Tổng quan nghiên cứu
Giáo dục âm nhạc giữ vai trò nền tảng trong việc bồi đắp nhân cách và năng lực thẩm mỹ cho học sinh phổ thông. Tại Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, Trường Cao đẳng Sư phạm Nghệ thuật Lào với bề dày hơn 35 năm hình thành và phát triển là cơ sở trọng điểm đào tạo giáo viên nghệ thuật cho cả nước. Thống kê năm 2017 ghi nhận toàn trường có 585 sinh viên theo học ở cả ba hệ đào tạo, trong đó chuyên ngành Sư phạm Âm nhạc chiếm tới 523 sinh viên (chiếm tỷ lệ 89,40%). Mặc dù giữ quy mô đào tạo lớn, công tác giảng dạy phân môn Hát hệ Cao đẳng Sư phạm Âm nhạc đang bộc lộ nhiều rào cản: thời lượng toàn khóa chỉ có 64 tiết phân bổ trong 1 năm (2 học phần), tổ chức dạy học theo hình thức tập thể với sĩ số đông lên đến 60 sinh viên trên một lớp trong 2 tiết mỗi tuần. Mô hình này khiến việc rèn luyện kỹ thuật thanh nhạc cơ bản cho từng sinh viên gặp nhiều trở ngại lớn.
Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Lý luận và Phương pháp dạy học Âm nhạc của học viên Amonlath Santyvong, dưới sự hướng dẫn khoa học của Phó Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Thị Tố Mai tại Trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương, tập trung giải quyết bài toán cấp thiết trên. Mục tiêu nghiên cứu nhằm khảo sát toàn diện thực trạng dạy và học môn Hát, từ đó xây dựng hệ thống giải pháp sư phạm đồng bộ nhằm nâng cao kỹ năng ca hát cho sinh viên hệ Cao đẳng Sư phạm Âm nhạc tại Trường Cao đẳng Sư phạm Nghệ thuật Lào trong giai đoạn 2015 - 2017. Đề tài mang giá trị thực tiễn to lớn trong việc nâng tỷ lệ sinh viên đạt chuẩn kỹ năng thực hành thanh nhạc từ mức trung bình lên trên 80% khá giỏi, đóng góp trực tiếp vào mục tiêu chuẩn hóa đội ngũ giáo viên âm nhạc phổ thông của Bộ Giáo dục và Thể thao Lào.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Nghiên cứu được xây dựng dựa trên nền tảng lý luận dạy học đại cương của Giáo sư Phạm Viết Vượng, xác định dạy học là quá trình tương tác biện chứng giữa hoạt động tổ chức, định hướng của người dạy và hoạt động nhận thức chủ động của người học. Về lý luận chuyên ngành, tác giả tiếp thu khung phương pháp sư phạm thanh nhạc của Giáo sư Nghệ sĩ Nhân dân Nguyễn Trung Kiên, kỹ thuật thanh nhạc Bel canto do Nhà giáo Ưu tú Hồ Mộ La đúc kết, kết hợp hệ thống giáo trình Hát tập 1 và tập 2 của tác giả Ngô Thị Nam.
Khung lý thuyết vận dụng 4 khái niệm then chốt: quá trình dạy học nghệ thuật, phương pháp dạy học hát đại chúng, kỹ thuật thanh nhạc cơ bản (tư thế, mở khẩu hình trong - ngoài, kỹ thuật hơi thở) và nguyên lý vị trí âm thanh cộng minh (cộng minh đầu và cộng minh ngực). Nghiên cứu phân loại chi tiết 4 kiểu thở trong thanh nhạc gồm: thở ngực, thở ngực và bụng, thở ngực dưới và bụng, cùng thở bụng để điều tiết luồng hơi khi thực hiện kỹ thuật hát liền tiếng (legato), nảy tiếng (staccato) và ngắt tiếng (non legato).
