Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp “Nghiên cứu hoạt động du lịch cộng đồng tại Hoa Lư - Ninh Bình” được sinh viên Lê Ngọc Hinh thực hiện năm 2009 thuộc ngành Văn hóa du lịch, Trường Đại học Dân lập Hải Phòng, dưới sự hướng dẫn của Th.s Bùi Thị Hải Yến.

Lý do lựa chọn đề tài xuất phát từ vai trò của ngành du lịch trong cơ cấu kinh tế - xã hội hiện đại, đặc biệt là mối quan hệ mật thiết giữa hoạt động khai thác du lịch với cư dân bản địa – những người trực tiếp sở hữu và gắn bó lâu đời với tài nguyên thiên nhiên, nhân văn. Tại huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, nguồn lực du lịch phong phú gồm danh thắng Tam Cốc - Bích Động và quần thể di tích Cố đô Hoa Lư. Tuy nhiên, sự tham gia của người dân địa phương vào hoạt động du lịch “theo đúng nghĩa” (cùng quản lý, chịu trách nhiệm và chia sẻ lợi ích) thời điểm đó còn ở mức độ thấp, mang tính tự phát theo quy luật cung - cầu. Người dân chủ yếu đảm nhận các khâu thứ yếu, thu nhập không thường xuyên và bấp bênh, trong khi diện tích đất canh tác nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp để nhường chỗ cho các dự án du lịch. Tác giả chỉ ra rằng phần lớn sách báo, tài liệu trước đây (như các công trình của Lê Văn, Nguyễn Thế Giang, Lã Đăng Bật) chủ yếu ca ngợi cảnh quan thiên nhiên và lịch sử Hoa Lư phục vụ quảng bá, mà chưa đi sâu nghiên cứu phương thức sinh kế và tác động của hoạt động du lịch đến đời sống người dân địa phương.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của khóa luận được xác lập cụ thể:

  1. Nâng cao nhận thức lý luận và thực tiễn về mô hình du lịch cộng đồng gắn với tài nguyên du lịch huyện Hoa Lư; cung cấp nguồn tư liệu học thuật và đề xuất các giải pháp khả thi cho địa phương.
  2. Tổng quan hệ thống cơ sở lý luận về du lịch cộng đồng và kinh nghiệm thực tiễn để vận dụng vào địa bàn nghiên cứu.
  3. Điều tra, đánh giá toàn diện các nguồn lực tự nhiên, nhân văn và điều kiện kinh tế - xã hội phục vụ phát triển du lịch cộng đồng tại Hoa Lư.
  4. Phân tích thực trạng, đánh giá tiềm năng và đề xuất hệ thống giải pháp nhằm thu hút cộng đồng địa phương tham gia quản lý, bảo tồn văn hóa truyền thống và hướng tới phát triển bền vững.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Không gian nghiên cứu: Tập trung trên địa bàn hai xã Ninh Hải và Trường Yên thuộc huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình – nơi tọa lạc hai điểm du lịch trọng điểm là Tam Cốc - Bích Động và Cố đô Hoa Lư.
  • Thời gian nghiên cứu: Thu thập và xử lý các chuỗi số liệu thứ cấp, thực địa trong giai đoạn từ năm 2002 đến năm 2008.
  • Đối tượng nghiên cứu: Các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, tài nguyên du lịch (tự nhiên và nhân văn), cùng thực trạng cộng đồng dân cư tại hai xã Ninh Hải, Trường Yên và các vùng phụ cận tham gia hoạt động du lịch.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khóa luận xây dựng hệ thống cơ sở lý luận dựa trên các quan điểm và định nghĩa khoa học trong và ngoài nước về cộng đồng và du lịch cộng đồng. Tác giả viện dẫn các định nghĩa của Keith và Any (1998), Schmink (1999), H. Fichter (với 4 yếu tố cấu thành cộng đồng), và Nguyễn Hữu Nhân để làm rõ bản chất của cộng đồng địa phương là nhóm dân cư gắn kết lâu đời trên cùng lãnh thổ, chia sẻ quyền lợi, trách nhiệm và sở hữu chung về tài nguyên. Về mối quan hệ giữa điểm du lịch và cộng đồng, công trình trích dẫn Khoản 6 Điều 1 Luật Du lịch Indonesia nhằm nêu bật 4 yêu cầu phát triển điểm đến (thúc đẩy kinh tế - xã hội, giữ gìn giá trị văn hóa - tín ngưỡng, bảo vệ môi trường sinh thái, bảo đảm phát triển lâu dài).

