CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 8 Luan van 1.1 TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1. Trên thế giới Khoa học về kiểm tra đánh giá đã được bùng nổ trên thế giới từ giữa thập niên 1980 với những thay đổi căn bản cả về triết lý, quan điểm, phương pháp, và các hoạt động cụ thể. Những thay đổi trong xu hướng kiểm tra đánh giá kết quả học tập trong hơn thập niên vừa qua có thể tóm lược trong bảng sau:4 Bảng 1.1 Xu hướng thay đổi về kiểm tra đánh giá Xu hướng cũ Xu hướng mới Các bài thi trên giấy được thực hiện vào Nhiều bài tập đa dạng trong suốt cuối kỳ quá trình học Do bên ngoài khống chế Do học sinh chủ động Việc lựa chọn câu hỏi và tiêu chí đánh Việc lựa chọn câu hỏi và tiêu chí giá không được nêu trước đánh giá được nêu rõ từ trước Nhấn mạnh sự cạnh tranh Nhấn mạnh sự hợp tác Quan tâm đến mục tiêu cuối cùng của Quan tâm đến kinh nghiệm học việc giảng dạy tập của học sinh Chú trọng sản phẩm Chú trọng quá trình Tập trung vào kiến thức sách vở Tập trung vào năng lực thực tế 4 Viện nghiên cứu giáo dục trường đại học Sư Phạm TP.HCM, Kỷ yếu hội thảo khoa học “Kiểm tra đánh giá để phát huy tính tích cực của học sinh bậc trung học”, tr. 6 9 Luan van Xu hướng kiểm tra đánh giá mới trong quan điểm giáo dục hiện đại trên thế giới là lấy học sinh làm trung tâm, trong đó mục tiêu cuối cùng của kiểm tra đánh giá là nhằm phát hiện những ưu điểm và khắc phục các nhược điểm của người học để giúp chúng phát triển đến mức tối đa mọi tiềm năng của mình.
Theo quan điểm này, người học có vai trò chủ động trong việc lựa chọn điều kiện và phương pháp thể hiện năng lực của mình một cách tốt nhất (ví dụ: lựa chọn giữa các hình thức kiểm tra khác nhau như vấn đáp hoặc viết tiểu luận, lựa chọn giữa các đợt kiểm tra khác nhau trong năm học hoặc trong khoá học, lựa chọn các thành viên tham gia một nhóm để cùng thực hiện một đề án nghiên cứu, lựa chọn vai trò phù hợp trong nhóm, vv), và được cung cấp đầy đủ và kịp thời những thông tin phản hồi về kết quả học tập của chính mình cũng như có điều kiện thảo luận về kết quả này với giáo viên để có thể có kế hoạch khắc phục điểm yếu và hoặc phát huy điểm mạnh trong học tập của chính mình. Ở Việt Nam Ở Việt Nam, việc đánh giá kết quả học tập của người học vẫn được thực hiện một cách truyền thống, chỉ chú trọng kiểm tra kiến thức sách vở mà hầu hết là ở mức độ nhớ và tái hiện kiến thức dựa trên những bài kiểm tra trên giấy. Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành nhiều quyết định liên quan hướng dẫn, chủ trương cải thiện quá trình kiểm tra đánh giá nhằm nâng cao chất lượng đào tạo. Theo quy chế 25, điểm tổng hợp đánh giá học phần (gọi tắt là điểm học phần) bao gồm: 1) điểm kiểm tra thường xuyên trong quá trình học tập; 2) điểm đánh giá nhận thức và thái độ tham gia thảo luận; 3) điểm đánh giá phần thực hành; 4) điểm chuyên cần; 5) điểm thi giữa học phần; 6) điểm tiểu luận và 7) điểm thi kết thúc học phần, trong đó điểm thi kết thúc học phần là bắt buộc cho mọi trường hợp và phải có trọng số không dưới 50% của điểm học phần.
