mở đầu bằng những trang chếnh choáng say sưa, trong đó cái “tôi” nghệ sĩ của Nguyễn Tuân được thăng hoa nhờ chất men lãng mạn cách mạng; giọng văn của ông đầy hào hung, chân hành và cảm động. Đầu năm 1958, sau một cuộc học tập chính trị dành cho văn nghệ sĩ, Nguyễn Tuân đi thực tế - một chuyến đi dài hạn lên Tây Bắc. Cuộc sống mới, con người mới của Tổ Quốc đã đem cho nhà văn một nguồn cảm hứng sáng tạo mới, say mê và mãnh liệt. Ngòi bút Nguyễn Tuân tràn đầy cảm hứng lãng mạn khi viết những bài tùy bút về Điện Biên và sông Đà, sau này được tập hợp lại trong cuốn Sông Đà.
Tác phẩm này là một bài ca về thiên nhiên Tây Bắc vừa hung vĩ, vừa thơ mộng và còn là bài ca về Tổ Quốc giàu đẹp của 16 chúng ta. Sông Đà không chỉ tìm kiếm vẻ đẹp của thiên nhiên mà còn trân trọng phát hiện vẻ đẹp của con người, ông gọi đó là “chất vàng mười” của tâm hồn con người Tây Bắc. Còn với tập Hà Nội ta đánh Mĩ giỏi (1972), Nguyễn Tuân đã vạch trần chân tướng bỉ ổi, hèn nhát của những “yêng hung không lực Huê-kì”; ngợi ca cách đánh giặc vừa anh dũng, mưu trí, vừa đàng hoàng, sang trọng của quân dân ta – những con người sinh ra trên một đất nước có nghìn năm văn hiến. Gần năm mươi năm hoạt động văn học liên tục, Nguyễn Tuân đã có những đóng góp đáng kể vào sự phát triển văn xuôi quốc ngữ Việt Nam hiện đại, với phong cách nghệ thuật độc đáo, trình độ sử dụng tiếng Việt điêu luyện.
Con đường nghệ thuật này của ông tiêu biểu cho một lớp văn nghệ sĩ Việt Nam vốn mang quan điểm nghệ thuật vì nghệ thuật, đã chuyển mình trở thành văn nghệ sĩ cách mạng. Toàn bộ sáng tác của ông thấm đẫm tinh thần dân tộc thiết tha, nhất là những giá trị văn hóa cổ truyền.3 Phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân là nhà văn có phong cách nghệ thuật độc đáo. Môi trường, hoàn cảnh sống và cá tính của Nguyễn Tuân thời kì trước Cách mạng đương nhiên đưa ông đến con đường nghệ thuật lãng mạn chủ nghĩa. Nếu như các nhà văn cùng trang lứa với Nguyễn Tuân, họ tập trung vào bức tranh hiện thực khốc liệt thời bấy giờ thì Nguyễn Tuân vẫn say mê đi tìm cái đẹp ngàn xưa.
Cái đẹp ẩn sâu trong con người, trong nền văn hóa ngàn đời của dân tộc. Lý do Nguyễn Tuân phải đi tìm cái đẹp trong quá khứ là bởi vì “Trong cuộc đời ông sống trước cách mạng, cái đẹp với cái thật không bao giờ khớp được với nhau mà thường trái lại”[13] (Nguyễn Đình Thi). Ông kiếm tìm một cái đẹp không có nội dung xã hội, không có nội dung giai cấp. Nguyễn Tuân là một tâm hồn nghệ sĩ tha thiết yêu thiên nhiên, có những phát hiện tinh tế và độc đáo về cảnh sắc thiên nhiên, về núi sông cây cỏ trên đất nước Việt Nam 17 mình.
Thiên nhiên qua ngòi bút ông hiện ra như một công trình mĩ thuật tuyệt vời của tạo hóa. Nguyễn Tuân chủ yếu khám phá thiên nhiên và sự vật ở phương diện văn hóa thẩm mĩ; khám phá con người ở phương diện tài hoa nghệ sĩ. Đó chính là cái nhìn mới mẻ, độc đáo, có tính chất phát hiện về con người và cuộc sống của Nguyễn Tuân. Trước Cách mạng, vì bất hòa với thực tại, không tìm thấy cái đẹp trong thực tại, ông quay về tìm kiếm vẻ đẹp của một thời đã qua chỉ còn “vang bóng” như những bông hoa lạc long cuối mùa còn vương sót lại.
