Tổng quan luận án

Bản luận án tiến sĩ âm nhạc học có tiêu đề "Bổ sung một số đặc điểm hoà âm thế kỷ XX vào chương trình giảng dạy tại Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam", mã số chuyên ngành 62 21 02 01, do nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Loan thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Phạm Tú Hương, bảo vệ tại Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam năm 2019. Luận án thuộc hướng nghiên cứu lý thuyết kết hợp khảo sát thực trạng sư phạm và thực nghiệm giảng dạy ứng dụng trong đào tạo âm nhạc chuyên nghiệp.

Về tính cấp thiết, tác giả trình bày rằng từ đầu thế kỷ XX đến nay, cùng những chuyển biến về văn hóa - xã hội, ngôn ngữ âm nhạc và hòa âm thế giới đã có sự biến đổi sâu sắc, phản ánh hệ thống thẩm mỹ âm thanh và bút pháp riêng biệt của từng trào lưu, tác giả. Tại Việt Nam, nhiều nhạc sĩ cũng đã đưa các ngôn ngữ hòa âm mới vào tác phẩm khí nhạc và giao hưởng. Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam (HVANQGVN) là trung tâm đào tạo âm nhạc chuyên nghiệp hàng đầu, nơi sinh viên các khoa biểu diễn (như Piano, Guitar, Accordeon, các nhạc cụ bộ gỗ, thính phòng, dàn nhạc) đã tiếp cận nhiều tác phẩm âm nhạc thế kỷ XX trong các bài học chuyên ngành, đồng thời lịch sử âm nhạc thế kỷ XX cũng đã được đưa vào môn Lịch sử âm nhạc thế giới. Tuy nhiên, môn Hòa âm tại Học viện vẫn chỉ dừng lại ở phần "Hòa âm cổ điển" (phản ánh quy tắc thế kỷ XVIII - XIX). Thực tế này khiến sinh viên gặp nhiều trở ngại khi phân tích, xử lý kỹ thuật diễn tấu tác phẩm hiện đại, cũng như lúng túng khi tham gia các chương trình hòa tấu giao lưu quốc tế; sinh viên khoa Sáng tác - Chỉ huy - Âm nhạc học gặp khó khăn khi thực hiện các bài viết chuyên ngành liên quan đến ngôn ngữ âm nhạc mới.

Về khoảng trống nghiên cứu, mặc dù từ năm 2013 Học viện đã có chủ trương đưa nội dung hòa âm thế kỷ XX vào giảng dạy cho một số chuyên ngành, nhưng đến thời điểm thực hiện đề tài vẫn chưa được triển khai thành chương trình và giáo trình chính thức. Tại Việt Nam, chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu việc bổ sung các đặc điểm hòa âm thế kỷ XX vào chương trình đào tạo của một cơ sở âm nhạc chuyên nghiệp.

Mục tiêu nghiên cứu của luận án hướng tới việc bổ sung một số kiến thức hòa âm thế kỷ XX vào chương trình giảng dạy sau khi sinh viên kết thúc phần hòa âm cổ điển, nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, đáp ứng nhu cầu thực tiễn và giúp người học cập nhật kiến thức khi biểu diễn hoặc phân tích tác phẩm đương đại.

Đối tượng nghiên cứu của luận án được xác định gồm bốn nhóm nội dung:

  1. Sinh viên hệ đại học của HVANQGVN thuộc chuyên ngành Biểu diễn và chuyên ngành Sáng tác - Chỉ huy - Âm nhạc học.
  2. Chương trình, giáo trình, phương pháp giảng dạy môn Hòa âm tại HVANQGVN.
  3. Một số tác phẩm âm nhạc phương Tây và Việt Nam sử dụng ngôn ngữ hòa âm thế kỷ XX được lựa chọn để đưa vào phần nghiên cứu và bài tập phân tích môn Hòa âm.
  4. Một số nội dung tiêu biểu về hòa âm thế kỷ XX được chọn lọc để đưa vào chương trình giảng dạy tại HVANQGVN.

