Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ luật học "Xúc tiến du lịch theo pháp luật Việt Nam hiện nay" của tác giả Châu Vũ, chuyên ngành Luật Kinh tế (Mã số: 9.07), được thực hiện tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam dưới sự hướng dẫn khoa học của Lê Mai Thanh và Phạm Thị Thúy Nga (Hà Nội, 2023).
Tính cấp thiết của đề tài
Du lịch được xác định là ngành kinh tế có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội và từng bước trở thành ngành kinh tế mũi nhọn tại Việt Nam. Theo dữ liệu được tác giả tổng hợp từ các cơ quan quản lý, trong giai đoạn 2015–2019, ngành du lịch Việt Nam đạt mức tăng trưởng trung bình 22,7%/năm. Năm 2019, toàn ngành đón trên 18 triệu lượt khách du lịch quốc tế và 85 triệu lượt khách du lịch nội địa, đóng góp trên 9,2% vào GDP (tăng từ mức 6,3% năm 2015).
Tuy nhiên, cuộc khủng hoảng do đại dịch COVID-19 đã tác động nghiêm trọng đến ngành du lịch toàn cầu và Việt Nam:
- Theo Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO), ngành du lịch thế giới thiệt hại khoảng 2,4 nghìn tỷ USD trong năm 2021; 46 quốc gia (chiếm 21% điểm đến toàn cầu) phải đóng cửa biên giới hoàn toàn và 55 quốc gia đóng cửa một phần. Lượng khách quốc tế giảm hơn 1 tỷ lượt (tương đương 73%) so với năm 2020.
- Tại Việt Nam, hoạt động du lịch quốc tế tạm dừng từ tháng 4/2020 đến tháng 11/2021; du lịch nội địa trải qua 4 lần gián đoạn. Năm 2020, khách nội địa giảm 34%, tổng thu giảm 60% so với năm 2019. Năm 2021, khách nội địa đạt 40 triệu lượt, giảm 29% so với năm 2020. Năm 2022, khách quốc tế đạt 3,66 triệu lượt, giảm 79,7% so với năm 2019; tổng thu từ khách du lịch đạt 180.000 tỷ đồng, giảm 42% so với cùng kỳ năm 2019.
| Chỉ tiêu thống kê du lịch Việt Nam |
Năm 2015 |
Năm 2019 |
Năm 2020 |
Năm 2021 |
Năm 2022 |
| Lượt khách quốc tế |
— |
> 18 triệu lượt |
Tạm dừng từ 4/2020 |
— |
3,66 triệu lượt |
| Lượt khách nội địa |
— |
85 triệu lượt |
Giảm 34% so với 2019 |
40 triệu lượt |
— |
| Tỷ lệ đóng góp vào GDP |
6,3% |
> 9,2% |
— |
— |
— |
| Tổng thu từ khách du lịch |
— |
— |
Giảm 60% so với 2019 |
— |
180.000 tỷ đồng |
Trong bối cảnh phục hồi kinh tế sau đại dịch, hoạt động xúc tiến du lịch (XTDL) của các thương nhân trở thành công cụ thúc đẩy cơ hội cung ứng dịch vụ du lịch. Tuy nhiên, hệ thống pháp luật điều chỉnh hoạt động XTDL đối với thương nhân tại Việt Nam còn tồn tại sự chồng chéo, chưa đồng bộ giữa pháp luật thương mại, pháp luật du lịch, pháp luật quảng cáo và pháp luật cạnh tranh; đồng thời chưa kịp thời điều chỉnh các phương thức xúc tiến mới trong kỷ nguyên số. Do đó, việc nghiên cứu cơ sở lý luận và thực trạng pháp luật về XTDL của thương nhân là yêu cầu cần thiết.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục tiêu nghiên cứu: Trên cơ sở hệ thống hóa lý luận về XTDL và pháp luật về XTDL, đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện XTDL của thương nhân kinh doanh du lịch theo pháp luật Việt Nam, từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện.
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Xác định và làm rõ những vấn đề lý luận về XTDL và pháp luật về XTDL đối với thương nhân kinh doanh du lịch.
- Phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật Việt Nam về XTDL đối với thương nhân; chỉ ra ưu điểm, hạn chế và bất cập trong thực tiễn áp dụng.
- Đề xuất phương hướng và giải pháp cụ thể hoàn thiện pháp luật Việt Nam về XTDL và cơ chế tổ chức thực hiện.
Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu
- Câu hỏi nghiên cứu:
- Thứ nhất: Xúc tiến du lịch tiếp cận dưới góc độ pháp lý là gì và khuôn khổ pháp lý cũng như nội dung pháp luật điều chỉnh về XTDL đối với thương nhân là gì?
- Thứ hai: Thực trạng pháp luật điều chỉnh hoạt động XTDL là hành vi thương mại của thương nhân tại Việt Nam như thế nào?
- Thứ ba: Định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật để thúc đẩy XTDL của Việt Nam đối với thương nhân trong thời gian tới là gì?
- Giả thuyết nghiên cứu:
- Lý luận về XTDL cũng như pháp luật điều chỉnh XTDL với tư cách là hành vi xúc tiến thương mại của thương nhân kinh doanh dịch vụ du lịch chưa đầy đủ và rõ ràng.
- Những bất cập về pháp luật cũng như cơ chế thực hiện pháp luật về XTDL cản trở hiệu quả hoạt động, chưa bảo vệ đầy đủ quyền lợi của thương nhân kinh doanh du lịch và khách hàng.
- Cần thiết phải có phương hướng và giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật về XTDL từ thực trạng bất cập của pháp luật và cơ chế thực thi đã nhận diện.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề pháp lý và thực tiễn thực hiện pháp luật liên quan đến hoạt động XTDL của thương nhân kinh doanh du lịch, cùng các chính sách pháp luật của Nhà nước nhằm thúc đẩy XTDL.
- Phạm vi nội dung: Pháp luật điều chỉnh quan hệ XTDL dưới góc độ hành vi thương mại của thương nhân cung ứng dịch vụ du lịch qua các hình thức: khuyến mại, quảng cáo, giới thiệu sản phẩm dịch vụ du lịch, hội chợ và triển lãm du lịch. Luận án không đi sâu vào chức năng quản lý nhà nước hành chính (cấp phép, kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm hành chính) và không mở rộng sang hoạt động XTDL tại nước ngoài của doanh nghiệp Việt Nam.
- Phạm vi thời gian: Từ năm 2013 đến năm 2023.
- Phạm vi không gian: Lãnh thổ Việt Nam.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu trước đây được tác giả điểm luận
1. Nhóm nghiên cứu về lý luận xúc tiến thương mại, xúc tiến du lịch và pháp luật có liên quan
- Về xúc tiến thương mại và quảng cáo: Nguyễn Thị Dung (2005, 2007) phân tích khái niệm quảng cáo thương mại và các bất cập trong pháp luật xúc tiến thương mại tại Việt Nam; Trịnh Thị Liên Hương (2006) nghiên cứu hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong quảng cáo và nghĩa vụ chứng minh của người tiêu dùng; Trịnh Xuân Dũng (2009) hệ thống hóa lý thuyết về tuyên truyền, quảng cáo và XTDL; Nguyễn Hữu Viện và Trịnh Xuân Dũng (2001) nghiên cứu luật kinh doanh du lịch và cơ chế phát triển bền vững.
- Về xúc tiến du lịch tại địa phương và du lịch MICE: Lê Thành Công (2010), Cao Như Hoàng (2014), Phan Minh Châu (2013), Võ Minh Tín (2015), Bùi Văn Mạnh (2010), Đào Thị Ngọc Lan (2011), Trần Thị Thủy (2012) nghiên cứu hoạt động xúc tiến tại Hải Phòng, Hà Tĩnh, Phú Quốc, Ninh Thuận, Ninh Bình, Hải Dương, Nghệ An; Phan Thị Thái Hà (2013) nghiên cứu hoạt động tuyên truyền của trung tâm XTDL Hà Nội; Chu Khánh Linh (2013) và Nguyễn Thu Thủy (2006) khảo sát xúc tiến du lịch MICE tại Bà Rịa - Vũng Tàu và Hà Nội; Đinh Thị Trà Nhi (2010) nghiên cứu thương hiệu du lịch Đà Nẵng; Huỳnh Thị Hòa (2021) nghiên cứu XTDL thu hút khách quốc tế tại cụm Huế - Đà Nẵng - Quảng Nam.
