Chương 1 sẽ trình bày những quan điểm của các nhà nghiên cứu về chính sách ngôn ngữ và một số vấn đề có liên quan chặt chẽ, không thể tách rời với chính sách ngôn ngữ như: mối quan hệ giữa chính sách ngôn ngữ với kế hoạch hóa ngôn ngữ, mối quan hệ giữa chính sách ngôn ngữ với lập pháp ngôn ngữ, trong đó nhấn mạnh vai trò của nhà nước đối với việc tác động nhằm định hướng, điều chỉnh sự phát triển hoặc sử dụng ngôn ngữ theo một cách nhất định nhằm thực hiện những mục tiêu nào đó. Chƣơng 2: Một số đề xuất cải cách ngôn ngữ ở Nhật Bản giai đoạn cận đại Chương 2 sẽ mô tả bức tranh về điều kiện lịch sử - xã hội và những mục tiêu chính trị tác động đến sự hình thành chính sách ngôn ngữ của Nhật Bản giai đoạn cận đại. Trước tình hình tiếng Nhật chưa ổn định và thống nhất, các học giả, các nhà nghiên cứu ngôn ngữ đưa ra các đề xuất phương án cải cách chữ viết trong tiếng Nhật như: đề xuất xóa bỏ chữ Hán chỉ sử dụng chữ Kana, đề xuất sử dụng chữ cái Latinh, đề xuất sử dụng kiểu chữ mới, đề xuất hạn chế số lượng chữ Hán, đề xuất sử dụng tiếng Anh. Chƣơng 3: Các quyết định của chính quyền về chính sách ngôn ngữ và kết quả thực hiện Chương 3 sẽ trình bày nội dung chính sách ngôn ngữ mà chính quyền Nhật Bản đã ban hành trên cơ sở các nghiên cứu, đề xuất của các tổ chức và các nhà khoa học.
Nội dung của các chính sách ngôn ngữ nhằm nâng cao vị thế tiếng Nhật trong xã hội và cải tiến tiếng Nhật về các phương diện, nhằm hướng tới mục đích nhanh chóng xây dựng một nước Nhật hùng cường. 6 z CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1. Chính sách ngôn ngữ 1. Khái niệm chính sách ngôn ngữ Thuật ngữ “Chính sách ngôn ngữ” (Language policy) đã được đề cập đến với tư cách là một thuật ngữ công cụ quan trọng trong ngôn ngữ học xã hội từ những năm 70 của thế kỷ trước.
Thuật ngữ này đã được đưa ra trong các nghiên cứu của Joshua Aaron Fishman (1970) trong tác phẩm “Ngôn ngữ học xã hội” (Sociolinguistics) (bằng tiếng Anh), của Rafael Ninyoles (1975) trong tác phẩm “Cấu trúc xã hội và chính sách ngôn ngữ” (Estructura Social y Political Linguista) và của Helmut Gluck (1981) trong tác phẩm “Cấu trúc ngôn ngữ và chính sách ngôn ngữ” (Sprach Theorie und Sprachien Politik) (bằng tiếng Đức và tiếng Pháp). Tiếp sau đó, trong hàng loạt công trình nghiên cứu, chính sách ngôn ngữ, cùng với đó là kế hoạch hóa ngôn ngữ, chuẩn hóa ngôn ngữ, ngôn ngữ và dân tộc… là những đề mục không thể thiếu trong nhiều công trình thuộc địa hạt ngôn ngữ học xã hội ở nhiều nước, tiêu biểu là Nga, Đức, Anh, Mỹ, Tiệp Khắc… Tại Việt Nam, thuật ngữ “Chính sách ngôn ngữ” đã trở nên quen thuộc với các nhà ngôn ngữ và các nhà hoạch định chính sách từ những năm 60 của thế kỷ trước trong những nghiên cứu đề xuất xây dựng các chính sách ngôn ngữ phù hợp cho một quốc gia đa dân tộc, đa ngôn ngữ phức tạp như Việt Nam. Có thể kể đến một số tác giả có nhiều bài viết nổi tiếng về chính sách ngôn ngữ như Hoàng Tuệ, Hoàng Phê, Hoàng Văn Hành, Nguyễn Văn Khang, Trần Trí Dõi… Theo từ điển Tiếng Việt thì chính sách là “Sách lược và kế hoạch cụ thể nhằm đạt một mục đích nhất định, dựa vào đường lối chính trị chung và tình hình thực tế mà đề ra” [29; 173]. Như vậy, khái niệm chính sách ngôn ngữ là 7 z một trong những khái niệm của rất nhiều các khái niệm về chính sách mà nhà nước, chính phủ đề ra về vấn đề ngôn ngữ nhằm hướng sự hoạt động của ngôn ngữ phục vụ những mục đích mang tính quốc gia.