Về khái niệm du lịch cộng đồng, tác giả tiếp cận theo định nghĩa của tổ chức REST - Thái Lan (1997) và Quỹ Bảo tồn Thiên nhiên Thế giới (WWF), khẳng định bản chất loại hình này là do cộng đồng sở hữu, quản lý, kiểm soát và thụ hưởng phần lớn lợi nhuận. Khóa luận tổng hợp 16 nguyên tắc cốt lõi của du lịch cộng đồng, đồng thời phân tích vai trò của 5 nhóm chủ thể tham gia: cộng đồng địa phương, chính quyền địa phương, các tổ chức/nhà tài trợ/nhà khoa học, doanh nghiệp lữ hành và khách du lịch. Đề tài cũng hệ thống hóa mô hình 4 giai đoạn chuyển biến thái độ của cư dân địa phương đối với du khách theo mức độ phát triển du lịch: Hào hứng $\rightarrow$ Lãnh đạm thờ ơ $\rightarrow$ Khó chịu $\rightarrow$ Đối kháng.

Bên cạnh đó, tác giả đối chiếu các khái niệm du lịch sinh thái (theo Hector Ceballos-Lascurain năm 1987, Wood năm 1991, Luật Du lịch Việt Nam 2005), du lịch văn hóa (Khoản 1 Điều 4 Luật Du lịch 2005), du lịch bền vững (WCED, Khoản 21 Điều 4 Luật Du lịch 2005), và phân định rõ mối quan hệ giữa Du lịch Homestay với Du lịch cộng đồng qua bảng so sánh:

Tiêu chí Du lịch Homestay Du lịch cộng đồng
Tài nguyên Chủ yếu dựa vào tài nguyên du lịch văn hóa Dựa vào cả tài nguyên du lịch tự nhiên và văn hóa
Mục tiêu Nhấn mạnh khai thác và bảo tồn các giá trị văn hóa bản địa Khai thác và bảo tồn cả giá trị tự nhiên lẫn văn hóa bản địa
Đối tượng tham quan Nhà dân và một phần tài nguyên du lịch của điểm đến Toàn bộ tài nguyên du lịch tự nhiên và văn hóa của điểm đến
Hình thức lưu trú Bắt buộc ở tại nhà dân ("ba cùng": cùng ăn, cùng ở, cùng sinh hoạt) Lưu trú tại nhà dân hoặc các cơ sở khác, hoặc không lưu trú
Hoạt động hướng dẫn Chủ nhà đóng vai trò người hướng dẫn không chuyên Hướng dẫn viên chuyên nghiệp kết hợp người dân địa phương
Phân phối lợi ích Chủ nhà hưởng trực tiếp và chia sẻ một phần cho cộng đồng Phục vụ và chia sẻ lợi ích cho toàn bộ cộng đồng

Nhằm rút ra bài học thực tiễn, đề tài phân tích 4 mô hình: mô hình du lịch sinh thái gắn với 3 làng bản vùng đệm (làng Khanh, làng La, làng Biên Động) tại Vườn quốc gia Cúc Phương; kinh nghiệm bảo vệ vùng đất ngập nước gắn với sinh kế nuôi trồng thủy sản tại Vườn quốc gia Xuân Thủy (Nam Định); thực trạng thương mại hóa làm suy giảm bản sắc hoa văn thổ cẩm và biến đổi văn hóa tại Sa Pa (Lào Cai) qua số liệu du khách giai đoạn 1995-1996; và bài học quản lý năng lượng, kiểm soát nạn phá rừng (mất 400.000 ha rừng/năm, 86% năng lượng lấy từ củi) tại khu vực bảo tồn Annapurna (Nepal).