- Về tiếp thị vi mô tại doanh nghiệp: Vũ Hoài Nam (2008), Hoàng Lê Minh (2008), Nguyễn Văn Dung (2009), Trần Ngọc Nam và Hoàng Anh (2009) nghiên cứu nghiệp vụ tiếp thị và quảng bá du lịch của doanh nghiệp.
- Các nghiên cứu quốc tế: Eric Law (1995), Francois Vellas (1999), Stephen Page (1995) nghiên cứu quản lý và tiếp thị điểm đến; US Travel Association (2013) đánh giá tác động kinh tế của xúc tiến du lịch; Daniel Felsenstein và Aliza Fleischer (2003) nghiên cứu lễ hội địa phương; Robert Govers, Frank M. Go và Kuldeep Kumar (2007) phân tích hình ảnh điểm đến; Vivek Sharma và Jeet Dogra (2011), Wen Hsiang Lai và Nguyen Quang Vinh (2013), Mustafa Boz và Duygu Unal nghiên cứu xúc tiến trực tuyến qua internet và mạng xã hội; Simon Hudson (2008), Victor Middleton và Jackie Clarke (1996), Francois Vellas và Lionel Brel (1999), Maricel Gatchalian Badilla (2017) phân tích marketing du lịch và khách sạn toàn cầu.
2. Nhóm nghiên cứu về thực trạng pháp luật và giải pháp hoàn thiện
- Nghiên cứu quản lý nhà nước và năng lực cạnh tranh: Trịnh Đăng Thanh (2004) nghiên cứu quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với du lịch; Nguyễn Văn Đảng (2007) và Nguyễn Anh Tuấn (2010) nghiên cứu hoạch định chiến lược và năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch Việt Nam.
- Các đề tài, đề án cấp bộ và chiến lược ngành: Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch (2005; 2007 - chủ nhiệm Đỗ Cẩm Thơ); Tổng cục Du lịch (2012) với các đề án xúc tiến tại thị trường Hàn Quốc, Nga, Nhật Bản, Thái Lan, Malaysia, Pháp, Úc; Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (2011, 2013, 2015) với Chiến lược, Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch đến 2020, tầm nhìn 2030 và Dự án Luật Du lịch sửa đổi; Phạm Mạnh Cường (2007), Ngô Minh Châu (2009), Vi Thị Minh Tâm (2013), Lê Thị Vân Anh (2013) nghiên cứu thị trường quốc tế; Nguyễn Văn Lưu (2013) nghiên cứu du lịch Việt Nam trong ASEAN; Phan Huy Xô và Võ Văn Thành (2016) bàn về văn hóa du lịch; Trần Thị Mai Phước (2015) phân tích pháp luật du lịch trong toàn cầu hóa; các bài báo của Thái Bình (2004), Nguyễn Tuấn Anh (2008), Vụ Thị trường - Tổng cục Du lịch (2010), Trần Nguyên Trực.
- Nghiên cứu quốc tế về chính sách và quản lý du lịch: Martin Oppermann và Kye-Sung Chon (1997), S. Medlik (1991/1995), Thomas L. Wheelen và J. David Hunger (2002), Salah Wahab và Chris Cooper (2003), Stephen F. Witt (1995), Nigel Morgan và Annette Pritchard (1999), S. Singh (2014).
Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết
Hầu hết các công trình đã công bố tiếp cận XTDL dưới góc độ kinh tế học, quản trị kinh doanh, marketing du lịch hoặc quản lý nhà nước về du lịch. Chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện và chuyên biệt về pháp luật điều chỉnh XTDL của thương nhân dưới góc độ hành vi xúc tiến thương mại chuyên biệt theo pháp luật thương mại, gắn với yêu cầu bảo đảm cạnh tranh lành mạnh, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và điều chỉnh các phương thức XTDL số mới phát sinh.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
Luận án được xây dựng trên nền tảng quan điểm Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, các chủ trương của Đảng và chính sách của Nhà nước Việt Nam về phát triển du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn. Bên cạnh đó, tác giả vận dụng các lý thuyết kinh tế và xã hội chuyên ngành:
- Lý thuyết Marketing của Philip Kotler (1967): Nhấn mạnh lý thuyết 4P (Product, Price, Place, Promotion) và marketing mix 7P trong dịch vụ (bổ sung People, Process, Philosophy), xác định tiếp thị là cầu nối giữa nhu cầu xã hội và sự đáp ứng của nhà sản xuất nhằm mang lại lợi ích cho người tiêu dùng.
- Lý thuyết về giới hạn sinh lợi của sản phẩm (nằm trong Lý thuyết tổng quát về việc làm, lãi suất và tiền tệ của John Maynard Keynes, 1935): Vận dụng nguyên lý cầu hữu hiệu để giải thích vai trò kích cầu dịch vụ du lịch trong giai đoạn phục hồi kinh tế sau khủng hoảng.
- Lý thuyết về sự lan tỏa về tính mới của sản phẩm (Diffusion of Innovations) của Everett Rogers (1962): Phân tích 4 yếu tố ảnh hưởng đến sự lan truyền ý tưởng mới (sự đổi mới, kênh truyền thông, thời gian, hệ thống xã hội), áp dụng vào việc phát triển thị phần XTDL.
- Lý thuyết giá cả và thị trường của Alfred Marshall (1890 trong tác phẩm Principles of Economics): Phân tích tương tác giữa giá cung, giá cầu và cơ chế hình thành mức giá cân bằng trên thị trường du lịch.
- Mô hình Kim cương của Michael Porter: Phân tích năng lực cạnh tranh ngành thông qua điều kiện cung, điều kiện cầu, chiến lược doanh nghiệp và các ngành công nghiệp phụ trợ.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, tiếp cận trục chính từ ngành Luật Kinh tế và kết hợp các phương pháp nghiên cứu liên ngành:
- Phương pháp lịch sử: Nghiên cứu quá trình hình thành, phát triển các quy định pháp luật về xúc tiến thương mại và du lịch qua các thời kỳ.
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Phân tích các quy phạm pháp luật thực định, tổng hợp các dữ liệu định tính và định lượng nhằm đánh giá tính hiệu quả của pháp luật XTDL.
- Phương pháp thống kê, hệ thống hóa: Hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật và thống kê số liệu hoạt động du lịch từ các cơ quan quản lý.
- Phương pháp so sánh luật học: So sánh kinh nghiệm xây dựng pháp luật của một số quốc gia nhằm rút ra bài học cho Việt Nam.
Nguồn tư liệu và dữ liệu
- Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam: Luật Thương mại (1997, 2005), Pháp lệnh Du lịch 1999, Luật Du lịch (2005, 2017), Luật Quảng cáo 2012, Luật Cạnh tranh 2018, Nghị định 37/2006/NĐ-CP, Nghị định 81/2018/NĐ-CP, Quyết định 49/2018/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ...
- Số liệu thống kê chính thức từ Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Tổng cục Du lịch, Hiệp hội Du lịch Việt Nam và Hội đồng Tư vấn Du lịch (TAB).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài và các vấn đề đặt ra đối với đề tài luận án
Chương 1 tổng thuật chi tiết các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế liên quan đến XTDL và pháp luật về XTDL. Tác giả phân chia các công trình thành hai nhóm chính: nhóm nghiên cứu lý luận xúc tiến thương mại/du lịch và nhóm nghiên cứu thực trạng pháp luật/giải pháp quản lý.
Chương này chỉ ra các khoảng trống khoa học mà các nghiên cứu trước chưa giải quyết trọn vẹn:
- Chưa phân tích XTDL dưới góc độ là hành vi thương mại chuyên biệt của thương nhân chịu sự điều chỉnh của Luật Thương mại năm 2005 và Luật Du lịch năm 2017.
