CHƯƠNG 1 KHÁI QUAT QUAN HE VIỆT NAM - HOA KỲ TỪ 1995 DEN NAY 1. QUA TRÌNH BÌNH THƯỜNG HÓA QUAN HỆ VIỆT NAM - HOA KY Trong các mỗi quan hệ quốc tế của Việt Nam, quan hệ với Hoa Kỳ là một trong những quan hệ đặc biệt nhất, bởi Hoa Ky không những là một trong những cường quốc mạnh nhất trên thế giới mà còn bởi Hoa Kỳ và Việt Nam đã từng có một quá khứ đau thương. Với tinh thần “gác lại quá khứ, hướng tới tương lai”, hai nước đã dần dần xoá bỏ được những khoảng cách và từng bước đạt được những thành tựu rất đáng khích lệ. Những chuyến thăm cấp cao thường xuyên giữa các nguyên thủ quốc gia hai nước, những sự hợp tác trên các lĩnh vực khác nhau đã cho thấy một tương lai rộng mở hơn cho quan hệ giữa hai nước.
Đồng thời Việt Nam cũng đã xác định quan hệ với Hoa Kỳ là một trong những trọng tâm trong chính sách đối ngoại phục vụ mục tiêu phát triển đất nước. Tuy nhiên, dé có được những thành quả như ngày nay, Việt Nam và Hoa Kỳ đã trải qua một quá trình dài đầy thăng trầm trong quan hệ giữa hai nước. Trong đó, vấn đề bình thường hoá quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ là một quá trình đấu tranh gay go, phức tạp và đòi hỏi sự nỗ lực của cả hai bên. Những nỗ lực đầu tiên của quá trình bình thường hóa quan hệ (1975-1985) Sau khi thất bại trong cuộc chiến tranh ở Việt Nam, Hoa Kỳ tiến hành chính sách bao vây, cắm vận và cắt đứt mọi quan hệ ngoại giao cũng như kinh tế đối với Việt Nam.
Với mong muốn hòa bình, ôn định dé khôi phục và phát triển đất nước sau chiến tranh, Việt Nam đã chủ động bình thường hoá quan hệ với Hoa Kỳ. Thang 6/1975, Thủ Tướng Pham Văn Đồng dé nghị Hoa Ky 12 tiến hành bình thường hoá quan hệ trên cơ sở các điều khoản của Hiệp định Paris. Tuy nhiên, việc bình thường hóa quan hệ giữa hai nước đã từng là đối thủ là một van dé không dễ dàng, huống hồ cuộc chiến tranh Việt Nam lại là một cuộc chiến tranh giữa một siêu cường và một nước nhỏ, yếu hơn mà kết thúc lại là sự thất bại của siêu cường đó. Do đó, vấn đề bình thường hoá quan hệ giữa hai nước lại càng khó khăn, phức tạp hơn.
Vì vậy, cũng dé hiểu vì sao dé nghị của Thủ Tướng Phạm Văn Đồng đã không được chính quyền của Tổng thống Ford đáp lại. Năm 1977, Jimmy Carter lên cẦm quyền, bối cảnh nước Mỹ lúc đó đang bị chia rẽ và bị ảnh hưởng sâu sắc bởi “hội chứng Việt Nam”. Mong muốn điều chỉnh lại tình hình trong nước và khắc phục phần nào “hội chứng Việt Nam” trong lòng nước Mỹ, chính phủ của Tổng thống J. Carter đã dé nghị một kế hoạch bình thường hoá quan hệ với Việt Nam.
Tháng 3 năm 1977, Tông thống Carter cử phái đoàn đầu tiên do Đặc sứ Leonard Woodcock sang Việt Nam dé đàm phán về van đề bình thường hoá quan hệ và van dé người Mỹ mat tích trong chiến tranh (MIA). Sau chuyến thăm mở đường nay, hai bên đã thỏa thuận mở cuộc đàm phán về bình thường hoá quan hệ tại Paris. Hoa Kỳ đề nghị trước hết thiết lập quan hệ ngoại giao giữa hai nước rồi sẽ đỡ bỏ cắm vận đối với Việt Nam. Trong khi đó, Việt Nam yêu cầu Hoa Ky thuc hién nghia vu dong gop han gan vét thuong chién tranh, chua chap nhan dé nghị nêu trên của Chính phủ Carter.
