Phần mở đầu Chương 2: Cơ sở lý luận và tổng quan nghiên cứu về tác động của phát triển du lịch biển đến chất lượng cuộc sống của cộng đồng địa phương Chương 3: Địa bàn và phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 5: Hàm ý chính sách 9 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ TÁC ĐỘNG CỦA PHÁT TRIỂN DU LỊCH BIỂN ĐẾN CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG CỦA CỘNG ĐỒNG ĐỊA PHƯƠNG Trong chương này, luận án sẽ trình bày các cơ sở lý luận và tổng quan lý thuyết có liên quan đến CLCS, nhận thức về sự tác động của PTDL, PTDL biển, GKCĐ. Cùng với đó, tác giả khát quát các lý thuyết nền tảng được sử dụng trong nghiên cứu bao gồm lý thuyết có liên quan được sử dụng bao gồm lý thuyết trao đổi xã hội, lý thuyết phát triển bền vững, lý thuyết lan tỏa từ dưới lên, lý thuyết đánh giá nhận thức và lý thuyết gắn kết. Tiếp đến, nghiên cứu sẽ tập trung thảo luận mối quan hệ giữa nhận thức về sự tác động của PTDL biển đến CLCS của CĐĐP ở cả khía cạnh tích cực và tiêu cực cũng như vai trò điều tiết của GKCĐ trong mối quan hệ này.1 Các khái niệm cơ bản 2.1 Cộng đồng Hiện nay, nhu cầu du lịch trở thành nhu cầu trong đời sống của con người. Cùng với đó, nhu cầu PTDL bền vững cũng trở thành vấn đề “nóng” ở các quốc gia.
Mục đích cơ bản của du khách khi đến một điểm đến là trải nghiệm lối sống của các cộng đồng khác nhau. Tất nhiên, cộng đồng cũng là nguồn gốc của khách du lịch. Do đó, cộng đồng là đối tượng quan trọng trong chuỗi hệ thống các đối tượng của ngành du lịch. “Cộng đồng” là một cụm từ được dùng bởi các chính trị gia, nhà bình luận xã hội, nhà lãnh đạo tôn giáo và các học giả.
Tuy nhiên, nó ít khi được định nghĩa vì hầu hết tất cả mọi người đều biết ý nghĩa của nó. Thuật ngữ “cộng đồng” nguyên bản từ tiếng Latinh “communitas” dùng để chỉ chính sự bình đẳng và tinh thần cộng đồng. Trong những năm của thập niên 1950, có nhiều cách hiểu khác nhau về cộng đồng (Hillery, 1955). Urry (1995) đã mở rộng phân tích của Bell và Newby (1976) đã phân tích thuật ngữ cộng đồng trên bốn khía cạnh cụ thể, thứ nhất cộng đồng có một vị trí địa lý cụ thể, thứ hai cộng đồng có một hệ thống XH cụ thể, thứ ba là sự gắn kết của các đối tượng trong khu vực và cuối cùng là có một hệ tư tưởng.
Càng về sau, thuật ngữ cộng đồng được hiểu trên nhiều góc độ khác nhau. Do đó, khái niệm về cộng đồng chưa được định nghĩa chính xác và rõ ràng (Beeton, 2006). Cộng đồng được định nghĩa theo nhiều kiểu khác nhau, bao gồm địa lý, dân tộc, tôn giáo, ngôn ngữ, sở thích hoặc mục tiêu chung, song hầu hết đều coi cộng đồng là một không gian hẹp, một XH đồng nhất với việc sẻ chia các tiêu chuẩn và lợi ích chung (Agrawal và Gibson, 1999). Beeton (2006) lại xem “Cộng đồng như một nhóm người có chung tín ngưỡng, cùng sống trong một không gian và thời gian nhất định”.
