CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC XÂY DỰNG BÀI GIẢNG ĐIỆN TỬ TƯƠNG TÁC 1. Tương tác Tương tác là quá trình tác động qua lại giữa các yếu tố với nhau nhằm tạo ra sự trao đổi giữa các yếu tố và biến đổi của mỗi yếu tố đó. Vì vậy với mỗi chuyên ngành khác nhau thì khái niệm tương tác cũng khác nhau, ví dụ như: - Tương tác dạy học: đó là tác động của giáo viên, học sinh và môi trường thể hiện qua hoạt động dạy và học - Tương tác cơ học: đó là tác động qua lại của hai hay nhiều vật thể hiện qua lực tương tác. - Tương tác truyền hình: Người xem và nguồn phát có thể trao đổi thông tin với nhau thường xuyên trong quá trình chương trình được thực hiện.
Dạy học tương tác. Quá trình dạy học (QTDH) là một quá trình xã hội. Về hình thức đó là quá trình hoạt động tương tác giữa người dạy và người học. Về bản chất, QTDH là quá trình học tập (nhận thức và thực hành) độc đáo của người học được tiến hành ưới sự tổ chức, hướng dẫn của người dạy nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ dạy học [13].
Tương tác giữa người dạy và người học tồn tại tất yếu trong quá trình dạy học. Không có tương tác sẽ không tạo nên quá trình dạy học. Tương tác tạo nên tình huống và tình huống lại nảy sinh tương tác. Dạy học sẽ mất định hướng và không đạt kết quả nếu để các tương tác trong quá trình dạy học diễn ra một cách tự nhiên.
Trang 11 Dạy học tương tác (DHTT) là quá trình dạy học dựa trên sự tác động qua lại giữa người ba tác nhân cơ bản/; người dạy, người học, môi trường và sự tương tác giữa các phần tử nội bộ trong ba tác nhân đó. Lý luận dạy học tương tác Tất cả các phương pháp dạy học truyền thống từ xưa tới nay đều có tương tác, vấn đề này ai cũng biết và sử dụng. Từ phương thức dạy học truyền khẩu của các cụ đồ nho đến việc giảng dạy sử dụng các phương tiện hiện đại để tăng tính tương tác trong dạy học. Nhưng việc sử dụng tương tác trong dạy học chỉ là khả năng tích lũy được trong các quá trình nghiên cứu về các phương pháp dạy học mà chưa dựa trên một cơ sở khoa học.
Phải đến khi tác phẩm “ Sự phạm tương tác - Một tiếp cận thần kinh trong học và dạy ” của hai nhà khoa học giáo dục Canada - Jean - Marc Denommé và Madelein Roy, mới trình bày cách tiếp cận khoa học thần kinh nhận thức của việc học và dạy dựa trên sự vận hành năng động của hệ thần kinh trong quá trình tiếp thu và xử lý thông tin. Lý luận dạy học tương tác (LLDHTT) là lý luận dạy học theo quan điểm(hay tiếp cận) sư phạm tương tác (SPTT), coi quá trình dạy học là quá trình tương tác đặc thù giữa bộ ba tác nhân - Người học, người dạy và môi trường – trong đó, người học là trung tâm, là người thợ chính, người dạy là người hướng dẫn và giúp đỡ [10]. Luận điểm SPTT được đề xuâts và trình bày trong tác phẩm “Tiến tới một phương pháp sư phạm tương tác” của Jean - Marc Denommé và Madelein Roy năm 1998. Trong đó nêu bật những vấn đề cơ bản đó là: - Bộ ba tác nhân (3E): Người học, người dạy và môi trường.
- Bộ ba thao tác (3A): Học, giúp đỡ và tác động. - Bộ ba tương tác: Người học - Người dạy - Môi trường và tương hỗ giữa chúng. Trang 12 - Định hướng tương tác: coi người học là trung tâm, là tác nhân chính của quá trình đào tạo và nhấn mạnh các tác động qua lại giữa người học, người dạy và môi trường. Sau đây chúng ta đi sâu vào phân tích từng vấn đề về lý luận dạy học tương tác mà hai nhà khoa học Jean - Marc Denommé và Madelein Roy đã xây dựng.
Bộ ba tác nhân - Người học : có nguồn gốc từ tiếng la tinh (studium) với ý nghĩa là “cố gắng và học tập”. Theo nghĩa rộng, thuật ngữ này có hàm nghĩa là cam kết và trách nhiệm. Trong quan điểm SPTT, khái niệm người học dung để chỉ tất cả những ai có tham gia (thực hiện) hoạt động học. Người học là người tìm cách hiểu tri thức và chiếm lĩnh nó.
Người học trước hết là người đi học mà không phải là người được dạy. - Người dạy: Người dạy là người được xã hội ủy thác chuyên trách trong chứ năng chuyển giao chi thức, kinh nghiệm xã hội cho người học. Người dạy là người được đào tạo, huấn luyện với những chuyên môn nhất định nên có đủ các phẩm chất và năng lực để thực hiện được chứ năng nói trên. Người dạy chỉ cho người học cái đích cần phải đạt, giúp đỡ, làm cho người học hứng thú và đưa họ tới đích.
Chức năng chính của người dạy đó là giúp đỡ người học học và hiểu. Theo phương pháp DHTT thì người dạy phải làm nảy sinh tri thức ở người học theo cách của người dạy. Người dạy phục vụ người học. - Môi trường: + Hoạt động của người dạy và người học diễn ra trong không gian và thời gian xác định với ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố bên trong và bên ngoài khác Trang 13 nhau.