Như vậy, quy chế 25 đã để mở khả năng cho các giáo viên đánh giá kỹ năng, thái độ của sinh viên trong quá trình dạy học. 10 Luan van Quy chế 43 cũng đã nêu rõ cách thức và tầm quan trọng của việc đánh giá kỹ năng trong quá trình dạy học. Đối với các học phần chỉ có lý thuyết hoặc có cả lý thuyết và thực hành: Tùy theo tính chất của học phần, điểm tổng hợp đánh giá học phần được tính căn cứ vào một phần hoặc tất cả các điểm đánh giá bộ phận, bao gồm: điểm kiểm tra thường xuyên trong qúa trình học tập; điểm đánh giá nhận thức và thái độ tham gia thảo luận; điểm đánh giá phần thực hành; điểm chuyên cần; điểm thi giữa học phần; điểm tiểu luận và điểm thi kết thúc học phần, trong đó điểm thi kết thúc học phần là bắt buộc cho mọi trường hợp và có trọng số không dưới 50%. Đối với các học phần thực hành: Sinh viên phải tham dự đầy đủ các bài thực hành.
Điểm trung bình cộng của điểm các bài thực hành trong học kỳ được làm tròn đến một chữ số thập phân là điểm của học phần thực hành. Một số công trình khoa học nghiên cứu về kiểm tra đánh giá thực hành Các luận văn thạc sỹ tại trường Đại học Sư Phạm Kỹ Thuật TP.HCM: “Bước đầu xây dựng bộ đề thi môn Tâm lý học đại cương cho các lớp kỹ thuật trừơng Cao đẳng Sư phạm Bình Dương”của tác giả Đoàn Thế Nam, 1997; “Xây dựng bộ đề thi môn học Công nghệ Chế tạo máy theo phương pháp trắc nghiệm khách quan cho hệ Trung học Kỹ thuật” của tác giả Đỗ Thị Phương Khanh, 2003; “Xây dựng ngân hành câu hỏi trắc nghiệm đánh giá kiến thức và ngân hàng đề thi kỹ năng cho nghề dệt may thổ cẩm theo tiêu chuẩn kỹ năng nghề” của tác giả Hoàng Thiếu Sơn, 2009; “Xây dựng bộ câu hỏi kiểm tra đánh giá cho môn học Âu phục nam tại trường trung học kỹ thuật thực hành thuộc trường đại học Sư phạm kỹ thuật TP.HCM” của tác giả Hoàng Thị Hằng, 2010; 11 Luan van “Xây dựng ngân hàng đề thi đánh giá kiến thức và kỹ năng cho nghề điện công nghiệp theo tiêu chuẩn kỹ năng nghề tại trường cao đẳng cơ điện và nông nghiệp nam bộ” của tác giả Đỗ Văn Trường, 2011; Một số công trình khác: Hội thảo “Kiểm tra đánh giá để phát huy tính tích cực của học sinh ở bậc trung học”, Viện Nghiên Cứu Giáo Dục - Trường Đại Học Sư Phạm Thành Phố Hồ Chí Minh, 2006; 1.2 CÁC KHÁI NIỆM LIÊN QUAN 1.1 Kỹ năng Theo Từ điển tiếng Việt, kỹ năng là khả năng vận dụng những kiến thức trong một lĩnh vực nào đó vào thực tế. Theo Từ điển Giáo dục học, Kỹ năng là khả năng thực hiện đúng hành động, hoạt động phù hợp với những mục tiêu và điền kiện cụ thể tiến hành hành động ấy, cho dù đó là hành động cụ thể hay hành động trí tuệ. Có hai loại kỹ năng, đó là: (1) Kỹ năng thực hành (tâm vận): Ví dụ: sử dụng máy móc, xây tường, sửa chữa xe ô tô v.