Phạm vi nghiên cứu của luận án giới hạn trong:

  • Công tác giảng dạy môn Hòa âm cho sinh viên trình độ đại học tại HVANQGVN.
  • Các tác phẩm âm nhạc thế giới và Việt Nam tiêu biểu có sử dụng ngôn ngữ hòa âm thế kỷ XX.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Trong phần tổng quan, tác giả đã khảo cứu hệ thống tài liệu quốc tế và trong nước liên quan trực tiếp đến lý thuyết hòa âm thế kỷ XX và thực tiễn đào tạo chuyên ngành:

Về tài liệu quốc tế, luận án điểm lại các công trình tiêu biểu:

  • Vincent Persichetti với cuốn Twentieth-Century Harmony (1961, Nxb W.W. Norton & Company, 279 trang) và Twentieth-Century Harmony Creative Aspects and Practice, đúc kết có hệ thống đặc điểm ngôn ngữ hòa âm nửa đầu thế kỷ XX.
  • Arnold Schönberg với Theory of Harmony (bản dịch của Roy E. Carter, 1911, tái bản 1949, 1962, Nxb University of California Press và Faber and Faber, 441 trang, 22 chương), trong đó hai chương cuối XXI và XXII (trang 399-422) giới thiệu cấu trúc hợp âm chồng theo quãng bốn và các hợp âm từ sáu nốt trở lên; cùng cuốn Structural Functions of Harmony (1954, tái bản 1983, Nxb Faber and Faber, 201 trang, 12 chương) bàn về chức năng cấu trúc, hòa âm vô định và điệu tính mở rộng.
  • Allen Forte với The Structure of Atonal Music (1973, Yale University Press, 224 trang), nghiên cứu về hệ thống tập hợp lớp cao độ (Pitch-Class Set) trong âm nhạc vô điệu tính.
  • Walter Salmen và Norbert J. Schneider với Der Musikalischer Satz... (1987, Nxb Edition Helbling Inbruck, 290 trang, 19 chương), giáo trình dùng tại Cộng hòa Liên bang Đức; chương X (trang 187-204) trình bày các hiện tượng hòa âm sau năm 1900 như chồng âm quãng bốn, năm, hai, các điệu thức ngũ cung, sắc thái, kỹ thuật mười hai âm (Dodecaphone), chuỗi (Serialitaet), ngẫu nhiên (Aleatorik), điện tử (Elektronische Musik) và tối giản (Minimal-Musik).
  • Ludmila Ulehla với Contemporary Harmony Romanticism through the Twelve - Tone Row (1994, Advance Music, 534 trang, 6 phần, 22 chương), phân tích ảnh hưởng của điệu thức, cấu trúc hợp âm chín, mười một, mười ba và kỹ thuật mười hai âm.
  • Stefan Kostka và Dorothy Payne với Tonal Harmony with an introduction to twentieth-century music (2004, Nxb McGraw-Hill, 669 trang, 28 chương) kèm sách bài tập Workbook (330 trang), dành chương cuối dài 80 trang và 44 trang bài tập thực hành phân tích hòa âm thế kỷ XX (chồng âm quãng hai, quãng bốn, cluster, đa nhịp của Debussy, Ravel, Hindemith, Stravinsky, Bartók, Milhaud, Copland).
  • Sten Ingelf với Learn from the Masters - Classical Harmony Textbook (2010, Nxb Sting Music, 222 trang, 7 chương), tài liệu phổ biến ở khối Bắc Âu (Scandinavia); chương VII chuyên sâu về hòa âm thế kỷ XX (quartal/quintal, modal, whole-tone scales, synthetic scales, thang âm dân gian, polychords, superimposed seconds, chords with added notes, kỹ thuật 12 âm).

Về tài liệu trong nước, tác giả phân tích thực trạng sách giáo khoa và các công trình nghiên cứu:

  • Các giáo trình giảng dạy tại HVANQGVN chủ yếu dịch từ tiếng Nga: Sách giáo khoa hoà âm của bốn tác giả Nga (I.Xôcolop, Lý Trọng Hưng dịch, Nxb Văn hoá - Nghệ thuật, 1963, 2 tập gồm 59 chương); Sách hợp tuyển để phân tích hoà âm của X.Cơrepcôv (Nguyễn Xinh dịch, Nhạc viện Hà Nội, 1985); Sách giáo khoa hoà âm của IU.Chulin (Ca Lê Thuần dịch, Nhạc viện TP. Hồ Chí Minh, 1978, 1987, 2 tập). Các giáo trình này đều dừng lại ở hòa âm cổ điển thế kỷ XVIII - XIX.
  • Cuốn Giáo trình hoà thanh (Bậc đại học) của GS.TS. Phạm Minh Khang (Trung tâm Thông tin - Thư viện âm nhạc xuất bản, 2005, 115 trang) có chương IV giới thiệu sơ khảo thủ pháp hòa âm thế kỷ XX (Debussy, Scriabin, Ravel, Bartók, Prokofiev, Hindemith, Schostakovich), song chủ yếu phục vụ bậc cao học.
  • Các luận án, luận văn liên quan: Luận án Phó tiến sĩ của Đào Trọng Minh (1990) về cấu trúc ngôn ngữ hòa âm; luận án của Phạm Phương Hoa (2010) về thủ pháp sáng tác một số trường phái thế kỷ XX; luận án của Vũ Đình Thạch (2009 - kèn Clarinette), Ngô Phương Đông (2011 - kèn Hautbois), Cao Sĩ Anh Tùng (2015 - nghệ thuật Guitar đương đại), Nguyễn Thị Hà (2017 - Guitar Việt Nam), Vũ Tú Cầu (2017 - giao hưởng Việt Nam sau 1975). Các luận văn thạc sĩ của Nguyên Vũ (1999), Nguyễn Mỹ Hạnh (2000), Phạm Nghiêm Việt Anh (2007), Nguyễn Thanh Nhã (2015), Đặng Huyền Trang (2015).