Đó là môi trường dạy học, môi trường dạy học do cả người dạy và người học cùng nhau phối hợp và tổ chức. + Theo quan điểm tương tác ”Người dạy và người học không phải là những sinh vật trừu tượng, xung quanh họ là thế giới vật chất văn hóa. Cả người học và người dạy đều có một tính cách rõ rệt và các giá trị cá nhân được phát triển trong một đất nước có các thể chế, chính trị, gia đình và nhà trường mà chúng tất yếu có ảnh hưởng đến họ. Tất cả những yếu tố này bên trong cũng như bên ngoài tạo thành môi trường dạy và học ”[7].
+ Có thể hiểu môi trường dạy học là những điều kiện cụ thể, đa dạng do người dạy tạo ra và tổ chức cho người học hoạt động, phù hợp với người học nhằm đạt tới mục tiêu của nhiệm vụ dạy học. Môi trường có thể là phương tiện dạy học, môi trường học tập (cơ sở vật chất nhà trường, không khí lớp học,…) đến các phạm trù lớn hơn như gia đình, nhà trường và xã hội,… + Trong môi trường dạy học thì phương tiện đóng một vai trò không kém phần quan trọng. Phương tiện trực tiếp để dạy học bao gồm những phương tiện chứa các thông tin về các sự vật, hiện tượng và các quá trình xảy ra trong tự nhiên như: sách giáo khoa, giáo trình, chương trình môn học, sổ tay, vở ghi chép…Ngoài ra còn có các phương tiện mang tin thính giác như: Băng, đĩa; các phương tiện mang tin thị giác như: bản vẽ, bản đồ, biểu đồ, …; Các phương tiện mang tin nghe nhìn như: Audio, Video, Máy vi tính,…; Các phương tiện mang tin dùng cho sự hình thành khái niệm và thao tác như: Mô hình, đồ vật, thiết bị… Lưu ý: Vấn đề dặt ra là tại sao trong LLDHTT, khi đề cập đến các thành tố của QTDH, người ta chỉ quan tâm đến ba nhân tố: người dạy, người học và môi trường. Phải chăng yếu tố nội dung dạy học đã không chú trọng đến?.
Có thể khẳng định rằng LLDHTT không bỏ qua yếu tố nội dung dạy học mà ngược lại đề cao yếu tố này như một tất yếu trong phương pháp dạy, phương pháp học và gắn chặt với giáo viên và học sinh. Bời vì: Trang 14 - Với người học, nội dung dạy học là điểm kết thúc đối với hoạt động của chính họ và do đó có ý nghĩa của yếu tố định hướng kích thích đối với người học. - Hoạt động của người dạy gắn liền đối với nội dụng dạy học và nội dung dạy học được xem là điểm xuất phát đối với hoạt động của người dạy. Người dạy phải xây dựng kế hoạch dạy học, tổ chức các hoạt động và hợp tác với người học trong giờ học.
Tất cả các hoạt động này đều được gắn kết với nội dung dạy học trong đó kế hoạch dạy học (giáo án) là một sự thể hiện tiêu biểu của mối quan hệ này. Những phân tích trên cho thấy lý thuyết DHTT không hề phủ nhận yếu tố nội dung dạy học trong QTDH. Thông qua các nội dung cụ thể hoạt động của giáo viên và học sinh, DHTT đã gắn kết chặt chẽ phương pháp dạy và phương pháp học với nội dung dạy học, coi đó là những yếu tố đương nhiên trong hoạt động của hai nhân tố người dạy và người học.2 Bộ ba thao tác Hoạt động dạy học bao gồm toàn bộ các hành động của người học khi học và của người dạy khi giúp đỡ người học trong quá trình học. Thực tế hoạt động dạy học gồm ba thao tác cơ bản sau: - Học Học là hoạt động của chủ thể nhằm biến đổi bản than.
Học được hiểu theo nhiều cách tiếp cận khác nhau. Theo tâm lí học nhận thức: “Học là quá trình biến đổi và cân bằng cấu trúc nhận thức để thích nghi với môi trường” ; Theo lí thuyết thông tin: “ Học là quá trình thu nhận và xử lí thông tin từ môi trường sống của chủ thể, làm cho chủ thể tự biến đổi”.Từ đó học được hiểu là “quá trình chuyển hóa tri thức của nhân loại thành tri thức của cá nhân”. Trang 15 Người học sử dụng nội lực để kiểm định kiến thức và kỹ năng nảy sinh trong mình theo một phương pháp học nào đó. “ Phương pháp học là khái niệm miêu tả con đường mà người học phải theo bằng cách đưa ra hành động học”[7].
Phương pháp học tập phụ thuộc rất nhiều vào ý thức học tập của từng người học, người học phải biết tự vượt qua chính mình. Sự say mê, hứng thú, quyết tâm, sự tập trung chú ý vào các nhiệm vụ học tập sẽ tạo ra một kết quả học tập rất tốt. Phương pháp học còn phụ thuộc vào năng lực, kinh nghiệm, thói quen, kỹ năng học tập và tính khoa học của từng người học. Kết quả học tập quyết định bởi năng lực tự học, kỹ năng thu thập, xử ý, trình bày thông tin của từng cá nhân của người học.Margolinas, dạy là làm sống lại kiến thức, làm cho kiến thức được tạo ra bởi chính người học như là câu trả lời cho tình huống; giúp đỡ người học đạt đến một sự hiểu biết cá nhân và chính xác hóa hiểu biết cá nhân thành kiến thức khoa học.