái niệm về khách du lịch cũng được hình thành đồng thời sau khi xuất hiện khái niệm về du lịch. Do đó, tương tự như khái niệm du lịch, khái niệm khách du lịch cũng đang được tiếp cận theo nhiều hướng khác nhau. Tuy nhiên, các nhà khoa học thống nhất cho rằng có 3 đặc điểm chính để phân biệt đặc điểm khách du lịch đó là: Mục đích, Thời gian và Không gian chuyến đi (Tuyet 2007). Theo đó, khách du lịch được phân chia thành 2 loại: du khách và khách tham quan Trong nghiên cứu của Ogilvie, ông định nghĩa du khách là những người thỏa mãn 2 yếu tố.
Thứ nhất họ rời khỏi nơi ở hiện tại để đến một nơi khác, thứ hai họ sẽ chi tiêu tiền bạc tại nơi họ đến và không phát sinh thu nhập tại đó (Ogilvie 1933). Đây được em như là một trong nhưng cách tiếp cận đầu tiên về khách du lịch. Tuy nhiên cách tiếp cận của Ogilvie chưa đầy đủ và không phù hợp với thực tế hiện nay. Ông cũng chưa xem xét được nhu cầu, lí do mà du khách du lịch và cũng chưa phân biệt được du khách với những người rời khỏi nơi cư trú tới nơi khác nhưng không phải để du lịch.
Trong khi đó, một nhà nghiên cứu xã hội học về du lịch đã chỉ ra trong nghiên cứu của mình vào năm 1972 về định nghĩa du khách. Theo đó, du khách là “một người đi tự nguyện, mang tính nhất thời, với mong muốn được giải trí từ những điều mới lạ và sự thay đổi thu nhận được từ một chuyến đi tương đối xa và không thường xuyên” (Cohen, Towards a sociology of international tourism. Ông cũng phân loại du khách thành 4 kiểu du khách: Du khách thích khám phá mạo hiểm (the drifter), Du khách thám hiểm (the explorer), du khách cá nhân (the individual mass tourist), du 8 Luan van khách có tổ chức (the organized mass tourist) (Cohen 1979). Cách phân chia này được xây dựng dựa trên mức độ mong muốn tìm kiếm sự mới lạ hoặc quen thuộc của du khách.
Khách với du khách, khách tham quan là những người đến thăm, thư giãn, giải trí trong một khoảng thời gian dưới 24 giờ. Hiện nay, số lượng người đi du lịch dưới dạng thời gian ngắn đang ngày càng nhiều. Tuy lượng chi tiêu của họ có thể thấp hơn du khách nhưng đây cũng là một nguồn thu đáng kể mà các địa phương du lịch có thể tận dụng. Tổng kết lại, khách du lịch là những người đi đến những nơi khác để tham quan, giải trí, mua sắm, nghỉ ngơi, tham dự hội thảo, hoạt động thể thao, văn hóa… Tùy vào tình hình, đặc điểm và định hướng phát triển du lịch của mình, mỗi địa phương sẽ có chiến lược phù hợp nhằm thu hút, khai thác loại khách du lịch để đạt hiệu quả cao nhất.
Tài nguyên du lịch Mỗi địa phương đều có những đặc điểm tài nguyên du lịch khác nhau. Với điều kiện tài nguyên du lịch tại địa phương mình, mỗi địa phương sẽ xây dựng định hướng riêng để khai thác hiệu quả các nguồn tài nguyên sẵn có. Về định nghĩa, hiện có nhiều quan điểm khác nhau về tài nguyên du lịch. Trong đó có một số quan điểm được nhiều người ủng hộ như sau: Tác giả Mai Thị Ánh Tuyết (2007) cho rằng tài nguyên du lịch là tiền đề để địa phương phát triển ngành du lịch của mình.
Tài nguyên du lịch có thể là những yếu tố về tự nhiên, văn hóa xã hội, … mà những yếu tố này là động lực chính để thu hút khác du lịch đến địa phương từ đó giúp đem lại các hiệu quả về kinh tế. Có hai dạng tài nguyên du lịch là tài nguyên đa khai thác và tài nguyên chưa được khai thác. Từ hai dạng tài nguyên du lịch này, tác giả cũng đề xuất phân loại tài nguyên du lịch thành ba loại: - Tài nguyên du lịch cảnh quan: bao gồm tài nguyên du lịch tự nhiên, tài nguyên du lịch nhân văn, tài nguyên du lịch xã hội. 9 Luan van - Tài nguyên du lịch kinh doanh: là những tài nguyên được sử dụng khai thác để đem lại hiệu quả kinh tế cho địa phương.
- Đổi mới tài nguyên du lịch: bao gồm tài nguyên du lịch có tính chất đổi mới và không có tính chất đổi mới. (Tuyet 2007) Bên cạnh đó, theo tác giả Pirojnik (1985) cho rằng: “Tài nguyên du lịch là những tổng thể tự nhiên, văn hóa – lịch sử và những thành phần của chúng giúp cho việc phục hồi, phát triển thể lực, tinh lực, khả năng lao động và sức khỏe của con người mà chúng được sử dụng trực tiếp hoặc gián tiếp để tạo ra dịch vụ du lịch gắn liền với nhu cầu ở thời điểm hiện tại hay tương lai và trong điều kiện kinh tế - kỹ thuật cho phép”. Tương tự như vậy, tác giả Ngô Tất Hổ (2000) cũng đề xuất cách tiếp cận về tài nguyên du lịch. Tác giả cho rằng tài nguyên du lịch là tất cả những gì tồn tại trong thiên nhiên, trong cộng đồng và xã hội mà có thể thu hút khách du lịch đến thăm giúp đạt được các lợi ích về kinh tế, xã hội.
Tuy nhiên, tác giả Ngô Tất Hổ cũng đề xuất cách phân chia tài nguyên du lịch khác với tác giả Mai Thị Ánh Tuyết. Ông chia tài nguyên du lịch thành ba hệ thống (gồm: thiên nhiên, nhân văn, dịch vụ); 10 loại (gồm: cảnh quan địa văn, cảnh quan thủy văn, khí hậu vi sinh vật, cảnh quan tự nhiên khác, di tích lịch sử, điểm nhân văn hiện đại, điểm hấp dẫn nhân văn trừu tượng, hấp dẫn nhân văn khác, dịch vụ du lịch, các dịch vụ khác); 95 kiểu và 3 bậc. Dựa vào quy mô và mức độ quan trọng của tài nguyên mà tác giả phân chia chúng theo 3 bậc này (Hổ 2000).