Ngược 10 lại, Aref và cộng sự (2010) chỉ ra “Cộng đồng là những người ở cùng trong một vị trí địa lý nhất định có sự tương tác và đặc điểm của cộng đồng”. Cùng với đó, “Cộng đồng là nhóm đối tượng có một bản sắc chung và là những người có thể tham gia cùng các lĩnh vực liên quan đến đời sống chung” (Scherl và Edwards, 2007). Hay cũng có quan điểm cho rằng, các nhóm gia đình cũng hình thành một loại “cộng đồng” đặc biệt, điều đặc biệt này thể hiện qua mối quan hệ gia đình bền chặt, trách nhiệm, tương hỗ và tôn trọng nhau (Beeton, 2006). Bên cạnh đó, có nhiều người cho rằng những người có cùng mối quan tâm cũng hình thành nên các “cộng đồng” nghệ thuật, học thuật, bác sĩ…Những cộng đồng này có thể có một vị trí địa lý hoặc không gian khác nhau song việc hình thành có thể vượt qua các biên giới vật lý (Beeton, 2006).
Tóm lại, cộng đồng là một nhóm người hay một tổ chức với các liên kết XH và tương tác với nhau trên cơ sở chung của một số đặc điểm, giá trị, lợi ích hoặc mục đích, có sự chia sẻ, tương tác lẫn nhau.2 Cộng đồng địa phương Xuất phát từ thuật ngữ “cộng đồng” được xem là một nhóm người ở một khu vực địa lý nhất định như trong thung lũng, núi hoặc các khu vực sông, biển hoặc về mặt chính trị như ở các thành phố, quốc gia. Thuật ngữ “cộng đồng địa phương” thường được đề cập với quy mô nhỏ hơn như các thị trấn nhỏ hoặc các trung tâm đô thị… (Beeton, 2006). Theo Scherl và Edwards (2007) “CĐĐP là nhóm người có thể tham gia cùng các lĩnh vực liên quan đến đời sống chung. Họ cũng lưu ý rằng cộng đồng địa phương thường có quyền liên quan đến khu vực và tài nguyên thiên nhiên, mối quan hệ mạnh mẽ về KT, VH, XH, và tinh thần”.
Thêm nữa, có quan điểm cho rằng “CĐĐP là một nhóm dân cư cùng sinh sống trên một khu vực địa lý nhất định và có các đặc điểm chung về giá trị văn hóa truyền thống, bảo tồn, sử dụng chung các nguồn tài nguyên môi trường, có cùng mối quan tâm về KT-XH, có sự gắn kết về huyết thống, tình cảm và có sự chia sẻ nguồn lợi và trách nhiệm trong cộng đồng” (Bùi Thị Hải Yến, 2012). Ngoài ra, Nguyễn Hữu Nhân (2004) lại cho rằng “CĐĐP là tập hợp các nhóm người có chung địa bàn cư trú và có quyền sử dụng các tài nguyên ở địa phương đó hay nhóm đối tượng có một bản sắc chung và có sự gắn kết chặt chẽ trên lĩnh vực VH, XH và KT”. Như vậy, khái niệm CĐĐP được hiểu theo nghĩa hẹp, đó là một nhóm người cùng sinh sống trên một khu vực địa lý hoặc cùng một cộng đồng hành chính nhỏ, chẳng hạn 11 như một khu phố, một làng, một thị trấn hoặc một thành phố nhỏ. Các CĐĐP thường có sự gắn kết mạnh mẽ do các thành viên của chúng có các liên kết XH và VH chung, và thường chia sẻ các giá trị và lợi ích chung.3 Phát triển du lịch Du lịch được xem là một yếu tố tác động lớn tới KT, XH, mang lại thu nhập và đóng góp vào sự tăng trưởng KT, thúc đẩy sự phát triển ổn định đặc biệt đối với các nước đang phát triển (WTO, 1980).
Do đó, việc đầu tư vào PTDL là phù hợp với xu hướng hiện nay và cần thiết cho các quốc gia này. Để hiểu rõ về khái niệm PTDL, cần có hiểu biết về khái niệm phát triển và cách nó được áp dụng trong nhiều ngữ cảnh khác nhau. Cowen và Shenton (1996) đã nhấn mạnh rằng, mặc dù thuật ngữ phát triển được sử dụng nhiều, tuy nhiên nó chưa rõ ràng và được hiểu ở các trường hợp khác nhau. Khái niệm phát triển đã thay đổi theo thời gian, chuyển từ việc tập trung vào phát triển, tăng trưởng trên khía cạnh KT sang PTBV và tạo nên sự “hạnh phúc” và phát triển toàn diện (Hettne, 1995; Pookaiyaudom, 2012).