Phương pháp nghiên cứu
Tác giả sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng nhằm đảm bảo tính khách quan khoa học:
- Nguồn dữ liệu sơ cấp: Thu thập qua phiếu điều tra an-két và phỏng vấn sâu trên cỡ mẫu 60 sinh viên năm thứ nhất khóa 6 hệ Cao đẳng Sư phạm Âm nhạc, kết hợp quan sát dự giờ thực tế 4 giảng viên thuộc tổ bộ môn Hát trong năm học 2016 - 2017. Phương pháp chọn mẫu toàn bộ được áp dụng cho toàn bộ 60 sinh viên năm nhất nhằm phản ánh trọn vẹn đặc điểm của khóa học.
- Nguồn dữ liệu thứ cấp: Hệ thống văn bản chỉ đạo của Bộ Giáo dục và Thể thao Lào (Quyết định số 84/2007, Quyết định số 2564/2009) cùng khung phân phối chương trình đào tạo 4 đơn vị học trình.
- Phương pháp phân tích dữ liệu: Sử dụng phương pháp thống kê toán học, so sánh đối chiếu và phân tích sư phạm. Việc lựa chọn phương pháp này giúp lượng hóa chính xác mức độ quan tâm của người học, đánh giá sự chênh lệch năng lực thực hành và chứng minh tính hiệu quả của các bài tập luyện thanh mẫu trong quá trình thực nghiệm.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Khảo sát thực tiễn tại Khoa Sư phạm Âm nhạc Trường Cao đẳng Sư phạm Nghệ thuật Lào mang lại những phát hiện cụ thể:
- Về nhận thức môn học: Có 41,60% (25/60 sinh viên) đánh giá môn Hát giữ vai trò rất quan trọng, 20,00% (12/60 sinh viên) cho rằng khá quan trọng, 25,00% (15/60 sinh viên) nhận định quan trọng và chỉ có 13,40% (8/60 sinh viên) xem môn học là không quan trọng đối với công việc giảng dạy tương lai.
- Về tình hình tự rèn luyện tại nhà: Khảo sát 60 sinh viên chỉ ra 25,00% hoàn toàn không tự học ở nhà, 35,00% chỉ học để thuộc lời ca khúc, 30,00% luyện tập qua loa do không nắm vững phương pháp tự sửa lỗi sai, và chỉ có 10,00% sinh viên có năng khiếu tự giác luyện thanh thường xuyên.
- Về đội ngũ và quy mô lớp học: Khoa Sư phạm Âm nhạc có 26 giảng viên (16 trình độ đại học chiếm 61,54%, 7 cao đẳng chiếm 26,92%, 3 trung cấp chiếm 11,54% và 0% thạc sĩ). Quy mô lớp học tập thể 60 sinh viên/giảng viên/tiết khiến việc rèn giũa kỹ thuật cá nhân gần như không thể bao quát, dẫn tới đa số sinh viên chỉ hát theo giọng tự nhiên, thiếu kỹ năng mở rộng thanh khu và chuyển giọng khi lên cao.
Thảo luận kết quả
Thực trạng kết quả học tập môn Hát chỉ đạt mức trung bình xuất phát từ ba nguyên nhân chính: sinh viên dân tộc thiểu số bị ảnh hưởng bởi thổ ngữ dẫn đến phát âm ngọng; cơ sở vật chất thiếu phòng tập cách âm riêng biệt; và phương thức tổ chức lớp học tập thể quá đông. Khi so sánh với mô hình đào tạo Cao đẳng Sư phạm Âm nhạc tại Việt Nam (thời gian đào tạo 3 năm với 5 học phần, 75 tiết thanh nhạc cá nhân tỷ lệ 2 sinh viên/giảng viên), chương trình tại Lào chỉ kéo dài 2 năm với 64 tiết tập thể.
Dữ liệu nghiên cứu có thể được trực quan hóa rõ nét thông qua biểu đồ hình tròn thể hiện cơ cấu 4 nhóm thái độ tự học của sinh viên và bảng so sánh thời lượng đào tạo giữa hai quốc gia. Kết quả thảo luận khẳng định: nếu không đổi mới phương pháp giảng dạy, chia nhỏ nhóm lớp và chuẩn hóa hệ thống bài tập luyện khẩu hình, sinh viên tốt nghiệp sẽ gặp nhiều khó khăn khi đảm nhận công tác thị phạm và dàn dựng chương trình âm nhạc tại trường phổ thông.