Phương pháp nghiên cứu được vận dụng bao gồm:

  • Quan điểm nghiên cứu: Vận dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, quan điểm phát triển du lịch bền vững, tiếp cận lãnh thổ tổng hợp gắn với chuyên môn hóa, và quan điểm kế thừa các công trình quy hoạch, nghiên cứu đi trước.
  • Phương pháp khảo sát thực địa: Tiến hành khảo sát các tuyến điểm từ Tam Cốc - Bích Động đến Cố đô Hoa Lư; khảo sát làng nghề thêu ren Ninh Hải và chạm khắc đá Ninh Vân.
  • Phương pháp điều tra xã hội học: Phỏng vấn sâu đại diện các cơ quan quản lý nhà nước, doanh nghiệp du lịch, chính quyền cấp xã và các hộ dân; kết hợp điều tra bằng phiếu hỏi.
  • Phương pháp thống kê, xử lý số liệu: Thu thập, tổng hợp số liệu thứ cấp từ Sở Du lịch Ninh Bình, Sở Văn hóa Ninh Bình, các công ty lữ hành, UBND huyện Hoa Lư và UBND các xã.
  • Phương pháp bản đồ và tư liệu ảnh: Xây dựng sơ đồ phân bố không gian tài nguyên, tuyến điểm tham quan và minh họa hình ảnh thực địa.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lí luận về du lịch cộng đồng

Chương 1 thiết lập khung lý thuyết hoàn chỉnh cho toàn bộ khóa luận. Tác giả làm rõ nội hàm khái niệm cộng đồng địa phương dưới góc độ xã hội học và du lịch học, nhấn mạnh tính gắn kết huyết thống, sự phụ thuộc vào hệ sinh thái và vai trò của các thiết chế hương ước (“phép vua thua lệ làng”). Hoạt động du lịch cộng đồng được định vị là phương thức phát triển bền vững dựa trên việc trao quyền cho người dân, chia sẻ công bằng lợi nhuận và duy trì tính đa dạng sinh kế truyền thống. Chương này phân tích chi tiết các tác động hai mặt của du lịch đến 4 lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội và tài nguyên môi trường. Thông qua việc phân tích bài học từ Cúc Phương, Xuân Thủy, Sa Pa và Annapurna (Nepal), chương 1 khẳng định phát triển du lịch cộng đồng chỉ đạt hiệu quả khi lấy cộng đồng làm trung tâm, tôn trọng tri thức bản địa, bảo đảm chất văn hóa không bị thương mại hóa và giữ vững tính nguyên bản của tài nguyên.

Chương 2: Nguồn lực và thực trạng hoạt động du lịch cộng đồng tại Tam Cốc - Bích Động và cố đô Hoa Lư

Chương 2 tập trung kiểm kê, đánh giá chi tiết hệ thống nguồn lực tự nhiên, nhân văn và thực trạng phát triển du lịch tại địa bàn nghiên cứu:

