Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Văn hóa Du lịch với đề tài "Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển du lịch Kiến Thụy giai đoạn 2010 – 2015" (do sinh viên Đỗ Thị Thêm thực hiện dưới sự hướng dẫn của ThS. Bùi Văn Hoà tại Trường Đại học Dân lập Hải Phòng) được xây dựng trên cơ sở khảo sát thực tiễn ngành kinh tế - xã hội tại huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng.

  • Lý do chọn đề tài: Kiến Thụy là vùng đất giàu truyền thống văn hóa, lịch sử lâu đời, là nơi phát tích của Vương triều Mạc và từng là trung tâm của đô thị cổ Dương Kinh – kinh đô thứ hai của nhà Mạc. Địa phương sở hữu nguồn tài nguyên thiên nhiên và nhân văn phong phú với dòng sông Đa Độ bao quanh các làng quê đồng bằng Bắc Bộ, cùng gần 27 km bờ biển và hệ sinh thái rừng ngập mặn bãi bồi. Mặc dù du lịch đang trở thành ngành kinh tế mũi nhọn tại nhiều địa phương thuộc thành phố Hải Phòng, hoạt động du lịch tại Kiến Thụy trong giai đoạn trước năm 2010 vẫn chưa được quan tâm đầu tư đúng mức, tiềm năng chưa được chuyển hóa thành sản phẩm du lịch cụ thể mang lại hiệu quả kinh tế.
  • Mục đích nghiên cứu: Phân tích thực trạng và tổng kết kinh nghiệm phát triển du lịch huyện Kiến Thụy giai đoạn 2006 – 2010; đánh giá hệ thống tiềm năng tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp đẩy mạnh phát triển du lịch huyện Kiến Thụy giai đoạn 2011 – 2015.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu:
    1. Điều tra, khảo sát, thu thập, phân tích và đánh giá tài liệu tổng kết các kết quả đạt được, các tồn tại, nguyên nhân và bài học kinh nghiệm trong công tác phát triển du lịch huyện Kiến Thụy.
    2. Làm rõ yêu cầu khách quan, khẳng định lợi thế phát triển du lịch của huyện trong mối liên kết với thành phố Hải Phòng; đánh giá tình hình quản lý nhà nước và tiến độ thực hiện quy hoạch du lịch.
    3. Đánh giá tác động của bối cảnh trong nước, quốc tế và các ngành kinh tế - xã hội liên quan đến sự phát triển du lịch của địa phương; xác định vai trò của du lịch đối với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế huyện Kiến Thụy.
  • Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
    • Đối tượng nghiên cứu: Thực trạng phát triển, nguyên nhân tồn tại, tiêu chí lựa chọn sản phẩm du lịch chủ lực và các phương hướng, giải pháp phát triển du lịch huyện Kiến Thụy giai đoạn 2011 – 2015.
    • Phạm vi nghiên cứu: Thực tiễn hoạt động du lịch và các ngành liên quan trên địa bàn 18 xã và thị trấn Núi Đối thuộc huyện Kiến Thụy trong giai đoạn 2006 – 2010, định hướng dự báo đến giai đoạn 2011 – 2015; so sánh đối chiếu với thực tiễn các quận, huyện có thế mạnh du lịch tương đồng trên địa bàn thành phố Hải Phòng.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận sử dụng khung lý thuyết tổng quan của ngành du lịch học và khoa học quản trị quản lý nhà nước về du lịch, kết hợp các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành.