Vì vậy, một co hội bình thường hoá quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ đã bị bỏ lỡ. Thang 7/1978, với thiện chí muốn thúc day đàm phán đi đến kết qua, Thứ trưởng Ngoại giao Việt Nam Phan Hiền tuyên bố “Việt Nam sẵn sảng thảo luận vấn đề bình thường hoá không có điều kiện trước” [40]. Tuy nhiên, thái độ thiện chí của Việt Nam không được chính quyền Carter đáp lại. Cùng thời gian này, quan hệ Việt Nam - Liên Xô ngày càng chặt chẽ, trong khi 13 quan hệ Việt Nam - Trung Quốc trở nên đặc biệt căng thắng.
Nắm được nhân tố Trung Quốc, Hoa Kỳ đã phối hợp với các nước khác thực hiện bao vây, cô lập Việt Nam. Hoa Kỳ gắn việc bình thường hoá quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ với việc giải quyết van đề Campuchia và van đề tìm kiếm tù binh và người Mỹ mất tích trong chiến tranh (POW - MIA), làm cho quan hệ hai nước ngày càng xâu di. Tiến tới bình thường hóa quan hệ (1985-1995) Từ năm 1985, Liên Xô bắt đầu cải tổ, tình hình thế giới và khu vực có nhiều thay đổi. Đại hội VI Đảng Cộng sản Việt Nam diễn ra vào tháng 12 năm 1986 đã thông qua đường lối đôi mới toàn điện đất nước và chủ trương tiếp tục bàn bạc với Hoa Kỳ giải quyết các van đề nhân đạo do chiến tranh dé lại và sẵn sảng cải thiện quan hệ với Hoa Kỳ vì lợi ích của hoà bình và ồn định ở Đông Nam Á.
Kiểm điểm và rút kinh nghiệm về chính sách đối với Hoa Kỳ từ năm 1975 đến giữa những năm 1980, Nghị quyết số 13 của Bộ chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam cũng chỉ rõ: “Chúng ta cần có chính sách mới toàn diện đối với Mỹ, nhằm tranh thủ dư luận thế giới và nhân dân Mỹ.tạo điều kiện thuận lợi cho ta tập trung giữ vững hoà bình và phát triển kinh tế” [70,tr. Tiếp đó, Đại hội toàn quốc lần thứ VII Đảng Cộng sản Việt Nam (1991) xác định bình thường hoá quan hệ với Hoa Kỳ là một chủ trương đối ngoại quan trọng, đáp ứng nguyện vọng của nhân dân hai nước, có lợi cho hoà bình, ồn định va phát triển ở khu vực. Việt Nam kêu gọi Hoa Kỳ đỡ bỏ cắm vận và đàm phán giải quyết các van đề tồn đọng trong quan hệ hai nước. Từ sau năm 1986, Việt Nam và Hoa Kỳ đã bắt đầu có những cuộc tiếp xúc trở lại.
Đặc biệt, sự nỗ lực của Việt Nam trong việc giải quyết van dé 14 người Mỹ mat tích trong chiến tranh Việt Nam đã là một cầu nối hiệu quả giúp hai bên bắt đầu hợp tác giải quyết các van dé do chiến tranh dé lại. Đồng thời, năm 1990, van đề Campuchia được giải quyết đã tác động tích cực đến sự điều chỉnh chính sách của Hoa Kỳ. Thập niên 90 của thế kỷ XX là giai đoạn diễn ra quá trình bình thường hoa quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ. Ngày 9/4/1991, chính quyền George.Bush chính thức đưa ra bản lộ trình “4 giai đoạn” phác họa quá trình bình thường hoá quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ, gan tiến trình cải thiện quan hệ hai nước với hai điều kiện là Việt Nam hop tác giải quyết van dé Campuchia và vấn đề người Mỹ mất tích trong chiến tranh Việt Nam.