  • Vị trí và địa chất: Huyện Hoa Lư có diện tích 139,7 km², cách Hà Nội 100 km, cách thành phố Ninh Bình 7 km, kết nối qua Quốc lộ 1A, Quốc lộ 10, Quốc lộ 21. Khu du lịch Tam Cốc - Bích Động có quy hoạch khoảng 400 ha (nằm trên xã Ninh Hải, một phần xã Sơn Hà và Yên Sơn). Cố đô Hoa Lư có diện tích lịch sử khoảng 300 ha. Về địa chất, khối đá vôi Tam Cốc - Bích Động là nếp lõm tách ra từ dải đá vôi Lai Châu - Thanh Hóa thuộc đới sông Đà, kiến tạo địa hình karst được H. Silar định danh là “Vịnh Hạ Long cạn” hình thành sau thời kỳ biển thoái cách đây 400 triệu năm. Toàn huyện có 18 hang động đẹp.
  • Khí hậu, thủy văn, sinh vật: Khí hậu nhiệt đới gió mùa; mùa đông thịnh hành gió Bắc (tần suất 26% - 42%), mùa hè thịnh hành gió Đông Nam và Nam (10% - 30%); tốc độ gió trung bình 1,8 - 2,0 m/s; số ngày mưa trung bình 140 - 150 ngày/năm (tháng ít mưa từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau với 4 - 6 ngày/tháng; tháng 8 mưa nhiều nhất trên 10 ngày/tháng). Thủy văn gồm hệ thống sông Ngô Đồng, Sào Khê, sông Vân; chế độ thủy triều ít ảnh hưởng nhưng hiện tượng bồi lắng luồng lạch diễn ra mạnh. Đa dạng sinh học ghi nhận 577 loài thực vật (311 loài làm thuốc, 76 loài cây cảnh gồm họ Tuế, Lan; các loài quý như cây Bo, dương xỉ Đỏ, Vạc Nước, Lộc Vừng, Vàng Anh). Động vật có khỉ đuôi dài, sóc, cá chầu vua, rùa cổ sọc (Ocadia sinensis); thủy sinh có 30 loài động vật nổi, 47 loài động vật đáy; khu Thung Nham phát triển vườn chim tự nhiên nhờ dự án đắp đập của Công ty Doanh Sinh.

Dưới đây là bảng trắc lượng hình thái và đặc điểm sinh thái 15 hang động tiêu biểu tại khu du lịch Tam Cốc - Bích Động được trích xuất từ dữ liệu của Sở Du lịch Ninh Bình:

TT Tên hang động Loại hình hang Dài (m) Rộng (m) Cao (m) Ánh sáng Nước Giá trị với du lịch
1 Động Tiên Hang thông 83 6 7 Hơi tối Khô Rất đẹp
2 Hang Cả Xuyên thủy 127 20 3 Hơi tối Nước Đẹp
3 Hang Hai Xuyên thủy 60 18 3 Hơi tối Nước Đẹp
4 Hang Ba Xuyên thủy 45 18 3 Hơi tối Nước Đẹp
5 Hang Chùa Xuyên thủy 135 7 3 Hơi tối Nước Rất đẹp
6 Hang Ghé Xuyên thủy 50 5 3,5 Hơi tối Nước Đẹp
7 Hang Bụt Xuyên thủy 380 20 7 Tối Nước Rất đẹp
8 Hang Cụt Hiểu Hang cụt 70 5 3,5 Tối Khô Đẹp
9 Hang Cụt Thần Hang cụt 100 6 10 Hơi tối Khô Đẹp
10 Hang Cá Hang thông 150 4 3 Tối Khô Rất đẹp
11 Hang Thung Xuyên thủy 50 15 5 Tối Nước Đẹp
12 Hang Thong thày Xuyên thủy 350 6 3 Tối Nước Rất đẹp
13 Động Thiên Hương Xuyên thủy 40 20 60 Hơi tối Khô Rất đẹp
14 Hang Dình Xuyên thủy 25 5,5 4 Hơi tối Nước Rất đẹp
15 Động Tối Hang thông 50 15 - Tối Khô Rất đẹp

Văn bản ghi nhận tại thời điểm nghiên cứu mới chỉ có hang Cả, hang Hai, hang Ba, động Thiên Hương, động Tối, động Tiên và hang Thung Nắng được đưa vào khai thác du lịch.