Sau Cách mạng, Nguyễn Tuân không đối lập xưa với nay mà tìm thấy sự gắn bó giữa quá khứ với hiện tại và tương lai; “ông thấy cái có thật bây giờ đẹp, và cái đẹp bây giờ có thật trong cuộc đời”[13] (Nguyễn Đình Thi). Tầm mắt của ông mở rộng hơn : cái đẹp không chỉ có trong quá khứ mà còn có thật trong cuộc sống hiện tại; còn chất tài hoa nghệ sĩ cũng không chỉ có trong lớp người đặ tuyển của thời xưa mà còn có thể tìm thấy trong đại chúng nhân dân, ở những con người bình thường nhất như ông lái đò, anh bộ đội, chị dân quân… cái đập mạnh vào giác quan nghệ sĩ, đối với ông, giờ đây là những thành tích của nhân dân trong chiến đấu và sản xuất. Nguyễn Tuân cũng khiến người đọc nhớ đến mình ở giọng điệu nhưng giọng điệu văn ông không thuần nhất một màu sắc cụ thể, không thể chỉ một đôi từ mà khái quát được. Dường như ta có thể tiếp xúc với mọi giọng điệu khi đọc Nguyễn Tuân, tựa hồ tác phẩm của ông là một bức tranh có đủ các gam màu với các sắc độ khác nhau.
Bởi thế mà nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Mạnh đã nhận xét là Nguyễn Tuân có “một lối văn đã tìm đúng được cái giọng riêng của nó: khi thì trang nghiêm cổ kính, khi thì đùa cợt, bông phèng, khi thì thánh thót trầm bổng, khi thì xô bồ bừa bãi như là ném ra trong một cơn say chếnh choáng, khinh bạc đấy nhưng bao giò cũng rất đỗi tài hoa”. Giọng điệu linh hoạt, phong phú đến thần tình ấy cộng với cái duyên trời phú đã tạo cho văn Nguyễn Tuân một nét đặc sắc không dễ gì tìm được. Trước cách mạng, khi viết về đề tài quá khứ, văn Nguyễn Tuân rất buồn, cái buồn bã 18 lắng sâu của một tấm lòng hoài cổ. Tác giả “Nhà văn hiện đại” đã rất tinh tường khi nhận xét về giọng văn Nguyễn Tuân: “Văn Nguyễn Tuân buồn, buồn lắm, dùng lối văn ấy để viết về những cái đã qua, những cái đã chết thì không còn lối văn nào thích hợp bằng.” [1; 418] Giọng điệu trữ tình thiết tha thật buồn ấy thể hiện rõ nhất trong Vang bóng một thời.
Mười hai câu chuyện đều như những tiếng đàn trầm, không có nét nào cao vút vui tươi. Này là cảnh vườn lan muôn sắc phai tàn hoang phế vì vắng chủ (Vườn xuân lan tạ chủ). Này là cái thê lương của cảnh vật và cả của tâm hồn hai anh em Đầu Xứ nối nhau thi trượt vì một oan hồn Báo oán. Này là sự hi sinh âm thầm của người con gái đang xuân, bỏ qua cái hôm nay của mình để lo cho cái ngày mai của cậu em trai (Ngôi mả cũ).
Này là những thú uống trà, thú chơi lan, thú làm đèn kéo quân, đèn xẻ rãnh,. Tất cả đều đẹp và xa xôi, vọng vào lòng người một niềm tiếc nuối. Câu chuyện không kịch tính. Nhân vật không chạy đua với thời gian.
Dòng chảy cuộc sống trong truyện không cuộn trào gấp gáp mà lặng lẽ trôi xuôi. Chính vì thế mà giọng kể của tác giả cũng lắng trầm chậm rãi, cố gợi lại nét đẹp xưa bằng một tâm tình ưu ái pha chút xót xa tiếc nhớ. Bằng giọng văn trầm buồn trải đều trên những câu văn dài nhiều tầng nhiều lớp, Nguyễn Tuân đã khơi gợi ở người đọc nỗi niềm trắc ẩn và lòng quí yêu những giá trị văn hoá tinh thần mang tính truyền thống của dân tộc. Mặt khác, giọng điệu trữ tình hợp với Nguyễn Tuân vì trong sáng tác của mình, dù là ở thể tài nào, ông cũng thiên về tâm tình chứ không nặng về sự kiện – cho dù đó là truyện ngắn hay tiểu thuyết.