Khoảng trống mà luận án lựa chọn giải quyết là: trong khi các công trình trong nước trước đây chỉ tiếp cận hòa âm thế kỷ XX dưới góc độ phân tích tác phẩm đơn lẻ, nghiên cứu thủ pháp sáng tác hoặc phục vụ đào tạo một nhạc cụ cụ thể, thì luận án này trực tiếp giải quyết bài toán thiết kế nội dung, biên soạn chương trình và thử nghiệm phương pháp giảng dạy hòa âm thế kỷ XX có hệ thống cho sinh viên đại học tại HVANQGVN.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết của đề tài dựa trên sự phát triển của ngôn ngữ hòa âm phương Tây từ nguyên lý khoa học do J. Rameau (1683-1764) đúc kết đến các biến đổi của trường phái Cổ điển, Lãng mạn và sự xuất hiện các khuynh hướng mới ở thế kỷ XX. Khung phân tích khái niệm và thuật ngữ được tác giả xác lập bao gồm:

  • Các khái niệm cấu trúc điệu thức và hòa âm: Atonal (vô điệu tính); Aleatorik musik (âm nhạc ngẫu nhiên); Tone clusters (chồng âm chùm nốt xếp theo quãng hai); Elektronische Musik (âm nhạc điện tử); Hexatonic scale (thang sáu âm trưởng và thứ); Pentatonic scale (thang năm âm); Leading note chords (hợp âm dẫn bậc VII); Microtonal (âm nhạc vi quãng nhỏ hơn nửa cung); Serialitaet (phương pháp sáng tác theo chuỗi 12 âm); các khái niệm quãng tăng, hợp âm tăng, quãng giảm, hợp âm giảm.
  • Bảng ký hiệu hợp âm theo hệ thống Anh - Mỹ: C (trưởng), Cm (thứ), Caug/C(#5)/C+ (tăng), Cdim/Co (giảm), Csus2, C(add2)/C(add9), Cm(add2)/Cm(add9), Csus4, C(b5), C6, Cm6, C7, Cmaj7/CM7, Cm7/C-7, Co7/Cdim7, C7sus4, Cm(maj7), C7#5/C7+, C7b5/C7-5, Cm7b5, Cmaj7b5.

Phương pháp nghiên cứu thực tế gồm:

  1. Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Phân tích, so sánh, quy nạp, đối chiếu, tổng hợp các kiến thức hòa âm thế kỷ XX từ tài liệu nước ngoài nhằm tìm ra nội dung cốt lõi; phân tích, đánh giá chương trình, giáo trình đã có tại HVANQGVN; đúc kết kinh nghiệm giảng dạy của các thế hệ giảng viên (Lê Yên, Ca Lê Thuần, Phạm Tú Hương, Nguyễn Thụy Loan, Phạm Minh Khang).
  2. Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm sư phạm: Tổ chức giảng dạy thực nghiệm một số nội dung hòa âm thế kỷ XX cho sinh viên các chuyên ngành khác nhau tại HVANQGVN để kiểm chứng tính khả thi của chương trình, phương pháp giảng dạy và khả năng tiếp thu của người học.
  3. Phương pháp phỏng vấn và lấy ý kiến chuyên gia: Phỏng vấn trực tiếp các nhạc sĩ, giảng viên tiền bối (Vĩnh Cát, Hồng Đăng, Ca Lê Thuần, Phạm Tú Hương) về lịch sử đào tạo bộ môn; trao đổi chuyên môn trực tiếp và qua thư điện tử với các giáo sư quốc tế (Johannes Fritsch, Bernd Asmus, Bernhard Wulff, Phan Quang Phục, Sten Ingelf, Staffan Storm).