- Thiếu các nghiên cứu đánh giá toàn diện sự tương thích giữa pháp luật XTDL với pháp luật cạnh tranh và pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
- Chưa kịp thời luật hóa các phương thức XTDL trên không gian mạng và nền tảng số.
Trên cơ sở đó, tác giả xác định 3 câu hỏi nghiên cứu, 3 giả thuyết nghiên cứu và xây dựng khung lý thuyết làm cơ sở luận giải cho toàn bộ luận án.
Chương 2: Cơ sở lý luận về xúc tiến du lịch và lý luận pháp luật về xúc tiến du lịch
Chương 2 làm rõ các khái niệm và đặc trưng pháp lý cơ bản của XTDL và pháp luật về XTDL:
1. Khái niệm và đặc điểm
- Góc độ kinh tế: XTDL là các hoạt động liên hệ với thị trường nhằm mục đích khuyến khích, thúc đẩy phát triển du lịch thông qua việc cung ứng dịch vụ.
- Góc độ pháp lý: Theo khoản 13 Điều 3 Luật Du lịch năm 2017, XTDL là "hoạt động nghiên cứu thị trường, tổ chức tuyên truyền, quảng bá, vận động nhằm tìm kiếm, thúc đẩy cơ hội phát triển và thu hút khách du lịch". Theo khoản 10 Điều 3 Luật Thương mại năm 2005, xúc tiến thương mại là hoạt động thúc đẩy, tìm kiếm cơ hội mua bán hàng hóa và cung ứng dịch vụ. Từ đó, tác giả đưa ra khái niệm: XTDL của thương nhân là hoạt động thúc đẩy, tìm kiếm cơ hội mua bán và cung ứng sản phẩm dịch vụ du lịch, bao gồm khuyến mại du lịch, quảng cáo du lịch, giới thiệu sản phẩm dịch vụ du lịch và hội chợ, triển lãm du lịch.
- Quyền hoạt động XTDL của thương nhân: Theo nghĩa chủ quan là quyền tự do kinh doanh của thương nhân (tự do lựa chọn hình thức, cách thức, kinh phí, thời gian XTDL); theo nghĩa khách quan là tổng thể các quy phạm pháp luật xác lập quyền, nghĩa vụ của thương nhân và trách nhiệm của cơ quan nhà nước.
| Tiêu chí phân biệt |
Xúc tiến thương mại nói chung |
Xúc tiến du lịch |
| Chủ thể |
Thương nhân thuộc mọi ngành nghề sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ; vai trò quản lý của Nhà nước mang tính định hướng chung. |
Thương nhân du lịch, thương nhân phụ trợ; Nhà nước giữ vai trò kép: vừa quản lý vĩ mô, vừa trực tiếp quảng bá hình ảnh quốc gia. |
| Mục đích |
Tìm kiếm, thúc đẩy cơ hội mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ đơn thuần để sinh lời. |
Vừa thúc đẩy cung ứng dịch vụ du lịch sinh lời, vừa quảng bá hình ảnh thiên nhiên, văn hóa, con người địa phương và quốc gia. |
| Cách thức tiến hành |
Thực hiện thông qua các biện pháp xúc tiến thương mại do Luật Thương mại điều chỉnh. |
Kết hợp các hình thức của Luật Thương mại với hoạt động nghiên cứu thị trường, tuyên truyền, vận động theo Luật Du lịch. |
2. Chủ thể và các yếu tố môi trường tác động
- Chủ thể tiến hành: Thương nhân du lịch theo Điều 6 Luật Thương mại năm 2005 (thỏa mãn 3 điều kiện: tổ chức/cá nhân thành lập hợp pháp; hoạt động thương mại độc lập, thường xuyên; có đăng ký kinh doanh). Phân loại thương nhân gồm: thương nhân Việt Nam và nước ngoài; thương nhân tự XTDL và thương nhân kinh doanh dịch vụ XTDL; thương nhân ngành du lịch (doanh nghiệp lữ hành, lưu trú) và thương nhân phụ trợ (Vietnam Airlines, Vietjet Air, doanh nghiệp vận tải, ngân hàng...).