Khung lý thuyết và khái niệm áp dụng

  • Khái niệm và chức năng du lịch: Tiếp cận định nghĩa du lịch bắt nguồn từ tiếng Pháp (Tour, Touriste), xác định du lịch là hoạt động liên quan đến chuyến đi ngoài nơi cư trú thường xuyên nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng. Phân tích 4 chức năng cốt lõi của du lịch gồm: chức năng xã hội (phục hồi sức khỏe, giáo dục nhân cách, tình yêu quê hương), chức năng kinh tế (tái sản xuất sức lao động, chuyển dịch cơ cấu ngành), chức năng sinh thái (tối ưu hóa tương tác giữa con người và môi trường thiên nhiên), và chức năng chính trị (thúc đẩy hòa bình, giao lưu quốc tế).
  • Khái niệm du lịch sinh thái: Áp dụng định nghĩa được thống nhất tại Hội thảo quốc gia về Xây dựng khung chiến lược cho phát triển du lịch sinh thái ở Việt Nam (tháng 9/1999 do Tổng cục Du lịch, IUCN và ESCAP phối hợp tổ chức): du lịch sinh thái là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hóa bản địa, gắn với giáo dục môi trường, có đóng góp cho nỗ lực bảo tồn và phát triển bền vững với sự tham gia của cộng đồng.
  • Lý thuyết hệ sinh thái: Áp dụng phân tích sinh thái học theo Odum (1979) đối với hệ sinh thái rạn san hô và hệ sinh thái rừng ngập mặn ven biển.
  • Khung quản lý nhà nước: Phân tích nội dung, trách nhiệm quản lý nhà nước theo ngành và theo lãnh thổ, các nguyên tắc phát triển bền vững và chính sách hỗ trợ phát triển du lịch của Nhà nước.

Phương pháp nghiên cứu và nguồn dữ liệu

  • Phương pháp thu thập và phân tích tài liệu thứ cấp: Khai thác các báo cáo tổng kết kinh tế - xã hội, quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế của Ủy ban nhân dân huyện Kiến Thụy, số liệu chuyên ngành của Phòng Văn hóa – Thông tin huyện Kiến Thụy và Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch thành phố Hải Phòng.
  • Phương pháp khảo sát thực địa: Điều tra thực tế cảnh quan thiên nhiên, hệ thống đê điều, sông ngòi (sông Đa Độ, sông Văn Úc), diện tích rừng ngập mặn tại xã Đại Hợp và khảo sát hiện trạng 74 di tích lịch sử - văn hóa trên địa bàn các xã.
  • Phương pháp thống kê, phân loại và so sánh: Phân nhóm tài nguyên tự nhiên - nhân văn, đánh giá cơ cấu lao động, cơ cấu dân số và cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Lý luận cơ bản về hoạt động du lịch và công tác quản lý nhà nước về du lịch

Chương này tập trung chuẩn hóa cơ sở lý luận về ngành du lịch:

  • Phân loại tài nguyên du lịch thành 2 nhóm chính: tài nguyên du lịch tự nhiên (địa hình, khí hậu, thủy văn, động thực vật) và tài nguyên du lịch nhân văn (di tích lịch sử - văn hóa, lễ hội, làng nghề, nghệ thuật dân gian).
  • Hệ thống hóa các loại hình du lịch theo 7 tiêu chí phân loại: theo vị trí địa lý/nhu cầu (văn hóa, sinh thái, nghỉ ngơi, thể thao chủ động/bị động, chữa bệnh, công vụ, tôn giáo, thăm hỏi); theo phạm vi lãnh thổ (du lịch nội địa, du lịch quốc tế chủ động/bị động); theo vị trí địa lý cơ sở (nghỉ biển, nghỉ núi); theo phương tiện di chuyển (xe đạp, ô tô, máy bay, tàu hỏa, tàu thủy); theo độ dài thời gian (ngắn ngày, dài ngày); theo lứa tuổi (thanh niên, thiếu niên); và theo hình thức tổ chức (du lịch có tổ chức, du lịch cá nhân).
  • Làm rõ cấu trúc quản lý nhà nước về du lịch bao gồm việc ban hành quy hoạch, chính sách ưu đãi đầu tư, tiêu chuẩn kinh tế - kỹ thuật, đào tạo nhân lực, xúc tiến quảng bá và thanh tra, giám sát hoạt động kinh doanh lữ hành, lưu trú.