Nguồn tư liệu nghiên cứu gồm các chương trình, đề cương, giáo trình và đề thi môn Hòa âm lưu hành tại HVANQGVN; sách giáo khoa hòa âm của các nhạc viện tại Mỹ, Đức, Thụy Điển; cùng các bản tổng phổ, trích đoạn tác phẩm khí nhạc phương Tây và Việt Nam thế kỷ XX.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận - Tổng quan tình hình nghiên cứu và thực trạng dạy hoà âm ở HVANQGVN

Chương 1 làm rõ vai trò của môn Hòa âm trong chương trình đào tạo âm nhạc chuyên nghiệp từ bậc trung cấp đến đại học. Tác giả khảo cứu quá trình phát triển bộ môn từ khi thành lập Trường Âm nhạc Việt Nam năm 1956:

  • Ban đầu, trường có 7 cán bộ (Tạ Phước, Lê Yên, Tô Vũ, Thái Thị Liên, Vũ Tuấn Đức, Doãn Mẫn, Lều Thọ Hợp). Người dạy hòa âm đầu tiên là nhạc sĩ Lê Yên (sử dụng tài liệu dịch từ cuốn sách của tác giả Pháp Dubois Lavignac). Khóa đầu tốt nghiệp năm 1959, nhạc sĩ Hồng Đăng được giữ lại dạy môn Hòa âm, giảng dạy theo sách của Rimsky-Korsakov do Nguyễn Lương Hồng dịch (1961).
  • Năm 1964, các giảng viên đào tạo ở nước ngoài về trường (Tú Ngọc, Nguyễn Đình Tấn, Nguyễn Xinh, Ca Lê Thuần). Nhạc sĩ Ca Lê Thuần xây dựng chương trình, viết giáo trình và giảng dạy bài bản cho chuyên ngành Sáng tác - Chỉ huy dựa trên chương trình các nhạc viện Liên Xô, tập trung vào hòa âm cổ điển. Sau năm 1975, bộ môn do các giảng viên Nguyễn Thụy Loan, Phạm Minh Khang, Phạm Tú Hương tiếp quản.
  • Tổ môn Hòa âm - Lý thuyết - Phức điệu tại thời điểm nghiên cứu gồm 5 giảng viên cơ hữu và 2 cộng tác viên, đảm nhiệm 3 môn học; định mức giờ chuẩn là 16 tiết/tuần (8 lớp).

Về thực trạng chương trình và giáo trình, tác giả thống kê cấu trúc đào tạo môn Hòa âm tại HVANQGVN như sau:

Bậc đào tạo Đối tượng chuyên ngành Phân bổ thời lượng Nội dung trọng tâm Hình thức thi và đánh giá
Trung cấp Nhóm ngành Biểu diễn 1 năm (2 học kỳ: kỳ I và II năm thứ 2; 2 tiết/tuần, 28 tuần = 56 tiết) Kỳ I: Hợp âm 3 chính ở thể gốc và đảo, hợp âm 7 át và các thể đảo; Kỳ II: Hợp âm phụ (SII, SII7, TSVI, DVII7, DTIII), D9, SII9, điệu thứ tự nhiên, vòng Frigien, mô tiến Diatonic Kỳ I: Phối công năng bài 8 nhịp 2/4; Kết thúc môn: Phối công năng bài 8 nhịp 3/4 và phân tích hòa âm
Trung cấp Sáng tác - Chỉ huy - Âm nhạc học 2 năm (4 học kỳ lý thuyết năm thứ 2 và 3 = 112 tiết; 2 học kỳ trên đàn năm thứ 3 = 84 tiết) Kỳ I-II: Cơ bản; Kỳ III: Diatonic, nhóm át kép (DD); Kỳ IV: Ly điệu, chuyển điệu công năng cấp I từ giọng gốc trưởng và thứ Phối hòa âm cho giai điệu (đoạn 2 câu có ly điệu và chuyển điệu) và phân tích hòa âm
Đại học Nhóm ngành Biểu diễn 1 năm (2 học kỳ năm thứ nhất, 60 tiết) Diatonic, át kép trong cơ cấu và vòng kết, ly điệu, chuyển điệu công năng cấp I Kiểm tra giữa kỳ: Phối công năng 8 nhịp 3/4; Thi tốt nghiệp môn: Phối công năng đoạn 2 câu có ly điệu, chuyển điệu, át kép
Đại học Sáng tác - Chỉ huy - Âm nhạc học 1,5 năm môn Hòa âm (3 học kỳ năm thứ nhất và kỳ I năm thứ hai = 90 tiết); 1 năm Hòa âm trên đàn (2 học kỳ năm thứ hai = 60 tiết) Kỳ I: Diatonic, át kép, chuyển điệu cấp I, khái quát cấp II-III; Kỳ II: Chuyển điệu cấp II, cấp III, chuyển điệu đẳng âm; Kỳ III: Chuyển điệu đẳng âm qua DVII7, D7, III+, VI giáng, II giáng Napoliten, chuyển điệu giai điệu hòa âm Thi viết (phối giai điệu hoặc sáng tác đoạn nhạc có chuyển điệu) kết hợp thi vấn đáp (xét theo 3 mức: Tốt, Đạt, Không đạt)