  • Hệ thống điểm cảnh và di tích nhân văn:
    • Tam Cốc (thôn Văn Lâm, xã Ninh Hải): Tuyến du lịch duy nhất khứ hồi khoảng 3 giờ bằng thuyền chèo tay trên sông Ngô Đồng qua Hang Cả (127 m, có bài thơ khắc của cử nhân Đỗ Kiêm Thiện), Hang Hai (60 m) và Hang Ba (45 m).
    • Bích Động: Nằm trong dãy Ngũ Nhạc Sơn (thôn Đàm Khê), được cụ Nguyễn Nghiễm đặt tên năm 1773, vua Tự Đức ban danh "Nam thiên đệ nhị động". Chùa Bích Động xây dựng thời Lê Lợi bởi hai vị hòa thượng Chí Kiên và Chí Thể; kiến trúc chữ “Tam” gồm ba cấp: Chùa Hạ (kiểu chữ Đinh, 2 tầng 8 mái, bức đại tự "Mạo cổ thần thánh"), Chùa Trung (kiểu chữ Đinh bán mái, chuông đồng đúc năm 1707 niên hiệu Vĩnh Thụy thứ hai triều Lê Dụ Tông), Chùa Thượng (xây bằng đá phiến, tựa vách núi).
    • Đền Thái Vi (thôn Văn Lâm): Dựng trên nền am Thái Vi thuộc hành cung Vũ Lâm thời Trần, thờ 4 đời vua (Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Anh Tông) và Hoàng hậu Thuận Thiên. Kiến trúc “nội công ngoại quốc”, nghi môn có đôi ngựa đá xanh nguyên khối, gác chuông đúc năm 1689, bái đường có hoành phi "Long đức chính cung".
    • Các điểm khác: Suối Tiên (hang nước 10 m², sâu 1 m, phiến đá tắm 1 m² dưới chân núi Bậc Bài); Động Tiên (Đàm Khê, 3 vòm hang cao rộng); Hang Thung Thày (Xuyên thủy động dài 350 m nối qua đồng Thong Thày); Động Thiên Hương (núi Đồng Võ, nền hang rộng 800 m², cao 60 m, có miếu thờ bà Trần Thị Dung - Bà tổ nghề thêu ren truyền thống Văn Lâm); Chùa Linh Cốc (thôn Côi Khê, 83 bậc đá, thờ Tam tòa Thánh mẫu và Thượng điện "Cốc linh tự"); Đền Nội Lâm (khu Suối Tiên, thờ thần Quý Minh, 12 cột đá vuông 15x15 cm chạm tứ linh, lễ Phát Lát ngày 7 tháng giêng và giỗ thần 18/3 âm lịch).
    • Quần thể Cố đô Hoa Lư: Kinh đô tồn tại 42 năm (968 - 1010) qua 3 triều Đinh, Tiền Lê, đầu Lý. Theo Quyết định số 82/2003/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, di tích được phân định thành: Vùng bảo vệ đặc biệt (gần 300 ha gồm Nội thành, Ngoại thành, đền - lăng vua Đinh, vua Lê, đền Phất Kim, chùa Nhất Trụ, bia Cầu Dền, chùa Ngần, hang Bim, núi Mã Yên...) và Vùng đệm (1087 ha gồm động Am Tiêm, hang Quàn, hang Muối, hang Luồn, động Liên Hoa, chùa Bàn Long, sông Sào Khê, khu dân cư thôn Yên Hạ, Vàng Ngọc).

Về thực trạng hoạt động cộng đồng, người dân địa phương tại xã Ninh Hải và Trường Yên tham gia trực tiếp vào khâu vận chuyển khách (chèo đò tại bến Văn Lâm/Tam Cốc), sản xuất nông phẩm, kinh doanh hàng thủ công thêu ren (Văn Lâm) và chế tác đá (Ninh Vân). Tuy nhiên, phương thức tham gia phần lớn mang tính tự phát, thu nhập bấp bênh, chịu áp lực biến động mùa vụ và tình trạng mất đất sản xuất nông nghiệp phục vụ hạ tầng du lịch.