- Các thành tố môi trường: (1) Chính sách và hoạt động quản lý nhà nước (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Tổng cục Du lịch, Quỹ Hỗ trợ phát triển du lịch - VTDF thành lập theo Quyết định 49/2018/QĐ-TTg); (2) Môi trường cạnh tranh lành mạnh; (3) Môi trường bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (khách du lịch).
- Bốn hình thức pháp lý cơ bản: Khuyến mại du lịch (dành lợi ích cho khách hàng); Quảng cáo du lịch (thông tin một chiều qua phương tiện truyền thông); Giới thiệu sản phẩm dịch vụ du lịch (sử dụng tài liệu, ấn phẩm in ấn hoặc điện tử); Hội chợ, triển lãm du lịch (trưng bày, giao thương tập trung giữa người mua và người bán).
Chương 3: Thực trạng pháp luật Việt Nam về xúc tiến du lịch của các thương nhân và thực tiễn thực hiện
Chương 3 phân tích thực trạng các quy định pháp luật thực định và thực tiễn thi hành theo 4 nội dung cụ thể:
- Thực trạng pháp luật về khuyến mại du lịch của các thương nhân: Phân tích các quy định tại Luật Thương mại năm 2005 và Nghị định 81/2018/NĐ-CP (thay thế Nghị định 37/2006/NĐ-CP) về hạn mức giảm giá, thủ tục thông báo và đăng ký khuyến mại tour/dịch vụ du lịch; chỉ ra sự phức tạp về thủ tục hành chính và bất cập trong kiểm soát các chương trình khuyến mại có yếu tố may rủi trực tuyến.
- Thực trạng pháp luật về quảng cáo du lịch của các thương nhân: Đánh giá các quy định của Luật Quảng cáo năm 2012 và Luật Du lịch năm 2017 về nội dung quảng cáo dịch vụ du lịch, phương tiện quảng cáo; thực tiễn vi phạm về quảng cáo sai sự thật, thổi phồng chất lượng dịch vụ lưu trú, tour du lịch trên không gian mạng và mạng xã hội.
- Thực trạng pháp luật về giới thiệu sản phẩm dịch vụ du lịch, hội chợ, triển lãm du lịch: Phân tích quy định về phát hành ấn phẩm thông tin du lịch, quy trình tổ chức hội chợ/triển lãm du lịch trong nước và quốc tế; sự thiếu hụt quy chế quản lý các hội chợ du lịch ảo, triển lãm du lịch trên nền tảng kỹ thuật số.
- Thực trạng pháp luật bảo đảm cạnh tranh lành mạnh và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong XTDL: Đánh giá việc áp dụng Luật Cạnh tranh năm 2018 và Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; nhận diện các hành vi vi phạm như quảng cáo so sánh không lành mạnh, bán phá giá tour du lịch, cung cấp thông tin gây nhầm lẫn làm phương hại đến quyền lợi du khách.
Chương 4: Phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật xúc tiến du lịch tại Việt Nam
Chương 4 đưa ra phương hướng và hệ thống giải pháp:
- Phương hướng: Đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ giữa Luật Thương mại, Luật Du lịch, Luật Cạnh tranh, Luật Quảng cáo; thể chế hóa đầy đủ quyền tự do kinh doanh XTDL của thương nhân; tạo hành lang pháp lý an toàn, minh bạch cho các hoạt động xúc tiến trong bối cảnh chuyển đổi số.
- Giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật:
- Sửa đổi, bổ sung các quy định về khuyến mại du lịch, quảng cáo du lịch, hội chợ triển lãm du lịch trong Luật Thương mại và Luật Du lịch theo hướng minh bạch hóa khái niệm và đơn giản hóa thủ tục hành chính.
- Xây dựng quy định điều chỉnh các phương thức XTDL mới trên môi trường trực tuyến, thương mại điện tử và mạng xã hội.
- Hoàn thiện quy định về chế tài xử lý hành vi cạnh tranh không lành mạnh và các cơ chế bồi thường thiệt hại, bảo vệ quyền lợi du khách trong XTDL.