Như mọi chính sách, chính sách ngôn ngữ gồm hai mặt: “Mặt lý thuyết là những cơ chế của sự giao tiếp ngôn ngữ, về chức năng, bản chất và quy luật phát triển của ngôn ngữ. Mặt hành động thực tiễn là những chủ trương của nhà nước và đồng thời là những chương trình, kế hoạch thực hiện những chủ trương ấy nhằm tác động vào sự phát triển của ngôn ngữ” [15; 62]. Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Khang có khá nhiều định nghĩa hay cách hiểu về “Chính sách ngôn ngữ”. Tựu chung có các trường phái chính như sau: [10; 145-146] “Chính sách ngôn ngữ là phạm trù khái niệm thuộc lĩnh vực chính trị - xã hội, biểu thị hệ thống những quan điểm, những chủ trương và biện pháp của một nhà nước hay của một tổ chức chính trị - xã hội, nhằm tác động một cách có ý thức theo một định hướng nhất định vào sự hành chức và phát triển của ngôn ngữ, phù hợp với cảnh huống ngôn ngữ và bối cảnh chính trị - xã hội của đất nước trong một giai đoạn lịch sử nhất định, nhằm phục vụ cho lợi ích của đất nước, của các giai tầng xã hội mà nhà nước ấy, hay tổ chức chính trị - xã hội ấy làm người đại diện” (Hoàng Văn Hành, 2002).
“Nói đến chính sách ngôn ngữ là nói đến sự can thiệp có ý thức, có tổ chức, có cơ sở khoa học của xã hội vào sự hoạt động và phát triển của ngôn ngữ. Nói cách khác, chính sách ngôn ngữ là sự lãnh đạo những yêu cầu ngôn ngữ học của xã hội dựa trên sự hiểu biết khoa học về những quy luật của ngôn ngữ, đưa ngôn ngữ vào quỹ đạo phát triển chung của xã hội, làm cho ngôn ngữ phục vụ ăn khớp với sự phát triển của xã hội” (Nguyễn Hàm Dương, 1975). “Chính sách ngôn ngữ là các chủ trương chính trị của một nhà nước, chính xác hơn là của giai cấp thống trị nhà nước, một đảng phái, một nhóm xã 8 z hội. về vấn đề ngôn ngữ và các biện pháp thực hiện các chủ trương đó nhằm hướng sự hoạt động của ngôn ngữ và các hình thức tồn tại của ngôn ngữ theo những mục đích nhất định.
Tính quy định chính trị là cơ sở để phân biệt và đánh giá tính chất tiến bộ và phản tiến bộ của chính sách ngôn ngữ trong các nước có chế độ xã hội khác nhau. Nó cũng là chỗ dựa để phân biệt các khái niệm chính sách ngôn ngữ, xây dựng ngôn ngữ, kế hoạch hóa ngôn ngữ vốn đang được dùng như là khái niệm đồng nghĩa trong các khuynh hướng ngôn ngữ học xã hội gần đây” (Nguyễn Như Ý, 1985). “Chính sách ngôn ngữ, hiểu theo nghĩa rộng “là các nguyên tắc mang tính ý thức và các biện pháp thực tế để giải quyết các vấn đề ngôn ngữ trong một quốc gia”, còn chính sách ngôn ngữ theo nghĩa hẹp “là hệ thống các biện pháp nhằm làm biến đổi hoặc duy trì cảnh huống ngôn ngữ, hoặc làm thay đổi hay duy trì chuẩn mực ngôn ngữ” (Nguyễn Văn Lợi, 2002). “Chính sách ngôn ngữ là hệ thống biện pháp nhằm tác động một cách có ý thức để điều chỉnh mặt chức năng của ngôn ngữ và thông qua đó tác động đến cấu trúc ngôn ngữ ở một chừng mực nhất định” (V.