Về phương pháp giảng dạy và kiểm tra: Bộ môn áp dụng 3 phương pháp chính gồm thuyết trình, trực quan (minh họa bảng và đàn piano), thực hành (phối bài cho Soprano, Basse, công năng; phân tích hòa âm từ sách của X.Cơrepcôv; thực hành trên đàn piano). Toàn bộ nội dung và giáo trình đều dừng lại ở phong cách Cổ điển - Lãng mạn, hoàn toàn thiếu vắng mảng hòa âm thế kỷ XX.

Chương 2: Khái quát về hoà âm thế kỷ XX và việc giảng dạy hoà âm thế kỷ XX ở một số nước trên thế giới

Chương 2 tổng hợp các kiến thức cốt lõi của hòa âm thế kỷ XX và khảo sát kinh nghiệm đào tạo quốc tế:

  • Khái quát lý thuyết hòa âm thế kỷ XX:
    • Các dạng điệu thức thường gặp: Điệu thức toàn cung (Whole-tone), điệu thức ngũ cung (Pentatonic), thang sáu âm (Hexatonic), các điệu thức nhà thờ (Modal scales), thang âm bắt nguồn từ âm nhạc dân gian và các điệu thức nhân tạo (Synthetic scales).
    • Các dạng cấu trúc hợp âm - chồng âm: Hợp âm chồng quãng bốn (Quartal harmony), hợp âm chồng quãng năm (Quintal harmony), hợp âm chồng quãng hai (Superimposed seconds), chùm âm (Tone clusters), hợp âm thêm nốt (Chords with added notes), hợp âm dẫn (Leading note chords) và đa hợp âm/hợp âm phức (Polychords).
    • Các thủ pháp hòa âm: Hòa âm vô điệu tính (Atonal), kỹ thuật mười hai âm (Twelve-tone technique / Serialism), đa điệu tính (Polytonality), sự chuyển dịch song song của các khối hợp âm.
  • Khảo sát việc giảng dạy tại một số nước:
    • Tại Mỹ: Khảo sát chương trình đào tạo sử dụng các giáo trình của Vincent Persichetti, Stefan Kostka & Dorothy Payne, Allen Forte; chú trọng gắn kết lý thuyết với phân tích tác phẩm của Debussy, Ravel, Stravinsky, Bartók, Hindemith, Copland và hệ thống bài tập thực hành ứng dụng (workbook).
    • Tại Châu Âu và Châu Á: Khảo sát tại Cộng hòa Liên bang Đức thông qua giáo trình của Walter Salmen & Norbert J. Schneider, phương pháp tiếp cận âm nhạc mới (Neuer Musik) thông qua nghe tác phẩm tại studio và tiếp cận các festival âm nhạc đương đại; khảo sát tại Thụy Điển và khối Scandinavia thông qua giáo trình của Sten Ingelf tại Học viện Âm nhạc Malmo, tích hợp hòa âm thế kỷ XX vào chương trình chính khóa thông qua phân tích tác phẩm cụ thể.