Chương 2: Đánh giá thực trạng tiềm năng, lợi thế và thực trạng phát triển du lịch của huyện Kiến Thụy giai đoạn 2006 - 2010

Chương này đi sâu khảo sát điều kiện tự nhiên, nhân văn và thực trạng hoạt động du lịch huyện Kiến Thụy:

1. Tiềm năng tài nguyên du lịch

  • Tài nguyên tự nhiên: Huyện có diện tích tự nhiên 10.753 ha; hệ thống địa hình đồng bằng xen kẽ đồi núi thấp (núi Đối, núi Trà Phương cao tối đa 53,5 m); mạng lưới sông ngòi gồm sông Văn Úc (dài 14,75 km qua huyện, lưu lượng 120 $\text{m}^3\text{/s}$, bồi tụ 9 triệu tấn phù sa/năm) và sông Đa Độ (hơn 20 km qua huyện, cung cấp nước ngọt chính); khu vực bãi triều rừng ngập mặn xã Đại Hợp rộng 860 ha. Hệ sinh thái có 122 loài động vật có xương sống trên cạn (thuộc 51 họ, 18 bộ), ghi nhận 7 loài trong Sách đỏ Việt Nam (2007) gồm: Rắn ráo thường, Rắn cạp nong, Rắn hổ mang, Bồ nông chân xám, Rái cá thường... Hệ thực vật có khoảng 300 loài bậc cao thuộc 250 họ.
  • Tài nguyên nhân văn: Toàn huyện có 74 di tích lịch sử - văn hóa, trong đó có 11 di tích cấp quốc gia và 21 di tích cấp thành phố. Kiến Thụy là trung tâm Dương Kinh thời Mạc với Từ đường họ Mạc (xã Ngũ Đoan) được phục dựng năm 2009 với tổng vốn đầu tư 90 tỷ đồng.
TT Tên di tích cấp quốc gia Địa điểm Loại hình di tích Vị thần / Nhân vật được thờ
1 Đình Đại Trà Xã Đông Phương Lịch sử văn hóa Chu Xích Công (Tướng vua Lê Hoàn)
2 Chùa Đại Trà Xã Đông Phương Lịch sử văn hóa Thờ Phật
3 Chùa Lạng Côn Xã Đông Phương Lịch sử văn hóa Thờ Phật
4 Đền Mõ Xã Ngũ Phúc Lịch sử văn hóa Quỳnh Trân công chúa (thời Trần)
5 Đền Chùa Hòa Liễu Xã Thuận Thiên Lịch sử văn hóa Thái hoàng Thái hậu Vũ Thị Ngọc Toàn
6 Miếu Đông Du Lễ Xã Du Lễ Lịch sử văn hóa Vũ Hải (Tướng thời Trần)
7 Miếu Đoài Du Lễ Xã Du Lễ Lịch sử văn hóa Trương Nữu (thời Phùng Hưng)
8 Đình Kim Sơn Xã Tân Trào Cách mạng Nơi ra đời chính quyền cách mạng đầu tiên HP
9 Chùa Văn Hòa Xã Hữu Bằng Lịch sử văn hóa Thờ Phật
10 Từ đường họ Mạc Xã Ngũ Đoan Lịch sử văn hóa Thái tổ Mạc Đăng Dung
11 Chùa Trà Phương Xã Thụy Hương Kiến trúc nghệ thuật Thái hoàng Thái hậu Vũ Thị Ngọc Toàn; Thờ Phật
  • Lễ hội và làng nghề: Điển hình là Lễ hội Vật cầu Kim Sơn (mùng 6 tháng Giêng, sân đình hình chim Nhạn, quả cầu chuối hột nặng ~20 kg) và Lễ hội Minh Thề tại đền chùa Hòa Liễu (ngày 14–16 tháng Giêng, tuyên thề chí công vô tư, phòng chống tham nhũng). Bên cạnh đó là các làng nghề dệt lụa Đại Lộc, mây tre đan Xuân La, nước mắm Quần Mục, nấu rượu Xuân Đông, bánh đa Lạng Côn.