Đề xuất và khuyến nghị
Nhằm nâng cao chất lượng đào tạo thanh nhạc, tác giả đề xuất 4 nhóm giải pháp sư phạm mang tính hành động cao:
- Đổi mới phương thức tổ chức dạy học: Chuyển đổi mô hình dạy hát tập thể từ 60 sinh viên/lớp sang mô hình chia nhóm nhỏ từ 10 đến 15 sinh viên trong mỗi tiết học 45 phút. Giảng viên dành tối thiểu 15 phút mỗi buổi để kiểm tra, uốn nắn tư thế, khẩu hình và hơi thở cho từng cá nhân, phấn đấu 100% sinh viên nắm vững kỹ thuật legato và staccato cơ bản.
- Bổ sung và chuẩn hóa danh mục tác phẩm: Đưa 38 tác phẩm chọn lọc vào chương trình 2 học phần, bao gồm 4 bài dân ca Lào đặc sắc (Hoa Chăm Pa, Sai lôm dên, Đok bua thong, Lào đuang đươn), 20 ca khúc phổ thông Lào, 5 ca khúc thiếu nhi phổ biến và 9 tác phẩm nước ngoài kinh điển (Mozart, Schubert, dân ca Việt Nam, dân ca Nga) với tầm cữ phù hợp từ quãng 10 đến quãng 12.
- Rèn luyện kỹ thuật và sửa tật ngôn ngữ vùng miền: Áp dụng hệ thống bài tập mở khẩu hình dọc với các nguyên âm o, ô, u và khẩu hình ngang với nguyên âm i, ê. Giảng viên hướng dẫn sinh viên đứng trước gương rèn luyện tư thế, nhấc hàm ếch mềm và nén hơi thở cơ hoành nhằm khắc phục triệt để tật nói ngọng và nhả chữ chưa chuẩn cho 100% sinh viên dân tộc thiểu số.
- Nâng cấp chương trình và chuẩn hóa đội ngũ: Đề nghị Ban Giám hiệu nhà trường và Bộ Giáo dục và Thể thao Lào nâng thời gian đào tạo hệ Cao đẳng Sư phạm Âm nhạc từ 2 năm lên 3 năm với 5 học phần; đồng thời triển khai kế hoạch đào tạo sau đại học giai đoạn 2018 - 2020 để nâng tỷ lệ giảng viên có trình độ thạc sĩ tại Khoa Sư phạm Âm nhạc đạt từ 20% trở lên.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Công trình nghiên cứu mang lại giá trị ứng dụng thiết thực cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm:
- Giảng viên thanh nhạc tại các trường sư phạm nghệ thuật: Tiếp cận phương pháp phân nhóm luyện thanh và bộ bài tập chỉnh sửa khẩu hình cho lớp học đông người, giúp nâng cao chất lượng giảng dạy cho hơn 500 sinh viên chuyên ngành mỗi năm.
- Cán bộ quản lý và hoạch định chương trình giáo dục: Sử dụng cơ sở dữ liệu thực trạng 64 tiết đào tạo và cơ cấu 26 giảng viên để xây dựng đề án đổi mới khung chương trình đào tạo giáo viên âm nhạc tại Lào và khu vực.
- Học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành phương pháp dạy học âm nhạc: Kế thừa khung lý thuyết so sánh, hệ thống tài liệu thanh nhạc kinh điển và bộ công cụ khảo sát 60 mẫu đạt chuẩn khoa học.
- Giáo viên âm nhạc tại các trường tiểu học và trung học cơ sở: Khai thác kho tư liệu 38 bài hát thiếu nhi, dân ca cùng các kỹ thuật nén hơi cơ bản để ứng dụng trực tiếp vào giảng dạy chính khóa và dàn dựng văn nghệ học đường.
Câu hỏi thường gặp
Điểm khác biệt lớn nhất giữa dạy học hát sư phạm và đào tạo thanh nhạc chuyên nghiệp là gì?