Chương 3: Thử nghiệm giảng dạy hoà âm thế kỷ XX cho sinh viên đại học tại Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam

Chương 3 trình bày phương án ứng dụng cụ thể vào thực tiễn HVANQGVN:

  • Dự kiến bổ sung chương trình:
    • Tiêu chí lựa chọn: Lựa chọn những nội dung tiêu biểu, có tính hệ thống nhưng cô đọng, dễ hiểu, phù hợp với thời lượng môn học và mặt bằng kiến thức hòa âm của sinh viên.
    • Thời lượng và phân bổ: Bố trí nội dung hòa âm thế kỷ XX vào giai đoạn sau khi sinh viên hoàn thành phần hòa âm cổ điển, tích hợp vào học kỳ cuối của chương trình môn học ở bậc đại học.
    • Biên soạn giáo trình và ngữ liệu: Xây dựng bài giảng dựa trên sự kết hợp tài liệu của Persichetti, Kostka & Payne, Sten Ingelf; sử dụng hệ thống ký hiệu hợp âm Anh - Mỹ; tuyển chọn các đoạn trích tác phẩm âm nhạc phương Tây và tác phẩm khí nhạc Việt Nam sử dụng ngôn ngữ hòa âm mới làm bài tập phân tích.
  • Đổi mới phương pháp giảng dạy và kiểm tra đánh giá:
    • Phương pháp dạy học: Tăng cường trực quan âm thanh (nghe bản thu kết hợp đàn thị phạm trên piano); dịch chuyển trọng tâm từ việc viết bài tập bốn bè trên giấy sang kỹ năng phân tích cấu trúc hòa âm trong tác phẩm thực tế.
    • Phương pháp kiểm tra: Đưa câu hỏi nhận diện cấu trúc chồng âm, điệu thức mới và bài tập phân tích trích đoạn tác phẩm thế kỷ XX vào đề thi kết thúc học phần.
  • Thực nghiệm sư phạm:
    • Mục đích: Kiểm chứng tính khả thi của nội dung lựa chọn, phương pháp giảng dạy và mức độ tiếp thu của sinh viên.
    • Đối tượng và tổ chức: Tiến hành dạy thực nghiệm trên các nhóm sinh viên đại học chuyên ngành Biểu diễn và chuyên ngành Sáng tác - Chỉ huy - Âm nhạc học tại HVANQGVN.
    • Kết quả: Sinh viên nắm bắt được các dạng cấu trúc chồng âm phi truyền thống (quãng bốn, quãng hai, cluster, đa hợp âm), hiểu được nguyên lý điệu thức thế kỷ XX; kết quả bài kiểm tra phân tích cho thấy sinh viên tiếp thu thuận lợi và cải thiện khả năng đọc bản nhạc khi học chuyên ngành biểu diễn.

Kết quả và những đóng góp mới

Bản luận án tự nêu các đóng góp mới về mặt lý luận và thực tiễn:

Về mặt lý luận:

  • Tổng kết, hệ thống hóa ngôn ngữ hòa âm thế kỷ XX thông qua ba bình diện chính: các dạng điệu thức thường gặp, các dạng cấu trúc hợp âm - chồng âm (ngoài cấu trúc quãng ba truyền thống), và các thủ pháp hòa âm đặc trưng.
  • Xác lập cơ sở khoa học và luận cứ thực tiễn cho việc đưa nội dung hòa âm thế kỷ XX vào chương trình giảng dạy môn Hòa âm bậc đại học tại HVANQGVN, đáp ứng yêu cầu đào tạo âm nhạc chuyên nghiệp trong giai đoạn mới.

Về mặt thực tiễn:

  • Thiết kế nội dung và khung chương trình bổ sung phần hòa âm thế kỷ XX cho bậc đại học tại HVANQGVN, góp phần khắc phục khoảng trống của chương trình vốn chỉ dạy hòa âm cổ điển suốt nhiều thập kỷ.
  • Đề xuất đổi mới phương pháp giảng dạy (kết hợp phân tích tác phẩm với nghe âm thanh thực tế) và phương pháp kiểm tra - đánh giá tương thích với ngôn ngữ âm nhạc đương đại.
  • Cung cấp tài liệu tham khảo với bảng ký hiệu hợp âm chuẩn hóa theo hệ thống Anh - Mỹ, giúp sinh viên tiếp cận thuận lợi với hệ thống tài liệu và bản phổ quốc tế.
  • Gợi mở tư duy sáng tác cho sinh viên chuyên ngành Sáng tác trong việc kết hợp các yếu tố âm nhạc truyền thống dân tộc với các thủ pháp hiện đại; đồng thời hỗ trợ sinh viên các chuyên ngành biểu diễn tiếp cận sâu sắc hơn với tác phẩm khi phân tích cấu trúc, tìm hiểu phong cách tác giả và xử lý kỹ thuật diễn tấu.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất:

  • Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam cần xem xét phê duyệt chính thức việc đưa nội dung hòa âm thế kỷ XX vào khung chương trình đào tạo đại học.
  • Biên soạn và ấn hành giáo trình hòa âm thế kỷ XX hoàn chỉnh dùng cho các hệ đào tạo tại Học viện.
  • Bổ sung tài liệu chuyên khảo, bản phổ âm nhạc đương đại, đĩa CD/DVD và trang thiết bị nghe nhìn cho thư viện; tạo điều kiện cho đội ngũ giảng viên tham gia các khóa tập huấn, hội thảo và chương trình trao đổi học thuật quốc tế.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về hạn chế, luận án xác định rõ:

  • Do quỹ thời lượng dành cho môn Hòa âm trong khung chương trình đào tạo đại học tương đối khiêm tốn và mặt bằng kiến thức hòa âm của sinh viên còn hạn chế, nghiên cứu chỉ lựa chọn bổ sung "một số đặc điểm" tiêu biểu, đơn giản và dễ tiếp thu; chưa thể bao quát toàn bộ các kỹ thuật sáng tác phức tạp của nửa sau thế kỷ XX (như âm nhạc vi quãng microtonal chuyên sâu, âm nhạc điện tử Elektronische Musik, hay các cấu trúc ngẫu nhiên phức hợp).
  • Quy mô thực nghiệm sư phạm mới dừng lại ở một số nhóm lớp đại học tại HVANQGVN, chưa triển khai diện rộng trên toàn bộ các khóa học và chưa thực hiện tại các cơ sở đào tạo âm nhạc khác trong cả nước.

Về hướng nghiên cứu tiếp:

  • Tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện và biên soạn thành bộ giáo trình chính thức kèm sách bài tập thực hành phân tích hòa âm thế kỷ XX cho bậc đại học.
  • Mở rộng phạm vi ứng dụng và chuyển giao chương trình sang các cơ sở đào tạo âm nhạc chuyên nghiệp khác như Nhạc viện Thành phố Hồ Chí Minh và Học viện Âm nhạc Huế.
  • Nghiên cứu xây dựng học phần chuyên sâu về hòa âm nửa sau thế kỷ XX cho bậc đào tạo sau đại học (Thạc sĩ, Tiến sĩ) chuyên ngành Âm nhạc học và Sáng tác.

Giá trị tham khảo

Bản luận án có giá trị tham khảo thiết thực cho nhiều nhóm đối tượng trong lĩnh vực đào tạo âm nhạc:

  • Giảng viên giảng dạy các môn Kiến thức âm nhạc (Hòa âm, Phân tích tác phẩm, Lịch sử âm nhạc, Phức điệu) tại các nhạc viện và học viện âm nhạc: sử dụng khung nội dung, phương pháp tiếp cận và hệ thống bài tập phân tích để cập nhật giáo án bài giảng.
  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học chuyên ngành Âm nhạc học: nguồn tư liệu học thuật về lịch sử hình thành bộ môn Hòa âm tại Việt Nam và tổng quan hệ thống lý thuyết hòa âm phương Tây thế kỷ XX.
  • Sinh viên chuyên ngành Sáng tác, Chỉ huy: tham khảo các dạng cấu trúc chồng âm phi truyền thống và phương pháp tích hợp ngôn ngữ hiện đại với thang âm dân gian.
  • Sinh viên chuyên ngành Biểu diễn (Piano, Guitar, Accordeon, Dây, Hơi, Thanh nhạc): nắm bắt tư duy phân tích hình thức, nhận diện các điểm ngắt câu đoạn và vòng kết hòa âm mới để thể hiện tác phẩm đương đại chính xác về mặt phong cách.
  • Phần đáng tham khảo nhất trong văn bản: Danh mục thuật ngữ và bảng ký hiệu hợp âm theo hệ thống Anh - Mỹ (phần đầu luận án); tư liệu lịch sử phát triển môn Hòa âm từ năm 1956 và bảng phân phối chương trình chi tiết (Chương 1); tổng quan khảo cứu các giáo trình quốc tế của Persichetti, Schönberg, Forte, Salmen, Ingelf (Chương 2); cùng đề xuất khung bài giảng và bài tập phân tích tác phẩm (Chương 3).

Câu hỏi thường gặp

Trước khi luận án được công bố, môn Hòa âm tại HVANQGVN được giảng dạy dựa trên những tài liệu và giáo trình chính nào?
Chương trình giảng dạy môn Hòa âm tại Học viện chủ yếu dựa trên Sách giáo khoa hoà âm của bốn tác giả Nga (I.Xôcolop do Lý Trọng Hưng dịch, 1963, 2 tập) và Sách hợp tuyển để phân tích hoà âm của X.Cơrepcôv do Nguyễn Xinh dịch (1985). Ngoài ra có tham khảo sách giáo khoa của IU.Chulin do Ca Lê Thuần dịch (1978, 1987) và các tập bài tập của Phạm Tú Hương, Vũ Nhật Thăng, Phạm Minh Khang, Hoàng Hoa, Trương Ngọc Bích. Tất cả các tài liệu này đều tập trung vào kiến thức hòa âm thời kỳ Cổ điển - Lãng mạn thế kỷ XVIII - XIX.