2. Thực trạng phát triển du lịch (2006 – 2010)

  • Lượng khách du lịch: Lượng khách có xu hướng tăng: năm 2008 đón gần 48.995 lượt khách; năm 2009 đạt gần 54.380 lượt khách (khách quốc tế chiếm khoảng 10%).
  • Cơ sở vật chất kỹ thuật: Còn rất khiêm tốn với 8 nhà nghỉ (tổng số 65 phòng, 66 giường), 7 nhà hàng (630 ghế ngồi); toàn huyện chưa có khách sạn xếp hạng từ 1 sao trở lên. Du khách chủ yếu tham quan đi về trong ngày do vị trí chỉ cách trung tâm thành phố Hải Phòng 20 km.
  • Tổ chức bộ máy: Phòng Văn hóa – Thông tin huyện gồm 8 cán bộ (01 Trưởng phòng, 02 Phó trưởng phòng, 01 cán bộ theo dõi du lịch, 01 thể thao, 01 gia đình, 02 văn hóa).
  • Cơ cấu dân số - lao động (2009): Dân số 126.572 người; tỷ lệ tăng tự nhiên 1,0%/năm; khu vực nông thôn chiếm 123.071 người (thành thị 3.501 người); nhân khẩu nông nghiệp chiếm 53,1% (95.767 người), đặt ra yêu cầu cấp thiết chuyển dịch khoảng 60% lao động sang công nghiệp, dịch vụ và du lịch.

Chương 3: Đề xuất một số giải pháp nhằm đẩy mạnh phát triển du lịch huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng giai đoạn 2011 - 2015

Chương này đề xuất các nhóm giải pháp căn cứ trên Nghị quyết số 10-NQ/HU ngày 22/9/2008 của Ban Thường vụ Huyện ủy Kiến Thụy và định hướng phát triển du lịch của thành phố Hải Phòng:

  • Hoàn thiện quy hoạch: Đẩy nhanh tiến độ lập và phê duyệt Đề án Quy hoạch cụ thể phát triển du lịch huyện Kiến Thụy giai đoạn 2010 – 2015, định hướng đến 2020; phân định rõ các phân khu chức năng, quỹ đất dành cho du lịch sinh thái và văn hóa.
  • Các dự án đầu tư trọng điểm:
    • Khu du lịch sinh thái sông Đa Độ: Quy mô khoảng 259 ha (trên địa bàn các xã Ngũ Đoan, Thuận Thiên, Hữu Bằng đến cửa sông Văn Úc), đầu tư kè bờ sông, nhà hàng ẩm thực ven sông, đội thuyền Rồng du ngoạn, trung tâm đón tiếp tại cầu Nguyệt và bến xuồng cao tốc kết nối sang đảo Dấu.
    • Khu bảo tồn di tích Dương Kinh nhà Mạc: Quy mô khoảng 50 ha tại xã Ngũ Đoan, phục dựng kiến trúc cung điện Cổ Trai, quy tụ các hiện vật bia đá, thềm rồng, xây dựng trường quay, công viên cây cảnh, nhà thể thao đa chức năng.
    • Khu du lịch sinh thái rừng ngập mặn Đại Hợp: Quy mô 860 ha, xây dựng cầu tàu, bến đón tiếp, 24 nhà sàn nghỉ dưỡng cuối tuần, nhà hàng hải sản ven rừng và đội thuyền gỗ chèo tay.
    • Khu du lịch sinh thái Núi Đối - Núi Trà Phương: Quy mô khoảng 15 ha, nâng cấp tôn tạo chùa trên đỉnh núi, mở rộng đường lên núi, bãi đỗ xe.
  • Nâng cấp hạ tầng giao thông kết nối di tích:
    • Cải tạo tuyến đường từ đền Mõ đến miếu Đông, miếu Đoài (xã Du Lễ) dài 300 m, rộng 7 m, bố trí bãi đỗ xe và điểm dừng nghỉ cho đoàn 200 khách.
    • Mở mới tuyến đường từ chùa Thiên Phúc nối đường 405 (dài >100 m, rộng 7 m).
    • Nâng cấp đường vào chùa Ngọc Liễn nối đường 404 (dài >100 m, rộng 7 m).
  • Huy động vốn và xúc tiến quảng bá: Tận dụng vốn ngân sách Trung ương và thành phố để hoàn thiện hạ tầng khung (điện, nước, xử lý nước thải); ưu đãi tín dụng ngân hàng cho các hộ kinh doanh dịch vụ du lịch; đẩy mạnh xã hội hóa; xây dựng logo, slogan, ấn phẩm du lịch và kết nối tour tuyến với nội thành Hải Phòng, Cát Bà, Đồ Sơn, Tiên Lãng.