liên quan đến thao tác, động tác lao động chân tay và (2) Kỹ năng trí tuệ: Ví dụ: Tìm lỗi, lập trình, giải quyết vấn đề v. liên quan đến các thao tác trí tuệ.2 Kiến thức Theo Từ điển Giáo dục học, Kiến thức là những điều hiểu biết có được của con người về thế giới tự nhiên và xã hội nhờ học tập trong trường và từng trải trong thế giới cuộc sống. Kiến thức được phân thành hai loại chính: (1) kiến thức hiện: được thể hiện trên các vật mang tri thức như sách, tài liệu, băng, đĩa … có khả năng lan truyền rộng rãi và (2) kiến thức ngầm: được tích lũy trong bộ não con người hoặc một tổ chức cần 12 Luan van thiết cho việc khai thác và sử dụng các kiến thức hiện đã được điển chế hóa. Vì vậy, quá trình đào tạo là quá trình thực hiện sự phát triển và chuyển hóa lẫn nhau giữa kiến thức ngầm và kiến thức hiện.3 Đề thi kiểm tra đánh giá thực hành Là tập hợp các bài thi được lựa cho theo một quy định nào đó nhằm đánh giá kỹ năng mong muốn sinh viên đạt được đối với môn học cụ thể.4 Bộ đề kiểm tra đánh giá thực hành Là tập hợp các đề thi thực hành được sử dụng trong các kỳ thi kiểm tra đánh giá thực hành cho môn học.5 Kỹ thuật lập trình Là kỹ năng sử dụng những ngôn ngữ lập trình kết hợp với hình thành giải thuật để xây dựng chương trình nhằm giải quyết các bài toán thực tế.6 Tiêu chí đánh giá Theo Từ điển Giáo dục học, tiêu chí đánh giá là dấu hiệu, tính chất được chọn làm căn cứ, làm chuẩn để so sánh, đối chiếu, xác định mức độ kết quả đạt tới của những thứ cần đánh giá.
Tiêu chí gồm nhiều chỉ số, đó là mức độ yêu cầu và điều kiện về một thành phần cụ thể của tiêu chí. Có hai quan điểm về tiêu chí: Tiêu chí là tiêu chuẩn thực hiện, tức là chuẩn thấp nhất có thể chấp nhận được về sự thực hiện công việc (theo Springer, 1980); Tiêu chí là mục tiêu thực hiện, tức là những mong đợi về sự thực hiện công việc (theo Odiorne, 1979); 13 Luan van 1.7 Đào tạo kỹ thuật thực hành5 Là một phần của quá trình đào tạo hoàn chỉnh nhằm vận dụng những hiểu biết lý thuyết vào thực tế có sử dụng các trang thiết bị, công cụ tương tự như trong thực tiễn sản xuất, tổ chức tại xưởng thực hành của nhà trường hay ngay tại phân xưởng sản xuất của doanh nghiệp. Nói cách khác, đào tạo kỹ thuật thực hành là dạy học viên làm được gì và làm như thế nào.3 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ 1.1 Định nghĩa Kiểm tra là công cụ, phương tiện để đo lường trình độ kiến thức kỹ năng, kỹ xảo của người học. Đánh giá là quá trình nhằm xác định mức độ của trình độ kiến thức kỹ năng, kỹ xảo của người học.
Kiểm tra đánh giá là khâu cuối cùng trong bốn khâu của quá trình dạy học, nhằm đo lường kết quả học tập của người học để xác nhận giá trị tri thức.2 Vai trò, mối quan hệ giữa kiểm tra – đánh giá Vai trò kiểm tra đánh giá là thay mặt xã hội để xác nhận tài năng con người để từ đó cấp văn bằng, chứng chỉ. Kiểm tra đánh giá có mối quan hệ khắng khít với nhau. Kiểm tra là công cụ, dụng cụ đo lường, là phương tiện của đánh giá. Đánh giá là mục đích cuối cùng của kiểm tra.
Mục đích đánh giá quyết định nội dung và hình thức của kiểm tra. 5 Tài liệu hội thảo “Một số thuật ngữ cơ bản dùng trong lĩnh vực dạy nghề”, Tổng cục dạy nghề, tr.