- Giải pháp tổ chức thực hiện pháp luật:
- Nâng cao hiệu quả phối hợp quản lý nhà nước giữa Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Công Thương, Bộ Thông tin và Truyền thông.
- Nâng cao hiệu quả hoạt động và cơ chế giải ngân của Quỹ Hỗ trợ phát triển du lịch (VTDF) để hỗ trợ thương nhân XTDL.
- Tăng cường thanh tra, kiểm tra, nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật và trách nhiệm xã hội của thương nhân kinh doanh du lịch.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận
- Xây dựng có hệ thống lý luận về XTDL và pháp luật về XTDL dưới góc độ Luật Kinh tế và hành vi thương mại của thương nhân.
- Chuẩn hóa khái niệm pháp lý "Xúc tiến du lịch" và "Pháp luật về xúc tiến du lịch" của thương nhân; làm rõ quyền tự do hoạt động XTDL theo cả nghĩa chủ quan và khách quan.
- Xác định rõ ba thành tố môi trường chi phối pháp luật XTDL của thương nhân: quản lý nhà nước/chính sách, cạnh tranh lành mạnh và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Đánh giá toàn diện thực trạng các quy định pháp luật hiện hành điều chỉnh 4 hình thức XTDL của thương nhân (khuyến mại, quảng cáo, giới thiệu sản phẩm dịch vụ, hội chợ triển lãm).
- Chỉ ra các mâu thuẫn, khoảng trống pháp lý giữa Luật Thương mại năm 2005, Luật Du lịch năm 2017, Luật Quảng cáo năm 2012, Luật Cạnh tranh năm 2018 và sự thiếu hụt quy định đối với XTDL trên không gian mạng.
- Đề xuất hệ thống giải pháp lập pháp và giải pháp tổ chức thi hành cụ thể, góp phần hỗ trợ quá trình phục hồi và phát triển kinh tế du lịch Việt Nam.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của đề tài
- Luận án tập trung nghiên cứu hành vi XTDL của thương nhân du lịch tại thị trường nội địa Việt Nam trong giai đoạn 2013–2023; chưa mở rộng nghiên cứu sâu hoạt động XTDL của các doanh nghiệp Việt Nam tại thị trường nước ngoài (vốn chịu sự điều chỉnh của pháp luật quốc tế và pháp luật nước sở tại).
- Chưa đi sâu vào mảng dịch vụ của các thương nhân kinh doanh dịch vụ xúc tiến thương mại độc lập thực hiện dịch vụ cho thương nhân du lịch, cũng như không đi sâu vào quy trình thủ tục thanh tra, xử phạt hành chính của cơ quan nhà nước.
Hướng nghiên cứu tiếp theo
- Nghiên cứu cơ chế điều chỉnh pháp luật đối với hoạt động XTDL xuyên biên giới trên nền tảng kinh tế số và mạng xã hội toàn cầu.
- Đánh giá tác động của các cam kết thương mại quốc tế (các FTA thế hệ mới) đối với quyền hoạt động XTDL ở nước ngoài của thương nhân Việt Nam.
- Nghiên cứu hoàn thiện cơ chế tài phán và giải quyết tranh chấp trực tuyến phát sinh từ các hợp đồng dịch vụ XTDL số.
Giá trị tham khảo
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên ngành Luật Kinh tế, Luật Dân sự và Quản trị Dịch vụ Du lịch: Sử dụng làm tài liệu tham khảo chuyên khảo về sự giao thoa giữa pháp luật thương mại và pháp luật du lịch chuyên ngành; tham khảo Chương 1 và Chương 2 về khung lý thuyết và tổng quan tài liệu.
- Giảng viên tại các cơ sở đào tạo luật và du lịch: Sử dụng làm tài liệu phục vụ giảng dạy các học phần Luật Du lịch, Pháp luật Xúc tiến thương mại, Luật Cạnh tranh và Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
- Cơ quan quản lý nhà nước và nhà làm chính sách: Tham khảo Chương 3 và Chương 4 phục vụ công tác rà soát, sửa đổi Luật Thương mại năm 2005, Luật Du lịch năm 2017, Luật Quảng cáo năm 2012; hoàn thiện cơ chế tài chính của Quỹ Hỗ trợ phát triển du lịch (VTDF).