Chương 3: Giải pháp và kiến nghị phát triển du lịch cộng đồng tại khu du lịch Tam Cốc – Bích Động và cố đô Hoa Lư

Dựa trên các định hướng và nhiệm vụ nghiên cứu đã xác lập, chương 3 đề xuất hệ thống giải pháp tổ chức du lịch cộng đồng tại huyện Hoa Lư:

  • Hoàn thiện cơ chế quản lý và phân phối lợi ích: Thiết lập cơ chế liên kết chặt chẽ giữa chính quyền địa phương, ban quản lý, doanh nghiệp lữ hành và cư dân; trích tỷ lệ nguồn thu từ vé thắng cảnh và dịch vụ du lịch để tái đầu tư cho phúc lợi công cộng, cải tạo hạ tầng nông thôn và hỗ trợ chuyển đổi sinh kế cho các hộ dân mất đất nông nghiệp.
  • Phát triển sản phẩm du lịch dựa vào cộng đồng: Đa dạng hóa các tour du lịch sinh thái nông nghiệp, du khảo đồng quê, tuyến chèo thuyền khám phá hang động mới kết hợp đi bộ ngắm cảnh (checkingtour); kết nối tour di sản văn hóa Cố đô Hoa Lư với các làng nghề truyền thống (thêu ren Văn Lâm, chạm khắc đá Ninh Vân).
  • Đào tạo nguồn nhân lực và nâng cao nhận thức: Tổ chức các lớp tập huấn về kỹ năng giao tiếp, nghiệp vụ hướng dẫn tại điểm, kiến thức bảo vệ môi trường sinh thái cho đội ngũ chèo đò và người dân bán hàng; khắc phục tình trạng chèo kéo, thương mại hóa làm suy giảm hình ảnh điểm đến.
  • Bảo vệ tài nguyên và duy trì cảnh quan: Thường xuyên nạo vét luồng lạch hệ thống sông Ngô Đồng, sông Sào Khê nhằm khắc phục hiện tượng bồi lắng; quy hoạch chặt chẽ các khu dân cư vùng đệm theo Quyết định 82/2003/QĐ-TTg; bảo tồn nguyên vẹn hệ thống hang động karst và quần thể động thực vật quý hiếm tại thung Hải Nham, Tràng An.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã tổng hợp và cung cấp hệ thống dữ liệu toàn diện về tài nguyên du lịch huyện Hoa Lư giai đoạn 2002 - 2008, nổi bật với việc thống kê trắc lượng chi tiết 15 hang động tại Tam Cốc - Bích Động (với các thông số chiều dài từ 25 m đến 380 m, chiều rộng từ 4 m đến 20 m, chiều cao từ 3 m đến 60 m), xác định quy mô 577 loài thực vật (trong đó có 311 loài làm thuốc và 76 loài cây cảnh) cùng danh mục các loài động vật thủy sinh, chim và rùa cổ sọc quý hiếm. Đề tài cũng hệ thống hóa ranh giới phân vùng di tích Cố đô Hoa Lư theo Quyết định số 82/2003/QĐ-TTg với 300 ha vùng bảo vệ đặc biệt và 1087 ha vùng đệm.

Về mặt giải pháp, tác giả kiến nghị xây dựng mô hình quản lý du lịch có sự tham gia thực chất của người dân hai xã Ninh Hải và Trường Yên, chuyển dịch vai trò của cư dân từ người làm dịch vụ tự phát, làm thuê đơn thuần sang chủ thể được chia sẻ lợi ích công bằng và tham gia bảo tồn di sản.

Đóng góp mới của khóa luận so với các tài liệu xuất bản trước đó (của Lê Văn, Nguyễn Thế Giang, Lã Đăng Bật) là sự chuyển đổi căn bản trong lăng kính nghiên cứu: không dừng lại ở việc miêu tả, ca ngợi cảnh sắc non nước hay khảo cứu lịch sử đơn thuần nhằm mục đích quảng bá, mà tập trung nghiên cứu trực tiếp vị thế của cộng đồng dân cư bản địa, phân tích các tác động qua lại giữa sinh kế của người dân với hoạt động khai thác du lịch tại địa phương.


Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận bộc lộ một số giới hạn xuất phát từ phạm vi và điều kiện thực hiện của một công trình tốt nghiệp đại học:

  • Về phạm vi không gian: Nghiên cứu mới chỉ tập trung khảo sát chuyên sâu tại hai xã trọng điểm là Ninh Hải và Trường Yên, chưa mở rộng bao quát toàn diện các xã phụ cận cùng nằm trong không gian di sản và vùng đệm như Ninh Vân, Ninh Thắng, Ninh Xuân hay Sơn Hà (Nho Quan).
  • Về khung thời gian dữ liệu: Các số liệu thống kê kinh tế - xã hội, lượng khách và hiện trạng tài nguyên mới chỉ phản ánh giai đoạn từ năm 2002 đến năm 2008, chưa cập nhật được những biến động lớn của hạ tầng du lịch Hoa Lư trong các giai đoạn sau khi Quần thể danh thắng Tràng An được đầu tư mở rộng và vinh danh quốc tế.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Cần mở rộng điều tra xã hội học định lượng với cỡ mẫu lớn hơn về thu nhập thực tế của người chèo đò và thợ thủ công; nghiên cứu chuyên sâu cơ chế đồng quản lý tài nguyên di sản giữa doanh nghiệp tư nhân (như mô hình tại Thung Nham) với cộng đồng dân cư địa phương nhằm bảo đảm tính bền vững lâu dài.

Giá trị tham khảo

Công trình là tài liệu tham khảo hữu ích cho sinh viên chuyên ngành Văn hóa du lịch, Quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành, Việt Nam học và Địa lý du lịch khi nghiên cứu về mô hình phát triển du lịch dựa vào cộng đồng tại vùng đồng bằng và bán sơn địa Bắc Bộ.

Các nội dung có giá trị tham khảo chuyên môn cao bao gồm:

  • Khung lý thuyết so sánh phân định giữa Du lịch Homestay và Du lịch cộng đồng.
  • Bảng tổng hợp trắc lượng hình thái, đặc điểm sinh thái nước/khô và ánh sáng của hệ thống 15 hang động tại khu vực Tam Cốc - Bích Động.
  • Tư liệu khảo cứu thực địa chi tiết về kiến trúc, lịch sử, văn bia và hội lễ của hệ thống di tích đền Thái Vi, chùa Bích Động, đền Nội Lâm, chùa Linh Cốc gắn liền với các nhân vật lịch sử thời Đinh, Tiền Lê và Trần.
  • Căn cứ pháp lý phân vùng bảo vệ Cố đô Hoa Lư theo Quyết định số 82/2003/QĐ-TTg.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận phân biệt điểm khác nhau cơ bản giữa Du lịch Homestay và Du lịch cộng đồng qua những tiêu chí nào?

Tác giả so sánh hai loại hình này qua 6 tiêu chí: tài nguyên (homestay dựa chủ yếu vào văn hóa, du lịch cộng đồng dựa vào cả tự nhiên và văn hóa); mục tiêu (homestay nhấn mạnh bảo tồn văn hóa, du lịch cộng đồng bảo tồn cả hai); đối tượng tham quan (homestay tập trung vào nhà dân và một phần tài nguyên, du lịch cộng đồng bao quát toàn bộ tài nguyên); lưu trú (homestay bắt buộc ở nhà dân theo phương thức "ba cùng", du lịch cộng đồng có thể ở nhà dân, cơ sở khác hoặc không lưu trú); người hướng dẫn (homestay do chủ nhà đảm nhận, du lịch cộng đồng kết hợp hướng dẫn viên và người dân); và phân phối lợi ích (homestay mang lại lợi ích cho chủ nhà cùng một phần cộng đồng, du lịch cộng đồng hướng tới lợi ích của toàn bộ cộng đồng).

2. Khu di tích Cố đô Hoa Lư được phân định ranh giới và quy mô như thế nào theo văn bản pháp lý được trích dẫn?

Theo Quyết định số 82/2003/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ nêu trong khóa luận, Cố đô Hoa Lư gồm hai khu vực: Vùng bảo vệ đặc biệt rộng gần 300 ha (bao gồm Nội thành, Ngoại thành, đền và lăng vua Đinh, đền và lăng vua Lê, đền Phất Kim, chùa Nhất Trụ, bia Cầu Dền, chùa Ngần, hang Bim, các chân tường thành ngầm, núi Mã Yên, núi Phi Vân, núi Cột Cờ, sông Sào Khê, hang động Tràng An); và Vùng đệm rộng 1087 ha (bao gồm động Am Tiêm, hang Quàn, hang Muối, hang Luồn, động Liên Hoa, chùa Bàn Long, cảnh quan sông Sào Khê, cùng khu dân cư thôn Yên Hạ, Vàng Ngọc).