Chương trình môn Hòa âm bậc đại học tại HVANQGVN có sự phân bổ thời lượng khác nhau như thế nào giữa các khối ngành?
Khối chuyên ngành Biểu diễn học trong 1 năm (2 học kỳ ở năm thứ nhất, tổng số 60 tiết), nội dung học hết phần chuyển điệu công năng cấp I. Khối chuyên ngành Sáng tác - Chỉ huy - Âm nhạc học học môn Hòa âm lý thuyết trong 3 học kỳ (năm thứ nhất và kỳ I năm thứ hai, tổng số 90 tiết) học hết chuyển điệu cấp II, cấp III và chuyển điệu đẳng âm; đồng thời học thêm môn Hòa âm trên đàn trong 2 học kỳ ở năm thứ hai (tổng số 60 tiết).

Những giáo trình quốc tế tiêu biểu nào về hòa âm thế kỷ XX được tác giả khảo cứu chi tiết trong luận án?
Tác giả khảo cứu chi tiết 7 giáo trình và công trình quốc tế gồm: Twentieth-Century Harmony của Vincent Persichetti (1961), Theory of Harmony (1911) và Structural Functions of Harmony (1954) của Arnold Schönberg, The Structure of Atonal Music của Allen Forte (1973), Der Musikalischer Satz... của Walter Salmen & Norbert J. Schneider (1987), Contemporary Harmony Romanticism through the Twelve - Tone Row của Ludmila Ulehla (1994), Tonal Harmony with an introduction to twentieth-century music của Stefan Kostka & Dorothy Payne (2004), và Learn from the Masters - Classical Harmony Textbook của Sten Ingelf (2010).

Những dạng cấu trúc chồng âm phi truyền thống nào của thế kỷ XX được tác giả lựa chọn để nghiên cứu đưa vào giảng dạy?
Tác giả tập trung vào các dạng cấu trúc không tuân theo nguyên tắc xếp quãng ba cổ điển, bao gồm: hợp âm chồng quãng bốn (quartal harmony), hợp âm chồng quãng năm (quintal harmony), hợp âm chồng quãng hai (superimposed seconds), chùm âm (tone clusters), hợp âm thêm nốt (chords with added notes), hợp âm dẫn (leading note chords) và các dạng hợp âm phức/đa hợp âm (polychords).

Việc bổ sung kiến thức hòa âm thế kỷ XX giải quyết khó khăn thực tế nào cho sinh viên các khoa biểu diễn tại Học viện?
Sinh viên các khoa biểu diễn (như Piano, Guitar, Accordeon, kèn gõ, dây) khi diễn tấu tác phẩm hiện đại thường gặp khó khăn trong việc nhận diện hòa âm, phân câu, phân đoạn do thiếu kiến thức về các hệ thống điệu thức mới và cấu trúc chồng âm phi truyền thống. Việc bổ sung kiến thức này giúp sinh viên hiểu rõ cấu trúc tác phẩm, nhận diện các vòng kết hòa âm để xử lý phân câu hợp lý, nâng cao hiệu quả biểu cảm và tự tin hơn khi tham gia các chương trình hòa tấu giao lưu quốc tế.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Loan đã khảo cứu toàn diện thực trạng giảng dạy môn Hòa âm tại Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam trong tiến trình lịch sử từ năm 1956 đến nay, đồng thời đối chiếu với kinh nghiệm sư phạm của nhiều cơ sở đào tạo âm nhạc quốc tế. Bằng việc phân tích các đặc trưng cốt lõi về điệu thức, cấu trúc chồng âm và thủ pháp hòa âm thế kỷ XX, tác giả đã xây dựng phương án bổ sung chương trình và đổi mới phương pháp giảng dạy mang tính ứng dụng thực tiễn cho bậc đại học. Kết quả nghiên cứu và thực nghiệm sư phạm khẳng định tính khả thi của đề xuất, góp phần giải quyết khoảng trống trong đào tạo hòa âm chuyên nghiệp và hỗ trợ thiết thực cho sinh viên trong diễn tấu, phân tích cũng như sáng tác âm nhạc.