Nguyễn Tuân là người viết văn xuôi ở ngôi thứ nhất, loại văn xuôi dùng để thể hiện tâm tình chứ không chủ đích miêu tả sự kiện. Đọc văn ông trước cách mạng, có cảm giác như ông đang rủ rỉ kể cho độc giả nghe những tâm sự của mình, chút ít sự kiện hoạ chăng chỉ là để làm nền cho tình cảm thể hiện. Vì thế, có lẽ giọng điệu trữ tình thật sự phù hợp với phần lớn sáng tác của Nguyễn Tuân, cả sau này khi ông viết Sông Đà vẫn không thiếu giọng văn như thế. Kể ra, Nguyễn Tuân 19 cũng thật tinh tường khi chọn cho mình lối đi ấy, hay chính giọng điệu ấy đã chọn ông – cũng chưa biết chừng! Chỉ biết rằng nhờ đó mà văn ông không chỉ chứa cái đẹp trong nội dung mà hình thức tác phẩm và nội dung đã hoà quyện vào nhau thành một chỉnh thể thống nhất.
Sự thống nhất này chính là cái đẹp. Chúng ta hãy xem lại cách Nguyễn Tuân tả cảnh đôi bạn hoa niên chào nhau trong một lần gặp gỡ: Cậu Ấm Hai, cô Chiêu Tần cùng nhau thi lễ: người xuống ngựa, khách dừng chèo, nơi giang đầu lại có cái cảnh tượng như hệt cảnh tả trong bài thơ của Bạch Lạc Thiên. Hay là cảnh vườn hoa héo tàn vắng bóng chủ nhân: Tơ liễu khóc mưa, tóc tùng reo gió, bóng tre lìa bụi, đều ngậm một cái tình buồn trước cái hương trời lăn lóc cảnh vườn hoang. Vườn xuân lan tạ chủ, đom đóm lập loè nơi bến nước mà gió đêm vi vút bãi lau già.
[6 ;142] Đọc câu văn mà có cảm giác như chất thơ ngân vang tràn ngập, có cảm tưởng chỉ thêm chút vần nữa là thành một câu thơ – một đoạn thơ – một bài thơ trữ tình thanh nhẹ. Giọng điệu trữ tình đằm thắm dịu nhẹ ấy là của Nguyễn Tuân, của một phần tài năng Nguyễn Tuân. Nguyễn Tuân tài hoa trữ tình đấy nhưng cũng không kém phần sâu cay và khinh bạc (chữ dùng của nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Mạnh). Bởi Nguyễn Tuân cho dù có thương nhớ quá khứ đến đâu nhưng rồi vẫn phải về với hiện tại, hiện tại của những truyện ngắn hiện thực, hiện tại của những thiên tuỳ bút – phóng sự ít nhiều mang tính thời sự.
Ở đó, bên cạnh giọng điệu tài hoa trữ tình cố hữu, độc giả còn bắt gặp một Nguyễn Tuân khác, một Nguyễn Tuân khinh bạc, sâu cay, một Nguyễn Tuân với lối đánh bỏ nhỏ, nhẹ mà đau điếng. Thế nhưng, điều đáng ngạc nhiên – theo tôi – là chính ở đây Nguyễn Tuân mới thể hiện hết cái duyên trong văn chương của mình, cái duyên mà không ít người mê say ca ngợi. Nguyễn Tuân là một cây bút tài hoa và uyên bác. Tài hoa trong việc dựng người, dựng cảnh, tài hoa trong việc sử dụng ngôn ngữ nghệ thuật, trong những so sánh liên tưởng táo bạo, bất ngờ với những hình ảnh đẹp đầy gợi cảm, uyên bác trong việc vận dụng những kiến thức thuộc nhiều lĩnh vực khác 20 nhau để làm phong phú và giàu có thêm khả năng diễn tả của nghệ thuật văn chương.
Ông luôn có ý thức vận dụng tri thức của các ngành như hội họa, điều khác, điện ảnh, địa lý, lịch sử… để miêu tả hiện thực, sáng tạo hình tượng.