Kết quả và đóng góp

  • Hệ thống hóa dữ liệu hiện trạng: Công trình đã thống kê toàn diện danh mục 74 di tích (trong đó lập bảng chi tiết 11 di tích quốc gia và 21 di tích cấp thành phố), xác lập các chỉ số về tài nguyên tự nhiên (860 ha rừng ngập mặn, 122 loài động vật, 7 loài Sách đỏ, lưu lượng dòng chảy sông Văn Úc và sông Đa Độ).
  • Đánh giá chính xác thực trạng du lịch địa phương: Tổng hợp được các số liệu thực tế về hạ tầng lưu trú (8 nhà nghỉ, 65 phòng), lượt khách (54.380 lượt năm 2009) và cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý tại Phòng Văn hóa – Thông tin (01 cán bộ phụ trách du lịch).
  • Đề xuất giải pháp quy hoạch theo dự án cụ thể: Khóa luận không dừng lại ở định hướng chung mà đưa ra các thông số quy mô mặt bằng cụ thể cho từng dự án ưu tiên (sông Đa Độ 259 ha, Dương Kinh 50 ha, rừng ngập mặn Đại Hợp 860 ha, núi Đối - Trà Phương 15 ha) cùng kích thước tiêu chuẩn kỹ thuật nâng cấp các tuyến đường giao thông liên xã kết nối di tích (mặt cắt rộng 7 m).

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Nguồn số liệu của khóa luận phụ thuộc chủ yếu vào các báo cáo hành chính thứ cấp của địa phương đến năm 2009; thiếu các cuộc điều tra xã hội học bằng bảng hỏi chuyên sâu đối với du khách và cộng đồng dân cư địa phương để lượng hóa mức độ hài lòng hoặc khả năng chi trả. Các giải pháp huy động vốn đầu tư mới chỉ dừng lại ở mặt nguyên tắc, chưa xây dựng dự toán tài chính chi tiết.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Cần tiến hành các nghiên cứu sâu hơn về:
    1. Đánh giá sức chứa môi trường và sức tải du lịch của hệ sinh thái rừng ngập mặn xã Đại Hợp và lưu vực sông Đa Độ.
    2. Xây dựng mô hình chuỗi liên kết du lịch sinh thái nông nghiệp gắn với tuyến đường cao tốc Hà Nội – Hải Phòng sau khi hoàn thành đi qua địa bàn huyện.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng hưởng lợi: Tài liệu là nguồn tham khảo trực tiếp cho sinh viên, học viên các ngành Du lịch học, Văn hóa học, Địa lý kinh tế, Quản lý văn hóa khi thực hiện đề tài về quy hoạch và phát triển du lịch cấp huyện/thị xã đồng bằng ven biển.
  • Nội dung giá trị nhất: Phần tổng hợp tư liệu lịch sử về di tích Dương Kinh nhà Mạc, các lễ hội dân gian đặc thù (Hội Vật cầu Kim Sơn, Hội Minh Thề Hòa Liễu) và hệ thống dự án phân khu chức năng du lịch sinh thái tại Chương 2 và Chương 3.