3. Hệ thống hang động tại Tam Cốc - Bích Động có đặc điểm trắc lượng và tình trạng khai thác thực tế ra sao?

Theo số liệu thống kê của Sở Du lịch Ninh Bình trong khóa luận, khu vực có 18 hang động, trong đó 15 hang được lập bảng trắc lượng. Hang dài nhất là Hang Bụt (380 m, xuyên thủy), tiếp đến là Hang Thong thày (350 m, xuyên thủy), Hang Cá (150 m, hang thông) và Hang Chùa (135 m). Hang có vòm trần cao nhất là Động Thiên Hương (cao 60 m, rộng 20 m). Tuy nhiên, tại thời điểm năm 2008, địa phương mới chỉ đưa vào khai thác du lịch 7 hang động gồm: hang Cả, hang Hai, hang Ba, động Thiên Hương, động Tối, động Tiên và hang Thung Nắng.

4. Theo tác giả, thái độ của cư dân địa phương đối với du khách diễn biến qua những giai đoạn nào?

Khóa luận hệ thống hóa mô hình biến đổi thái độ cư dân qua 4 giai đoạn nối tiếp: (1) Sự hào hứng (du khách được chào đón nồng nhiệt khi hoạt động du lịch mới bắt đầu và chưa chịu nhiều ràng buộc quản lý); (2) Sự lãnh đạm thờ ơ (du khách được tiếp nhận theo thông lệ thị trường, mối quan hệ mang tính thương mại và hình thức hơn); (3) Sự khó chịu (khi du lịch tiến gần ngưỡng bão hòa, người dân nảy sinh nghi ngại và hạ tầng phải gồng gánh áp lực); (4) Sự đối kháng (những bực bội bộc lộ công khai ra bên ngoài, du khách bị xem là nguồn cơn của các xáo trộn tiêu cực tại địa phương).

5. Nhân vật lịch sử nào được tôn vinh là Bà tổ nghề thêu ren tại thôn Văn Lâm và di tích thờ tự gắn liền có đặc điểm gì?

Bà tổ nghề thêu ren thôn Văn Lâm là bà Trần Thị Dung (nguyên là Hoàng hậu của vua Lý Huệ Tông thời Lý, sau là phu nhân của Thái sư Trần Thủ Độ thời Trần). Tương truyền khi cùng triều đình nhà Trần về lập hành cung Vũ Lâm, bà đã truyền dạy nghề thêu ren cho cư dân địa phương. Di tích thờ tự bà là một ngôi miếu nằm bên trong Động Thiên Hương (dưới chân núi Đồng Võ). Động có diện tích nền phẳng 800 m², chiều dài 40 m, vòm trần rỗng cao 60 m trông tựa như một quả chuông đá khổng lồ úp xuống và đỉnh động thông lên khoảng trời.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Lê Ngọc Hinh là công trình nghiên cứu chuyên ngành Văn hóa du lịch tiếp cận có hệ thống về mô hình du lịch cộng đồng tại huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình trong giai đoạn 2002 - 2008. Tác giả đã kết hợp khung lý thuyết quốc tế và luật định trong nước để kiểm kê chi tiết nguồn lực địa chất karst, hệ sinh thái và các di tích lịch sử triều Đinh, Tiền Lê, Trần tại hai xã Ninh Hải và Trường Yên. Công trình khẳng định tính tất yếu của việc đưa người dân bản địa trở thành chủ thể tham gia quản lý, bảo tồn văn hóa truyền thống và thụ hưởng lợi ích công bằng nhằm bảo đảm mục tiêu phát triển du lịch bền vững tại địa phương.