Ngày 21/11/1991, Thứ trưởng Ngoại giao Việt Nam Lê Mai đàm phán lần đầu tiên với Trợ lý ngoại trưởng Mỹ về Đông Á - Thái Bình Dương R. Solomon tại New York về bình thường hoá quan hệ hai nước. Nhờ những tiến bộ đạt được trong việc giải quyết vấn đề Campuchia và đặc biệt là vẫn đề MIA, vấn đề nhạy cảm được đặt lên vị trí ưu tiên hàng đầu trong chính sách của Hoa Kỳ đối với Việt Nam, chính quyền Mỹ từng bước đưa ra các quyết định quan trọng đề đi đến bình thường hoá quan hệ với Việt Nam. Thang 1 năm 1993, sau khi lên cầm quyền, về cơ ban Tổng thống Bill Clinton tiếp tục chính sách đối với Việt Nam vốn đã được xác định trong “bản lộ trình” của chính quyền tiền nhiệm.
Thấu hiểu những nỗ lực của Việt Nam trong van đề Campuchia và van dé tìm kiếm POW/MIA, chính quyền Clinton quyết định thúc đầy mạnh mẽ hơn nữa quan hệ với Việt Nam. Cuối cùng ngày 11/7/1995, Téng Thống Clinton tuyên bố bình thường hoá quan hệ ngoại giao với Việt Nam. Bình thường hoá quan hệ giữa Việt Nam - Hoa Kỳ là một thành công lớn trong tiến trình “khép lại quá khứ, hướng tới tương lai” của hai nước. Tuy 15 nhiên, bình thường hoá quan hệ ngoại giao mới chỉ là một thành tựu bước đầu, là cơ sở cho sự bình thường hoá quan hệ về kinh tế cũng như về văn hoá, giáo dục, và các lĩnh vực khác.
Trong tuyên bố về việc Hoa Kỳ bình thường hoá quan hệ với Việt Nam, Tổng thống Mỹ Bill Clinton phát biểu “Chúng ta hãy hướng về tương lai, chúng ta có quá nhiều việc phải làm ở phía trước. Đây là lúc tao cho chúng ta cơ hội dé han gắn các vết thương của chúng ta. Những vết thương này đã không chịu lành quá lâu rồi. Giờ đây, chúng ta có thé tiến tới một cơ sở chung.
Bat ké những gi đã chia rẽ chúng ta trước đây, chúng ta hãy xếp vào qua khứ. Hãy dé cho giây phút này, theo từ của Kinh Thánh là một thời điểm dé hàn gắn và thời điểm dé kiến tạo” [87]. Đáp lại tuyên bố của Tổng thống Hoa Kỳ Clinton về quyết định bình thường hoá quan hệ với Việt Nam, Thủ tướng Việt Nam Võ Văn Kiệt khẳng định: "Chính phủ và nhân dân Việt Nam hoan nghênh quyết định ngày 11/7/1995 của Tổng thống Bill Clinton và sẵn sàng cùng Chính phủ Hoa Kỳ thoả thuận một khuôn khổ mới cho quan hệ giữa hai nước trên cơ sở bình đăng, tôn trọng độc lập, chủ quyền của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, cùng có lợi và phù hợp với các nguyên tắc phổ biến của luật pháp quốc té"[86]. Trong 15 năm qua, về cơ bản quan hệ Việt Nam và Hoa Kỳ đã đi được một chặng đường đáng kể.
Các lĩnh vực hợp tác ngày càng được mở rộng, các vấn đề khác biệt được xử lý trên tinh thần đối thoại, hiểu biết, theo hướng tạo dựng lòng tin. Song song với việc tiếp tục phát triển theo chiều rộng, quan hệ giữa hai nước bước vào giai đoạn phát triển theo chiều sâu trên những nền tảng này. Đúng như lời Ông Richard Armitage, nguyên thứ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ nhận xét: “Kinh nghiệm của tôi cho thấy răng, sự hiểu biết chỉ có thể có thông qua đối thoại thăng thắn. Nhưng tôi cũng muốn nhắn mạnh một điều rằng Việt Nam và Hoa Kỳ đã đồng ý làm bạn.
Hơn nữa, tôi tin rằng, đó là sự 16 khởi đầu cho một mối quan hệ chặt chẽ hơn trong tương lai. Giống như người Việt Nam các bạn vẫn nói: Trước làm bạn, sau là bạn thân"[77]. QUAN HE VIỆT NAM - HOA KY SAU BÌNH THUONG HOA 1.