Câu hỏi thường gặp

1. Nét đặc sắc mang tính nhân văn và pháp luật của Lễ hội Minh Thề tại chùa Hòa Liễu là gì?

Lễ hội Minh Thề diễn ra từ ngày 14 đến 16 tháng Giêng âm lịch tại đền, chùa Hòa Liễu (xã Thuận Thiên), có nguồn gốc từ thế kỷ 16 do Thái hoàng Thái hậu Vũ Thị Ngọc Toàn cùng dân làng khởi xướng. Lễ hội có nghi thức độc đáo: đại diện chức sắc, bô lão và dân làng họp trước đài thề, đọc hịch văn tuyên thề không lấy của công làm việc tư, giữ gìn đạo đức lối sống và ứng xử công minh, biểu thị quyết tâm bằng việc cắm dao bầu xuống đài thề và uống rượu hòa tiết gà.

2. Hiện trạng cơ sở lưu trú và dịch vụ du lịch huyện Kiến Thụy giai đoạn 2006 – 2010 như thế nào?

Tính đến năm 2009, toàn huyện Kiến Thụy chỉ có 8 nhà nghỉ với tổng số 65 phòng (66 giường) và 7 nhà hàng với 630 ghế ngồi. Huyện hoàn toàn chưa có khách sạn xếp hạng từ 1 sao trở lên; hoạt động du lịch chủ yếu là tham quan di tích và lễ hội đi về trong ngày.

3. Quy mô và hạng mục chính của Dự án Khu du lịch sinh thái sông Đa Độ được đề xuất ra sao?

Dự án có quy mô quy hoạch khoảng 259 ha, trải dài qua các xã Ngũ Đoan, Thuận Thiên, Hữu Bằng đến cửa sông Văn Úc. Các hạng mục chính gồm: kè bờ sông theo chỉ giới quy hoạch, xây dựng hệ thống nhà hàng ẩm thực ven sông, đội thuyền Rồng du ngoạn, trung tâm đón tiếp khách tại cầu Nguyệt và cửa sông Văn Úc, bến xuồng cao tốc kết nối sang đảo Dấu, khu vườn hoa cây cảnh và hệ thống xử lý nước thải.

4. Hệ tài nguyên sinh vật tự nhiên của huyện Kiến Thụy có những đặc điểm nổi bật nào?

Huyện ghi nhận 122 loài động vật có xương sống trên cạn thuộc 51 họ và 18 bộ (lớp chim phong phú nhất với 95 loài; bò sát 11 loài; lưỡng thể 8 loài; thú 8 loài). Có 7 loài động vật nằm trong Sách đỏ Việt Nam (2007) gồm Rắn ráo thường, Rắn cạp nong, Rắn hổ mang, Bồ nông chân xám, Rái cá thường... Thực vật có khoảng 300 loài bậc cao cùng 860 ha rừng ngập mặn đặc trưng vùng ven biển Bắc Bộ.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Đỗ Thị Thêm đã phân tích toàn diện hiện trạng tài nguyên và hoạt động du lịch huyện Kiến Thụy trong giai đoạn 2006 – 2010, chỉ rõ những nút thắt về cơ sở hạ tầng lưu trú và xúc tiến quảng bá. Công trình đã đề xuất một hệ thống giải pháp đồng bộ giai đoạn 2011 – 2015, trọng tâm là quy hoạch 4 phân khu du lịch sinh thái - di tích lịch sử và nâng cấp giao thông kết nối liên xã. Đây là tài liệu khoa học có giá trị thực tiễn đối với công tác định hướng phát triển kinh tế du lịch địa phương tại vùng đồng bằng duyên hải Bắc Bộ.