Dạy học hát sư phạm tập trung trang bị các kỹ năng ca hát cơ bản như tư thế, hơi thở, khẩu hình, hát đúng cao độ và tiết tấu nhằm phục vụ công tác thị phạm cho học sinh phổ thông. Trong khi đó, đào tạo thanh nhạc chuyên nghiệp đòi hỏi phát triển âm vực rộng, xử lý kỹ thuật Bel canto phức tạp với thời gian đào tạo chuyên sâu kéo dài từ 4 đến 5 năm.
Tại sao sinh viên chuyên ngành Sư phạm Âm nhạc tại Lào thường gặp khó khăn trong việc phát âm lời ca?
Sinh viên đến từ nhiều địa phương và thuộc các dân tộc thiểu số khác nhau nên chịu ảnh hưởng sâu sắc của thổ ngữ vùng miền. Tình trạng này khiến khoảng 40% sinh viên mắc tật nói ngọng, mở khẩu hình bị bẹt hoặc nhả chữ không tròn vành khi hát tiếng Lào phổ thông, đòi hỏi phải được rèn luyện khẩu hình chuyên biệt.
Mô hình dạy học hát với sĩ số 60 sinh viên trên một lớp gây ra những hạn chế gì?
Sĩ số 60 sinh viên trong thời lượng 2 tiết mỗi tuần khiến giảng viên không thể bao quát và chỉnh sửa lỗi kỹ thuật lấy hơi, nén hơi hay mở khoang cộng minh cho từng em. Kết quả là trên 70% sinh viên chỉ hát theo phản xạ tự nhiên mà không làm chủ được kỹ năng chuyển giọng khi lên nốt cao.
Những tiêu chí nào được áp dụng khi lựa chọn bài hát bổ sung vào chương trình môn Hát?
Các bài hát được lựa chọn phải đảm bảo tính giáo dục tư tưởng, giai điệu rõ ràng, ít tiết tấu đảo phách phức tạp và có tầm cữ dao động trong khoảng quãng 10 đến quãng 12. Danh mục bao gồm đầy đủ thể loại dân ca, ca khúc phổ thông, bài hát thiếu nhi và tác phẩm quốc tế để phục vụ 100% sinh viên.
Sinh viên cần làm gì để cải thiện kỹ năng ca hát khi tự học tại nhà?
Sinh viên cần dành tối thiểu 30 phút mỗi ngày đứng trước gương để kiểm soát tư thế và nét mặt, thực hành 4 kiểu thở (đặc biệt là thở ngực dưới và bụng), đồng thời ghi âm lại giọng hát để tự đối chiếu với mẫu đàn, giúp khắc phục tình trạng 25% sinh viên bỏ quên việc tự rèn luyện ở nhà.
Kết luận
- Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về dạy học thanh nhạc đại chúng ứng dụng trong đào tạo giáo viên âm nhạc.
- Phân tích sâu sắc thực trạng giảng dạy môn Hát tại Trường Cao đẳng Sư phạm Nghệ thuật Lào trên đội ngũ 26 giảng viên và quy mô 523 sinh viên chuyên ngành.
- Bổ sung danh mục 38 bài hát chuẩn mực, đáp ứng đầy đủ yêu cầu giảng dạy âm nhạc ở các bậc học phổ thông.
- Đề xuất giải pháp chia nhóm 10 đến 15 sinh viên kết hợp rèn luyện 4 kiểu hơi thở, mở khẩu hình và kỹ thuật cộng minh.
- Kiến nghị lộ trình nâng cấp chương trình đào tạo lên 3 năm và chuẩn hóa trình độ thạc sĩ cho giảng viên giai đoạn 2018 - 2020.
Đóng góp cốt lõi của đề tài là xây dựng thành công quy trình sư phạm giúp chuẩn hóa kỹ thuật thanh nhạc trong điều kiện lớp học đông sinh viên. Các cơ sở đào tạo giáo viên nghệ thuật và nhà quản lý giáo dục cần nhanh chóng phê duyệt áp dụng khung bài tập thực nghiệm này vào giảng dạy thực tế để nâng cao toàn diện chất lượng nguồn nhân lực sư phạm âm nhạc.