- Thương nhân, doanh nghiệp lữ hành, lưu trú, vận tải du lịch: Tham khảo để nhận diện các giới hạn pháp lý trong triển khai các chiến dịch khuyến mại, quảng cáo, tham gia hội chợ triển lãm, qua đó phòng ngừa rủi ro vi phạm pháp luật cạnh tranh và bảo vệ người tiêu dùng.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án định nghĩa "Xúc tiến du lịch" dưới góc độ pháp luật thương mại như thế nào?
Dưới góc độ pháp luật thương mại, tác giả xác định XTDL là hoạt động thúc đẩy, tìm kiếm cơ hội mua bán và cung ứng sản phẩm dịch vụ du lịch của thương nhân, bao gồm các hoạt động: khuyến mại du lịch, quảng cáo du lịch, giới thiệu sản phẩm dịch vụ du lịch và hội chợ, triển lãm du lịch.
2. Khung pháp lý nền tảng điều chỉnh hoạt động xúc tiến du lịch của thương nhân gồm các văn bản nào?
Khung pháp lý nền tảng gồm: Luật Thương mại năm 2005, Luật Du lịch năm 2017, Luật Quảng cáo năm 2012, Luật Cạnh tranh năm 2018, cùng các văn bản hướng dẫn thi hành như Nghị định 81/2018/NĐ-CP (về xúc tiến thương mại), Quyết định 49/2018/QĐ-TTg (về thành lập Quỹ Hỗ trợ phát triển du lịch).
3. Ba điều kiện để nhận diện "thương nhân du lịch" theo quy định của pháp luật được luận án nêu ra là gì?
Căn cứ Điều 6 Luật Thương mại năm 2005, thương nhân du lịch phải hội đủ ba điều kiện: (1) Là cá nhân hoặc tổ chức được thành lập hợp pháp; (2) Có hoạt động thương mại về du lịch diễn ra độc lập, thường xuyên; (3) Có đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật.
4. Pháp luật Việt Nam điều chỉnh hoạt động xúc tiến du lịch của thương nhân từ những góc độ nào?
Pháp luật Việt Nam điều chỉnh hoạt động XTDL của thương nhân từ ba góc độ chính: (1) Tính thương mại của các hoạt động xúc tiến; (2) Tính cạnh tranh lành mạnh trên thị trường; (3) Yêu cầu bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng (khách du lịch).
5. Quỹ Hỗ trợ phát triển du lịch (VTDF) có mô hình pháp lý và chức năng như thế nào theo văn bản luận án trích dẫn?
Quỹ Hỗ trợ phát triển du lịch (tên tiếng Anh: Viet Nam Tourism Development Fund - VTDF) được thành lập theo Quyết định số 49/2018/QĐ-TTg ngày 12/12/2018 của Thủ tướng Chính phủ, là quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách trực thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch. Quỹ hoạt động theo mô hình công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ, có tư cách pháp nhân độc lập, thực hiện nhiệm vụ xây dựng kế hoạch, bố trí kinh phí tổ chức triển khai hoạt động XTDL và hỗ trợ phát triển du lịch quốc gia.
Kết luận
Luận án tiến sĩ luật học "Xúc tiến du lịch theo pháp luật Việt Nam hiện nay" của tác giả Châu Vũ là công trình nghiên cứu chuyên sâu về hoạt động xúc tiến du lịch dưới góc độ hành vi thương mại của thương nhân theo Luật Kinh tế. Bằng việc kết hợp các phương pháp nghiên cứu pháp lý và hệ thống lý thuyết marketing, kinh tế vĩ mô, luận án đã làm rõ cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng các quy định pháp luật điều chỉnh khuyến mại, quảng cáo, giới thiệu sản phẩm và hội chợ du lịch trong giai đoạn 2013–2023. Các phát hiện và đề xuất lập pháp trong luận án cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc hoàn thiện hệ thống pháp luật du lịch, thương mại và nâng cao hiệu quả hoạt động xúc tiến du lịch tại Việt Nam.