Friedmann (1980) và Pearce (1989) cho rằng, phát triển liên quan đến quá trình thay đổi tiến hóa xảy ra theo thời gian và theo hướng tích cực. Cùng với đó, Todaro và Smith (2011) cho rằng phát triển là một quá trình với những thay đổi lớn trong tăng trưởng KT và thể chế quốc gia và giúp giảm tỷ lệ đói nghèo. Đồng thời, sự phát triển cũng được nhìn nhận một cách thực tế hơn khi các kế hoạch, chính sách và hoạt động của các cơ quan khác nhau như các tổ chức của chính phủ, phi chính phủ, đoàn tình nguyện…phát triển hoặc làm việc để giúp đỡ và khuyến khích thay đổi XH (Sharpley, 2009). Như vậy, về cơ bản có thể hiểu phát triển là sự chuyển đổi tích cực của sự vật hiện tượng (Aronsson, 2000; Thomas, 2000).
Theo Elliot (1999), du lịch được xem là ngành KT tổng hợp do tính liên ngành, liên vùng. Devine và Ojeda (2017) nhận thấy rằng, PTDL là một chuỗi hoạt động liên tục, không đơn thuần là hoạt động đơn lẻ của khách du lịch. Ngoài ra, theo UNWTO, PTDL có thể thiết lập một trật tự KT quốc tế mới và giúp giảm bớt khoảng cách KT giữa các nước đang phát triển và phát triển. Đồng thời bảo đảm sự tăng trưởng ổn định về KT và XH ở các nước đang phát triển (WTO, 1980).
Cũng theo Liu (1994), PTDL được miêu tả như một quá trình năng động, với mục đích kết nối các nguồn lực du lịch để đáp ứng du khách. Song, theo một số quan điểm khác, PTDL lại là một nguyên nhân của các vấn đề về MT và XH tại các điểm đến (Sharpley, 2009). Đồng thời, PTDL nhanh dẫn đến việc không kiểm soát được các vấn đề về MT, chính trị, XH và KT (Sharpley, 2009). Điều này đã gây ra một cuộc tranh luận mạnh mẽ vào những năm 12 1990 về tác động của PTDL.
Do đó, để quản lý hiệu quả sự PTDL, cần phân tích, đánh giá và áp dụng các giải pháp đồng bộ, từ đó đạt được sự cân bằng giữa các đóng góp tốt và chưa tốt của PTDL. Kể từ đầu những năm 1990, giải pháp cho vấn đề này là việc PTDL bền vững. Theo Butler (1993), đây là một hình thức phát triển được thực hiện và bảo vệ trong phạm vi một khu vực nhất định, đồng thời đảm bảo tính bền vững cho MT sống của người dân. Tuy nhiên, cách tiếp cận này chưa đề cập đến tính bền vững của du lịch.
Song cũng được các tác giả như Murphy (1994), Mowforth và Munt (1998) đồng ý. Ngược lại, Machado (2003) cho rằng “PTBV trong du lịch là quá trình phát triển các sản phẩm du lịch nhằm đáp ứng các nhu cầu hiện tại của khách du lịch, ngành du lịch và CĐĐP mà không ảnh hưởng đến khả năng đáp ứng nhu cầu của thế hệ tương lai”. Tosun (1998a) đưa ra luận điểm rằng việc chấp nhận PTDL bền vững là cần thiết để tạo thành một phần của PTDL và nó đóng góp ý nghĩa trong một khoảng thời gian mà không ảnh hưởng đến nhu cầu của thế hệ tương lai. Khái niệm này tập trung vào việc duy trì các nguyên tắc chung của PTBV, tuy nhiên chưa chỉ ra được vai trò của quản lý tài nguyên để đạt được đích đến đó.