“Chính sách ngôn ngữ là toàn bộ các biện pháp nhằm thay đổi hoặc bảo tồn sự phân bố chức năng đang tồn tại giữa các ngôn ngữ hay hình thái ngôn ngữ nhằm áp dụng những chuẩn mực mới hay bảo lưu những chuẩn mực đang sử dụng. Chính sách ngôn ngữ là toàn bộ hoạt động thực tiễn có mục đích nhằm điều chỉnh các quá trình ngôn ngữ tự nhiên, cả ở các nước đa dân tộc cả ở các nước đơn dân tộc và mang tính cấp tiến vừa mang tính bảo thủ” (Nikolskij, L. Trên cơ sở tổng hợp các ý kiến nêu trên, tác giả nhận thấy: chính sách ngôn ngữ là một bộ phận không thể thiếu trong chính sách dân tộc chung của một đất nước. Đây là một hệ thống những quan điểm, chủ trương, biện pháp 9 z chính thức của nhà nước hoặc một tổ chức chính trị xã hội nào đó nhằm tác động một cách có ý thức theo một định hướng nhất định vào sự hành chức và phát triển ngôn ngữ sao cho phù hợp với tình hình ngôn ngữ và bối cảnh chính trị, kinh tế - xã hội của đất nước trong những giai đoạn lịch sử nhất định, nhằm phục vụ lợi ích của đất nước hoặc của một tầng lớp xã hội nhất định nào đó.
Chính sách ngôn ngữ phụ thuộc vào chính sách dân tộc của nhà nước. Cùng với văn hóa, ngôn ngữ là một trong hai tác nhân quan trọng có khả năng vừa tụ hợp, bảo vệ dân tộc vừa để chống lại sự xâm nhập và đồng hóa dân tộc. Chính sách ngôn ngữ là khái niệm bao trùm lên toàn bộ vấn đề ngôn ngữ của một quốc gia, thậm chí vượt ra ngoài ranh giới của một quốc gia. Để thực thi những quan điểm của chính sách ngôn ngữ đòi hỏi phải có chiến lược về ngôn ngữ quốc gia.
Chính sách ngôn ngữ và chiến lược ngôn ngữ quốc gia đều là những vấn đề chính trị xã hội, đòi hỏi được giải quyết trong quá trình phát triển của một quốc gia trên cơ sở cảnh huống ngôn ngữ của quốc gia đó. Giữa chính sách ngôn ngữ và cảnh huống ngôn ngữ có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau, chỉ có chính sách ngôn ngữ mà tính đến tất cả các nhân tố của cảnh huống ngôn ngữ thì mới có kết quả. Chính sách ngôn ngữ là một vấn đề rất quan trọng và phức tạp trong sự ổn định và phát triển của một dân tộc một quốc gia. Tuy nhiên, nội dung chính sách ngôn ngữ ở các quốc gia khác nhau thường không giống nhau.
Ở các quốc gia đơn dân tộc, đơn ngữ, chính sách ngôn ngữ có nhiệm vụ chính là phát triển và hoàn thiện các chức năng xã hội và chuẩn hóa ngôn ngữ quốc gia như giải quyết những vấn đề về chuẩn mực ngôn ngữ, mối quan hệ giữa ngôn ngữ quốc gia và ngoại ngữ… Trong khi đó, các quốc gia đa dân tộc, đa ngữ thì nhiệm vụ của chính sách ngôn ngữ phức tạp hơn nhiều như lựa chọn ngôn ngữ quốc gia, giải quyết mối quan hệ giữa ngôn ngữ quốc gia và 10 z ngôn ngữ các dân tộc khác, giải quyết những vấn đề liên quan đến giáo dục ngôn ngữ, hành chức và hoạt động ngôn ngữ trong những phạm vi, bối cảnh xã hội khác nhau. Như vậy, chính sách ngôn ngữ là một bộ phận hay một nội dung trong hệ thống chính sách chính trị - xã hội của một quốc gia.