Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ chuyên ngành Lý luận và Phương pháp dạy học Âm nhạc (mã số: 9140111) với đề tài "Dạy học hát Bài chòi và Lý Quảng Nam cho học sinh trung học cơ sở" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Trương Quang Minh Đức, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Hà Thị Hoa và PGS.TS Nguyễn Ngọc Hòa, bảo vệ tại Trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương năm 2022.

+-------------------------------------------------------------------------------+
| THÔNG TIN CHUNG VỀ LUẬN ÁN                                                    |
+-------------------+-----------------------------------------------------------+
| Tác giả           | Trương Quang Minh Đức                                     |
| Chuyên ngành      | Lý luận và phương pháp dạy học Âm nhạc (Mã số: 9140111)  |
| Cơ sở đào tạo     | Trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương              |
| Người hướng dẫn   | 1. PGS.TS Hà Thị Hoa; 2. PGS.TS Nguyễn Ngọc Hòa           |
| Năm hoàn thành    | 2022                                                      |
+-------------------+-----------------------------------------------------------+

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Quảng Nam là vùng đất sở hữu kho tàng văn hóa dân gian phong phú, nổi bật với nghệ thuật Bài chòi và hệ thống các điệu Lý. Tuy nhiên, trước sự phát triển của các trào lưu âm nhạc hiện đại, một bộ phận học sinh trung học cơ sở (THCS) tại địa phương có biểu hiện xa rời các giá trị âm nhạc cổ truyền. Bên cạnh đó, đội ngũ nghệ nhân cao tuổi nắm giữ kỹ thuật luyến láy, nhả chữ và phong cách diễn xướng đặc trưng ngày càng mai một.

Dù các cấp quản lý giáo dục tại Quảng Nam đã có chủ trương khuyến khích đưa dân ca vào nhà trường, song hoạt động này vẫn mang tính tự phát, thiếu quy trình bài bản và hệ thống tài liệu chuẩn mực. Phần lớn các công trình trước đây chỉ tập trung nghiên cứu Bài chòi và Lý ở góc độ lịch sử, văn hóa hoặc phục vụ đào tạo diễn viên chuyên nghiệp tại các trường văn hóa nghệ thuật. Khoảng trống sư phạm về việc hệ thống hóa phương pháp dạy học hai thể loại này cho đối tượng học sinh phổ thông bậc THCS là cơ sở để tác giả lựa chọn đề tài.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu tổng quát là đề xuất hệ thống biện pháp dạy học hát Bài chòi và Lý Quảng Nam phù hợp với đối tượng học sinh THCS tại tỉnh Quảng Nam theo định hướng phát triển phẩm chất và năng lực, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục âm nhạc địa phương và bảo tồn di sản văn hóa truyền thống.

Luận án xác định 3 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Xác định cơ sở lý luận về dạy học hát dân ca Bài chòi và Lý Quảng Nam cho học sinh THCS.
  2. Khảo sát, đánh giá thực trạng (những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân) của việc dạy và học Bài chòi, Lý Quảng Nam tại các trường THCS trên địa bàn tỉnh Quảng Nam.
  3. Nghiên cứu, xây dựng và thực nghiệm các biện pháp sư phạm nhằm nâng cao chất lượng dạy học hát hai thể loại dân ca này cho học sinh THCS.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Khách thể nghiên cứu: Hoạt động dạy học dân ca Bài chòi và Lý Quảng Nam cho học sinh THCS.
  • Đối tượng nghiên cứu: Nội dung chương trình, phương pháp giảng dạy, hình thức tổ chức dạy học, hoạt động kiểm tra đánh giá và các biện pháp rèn luyện kỹ năng ca hát Bài chòi, Lý cho học sinh THCS.
  • Phạm vi không gian: Các trường THCS trên địa bàn tỉnh Quảng Nam, khảo sát cụ thể tại Trường Phổ thông Dân tộc Nội trú (PTDTNT) THCS Nam Giang, Trường THCS Phan Đình Phùng, Trường THCS Ông Ích Khiêm, Trường THCS Huỳnh Thị Lựu và Trung tâm Văn hóa - Thể thao Thành phố Hội An.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào hai thể loại dân ca đặc trưng của địa phương là Bài chòi và Lý; không đi sâu vào các thể loại dân ca khác.
  • Thời gian và bối cảnh: Nghiên cứu thực hiện trong giai đoạn 2015 – 2022, bám sát quá trình chuyển giao giữa Chương trình Giáo dục phổ thông 2006 và Chương trình Giáo dục phổ thông 2018.

Giả thuyết khoa học

Nếu lựa chọn được các làn điệu Bài chòi và Lý Quảng Nam phù hợp để đưa vào chương trình dạy học (chủ yếu thông qua hoạt động ngoại khóa và phân môn học hát), kết hợp đổi mới phương pháp giảng dạy theo hướng trải nghiệm, khám phá và tích hợp các kỹ thuật luyện giọng, vận động cơ thể thì sẽ nâng cao hứng thú học tập, phát triển năng lực âm nhạc của học sinh THCS, đồng thời thực hiện hiệu quả công tác bảo tồn di sản văn hóa địa phương.


Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tác giả đã phân loại và điểm luận các công trình nghiên cứu đi trước theo hai nhóm nội dung chính:

Các công trình nghiên cứu về Bài chòi và Lý Quảng Nam

  • Về nghệ thuật Bài chòi:
    • Trương Đình Quang với Ca nhạc Bài chòi - Ca nhạc kịch hát bài chòi (2009) đã phân tích 11 chương về lịch sử, nghệ thuật ngôn từ, nhịp điệu (tương ứng nhịp 4/4, mỗi câu gồm 2 nhịp với 1 phách lặng và 3 phách gõ) và kỹ thuật xuống hò kết trổ. Công trình Men rượu Hồng Đào (2004/2005) của cùng tác giả cung cấp bản ký âm và phân tích 4 làn điệu cốt lõi: Xuân nữ, Nam xuân, Xàng xê và Hò Quảng.
    • Hoàng Chương (chủ biên) với Bài chòi và dân ca liên khu 5 (2007) hệ thống hóa nghệ thuật Bài chòi từ trò chơi dân gian đến hình thức sân khấu kịch hát.
    • Kỷ yếu Hội thảo quốc tế "Nghệ thuật Bài chòi dân gian Việt Nam và những hình thức nghệ thuật tương đồng trên thế giới" (Viện Âm nhạc, 2015) tập hợp 22 bài viết của các tác giả trong và ngoài nước (Nguyễn Kiểm, Nguyễn Thụy Loan, Nguyễn Vương Hoàng, Yves Defrance, Trần Quang Hải, Huỳnh Đình Kết, Cái Thị Vương, Lê Văn Hoa, Mai Thìn, Trần Hồng, Nguyễn Văn Ngọc, Nguyễn An Pha, Seong-Yong Park), làm rõ giá trị âm nhạc học và không gian diễn xướng của Bài chòi miền Trung.
  • Về điệu Lý Quảng Nam:
    • Lê Văn Hảo (1980) với bài viết Tâm hồn Việt Nam qua một hệ thống dân ca quen thuộc và phổ biến đã khảo sát 19 điệu Lý con sáo, so sánh dị bản Lý con sáo Quảng với các vùng miền khác, chỉ ra tính chất lạc quan, mộc mạc và biến chuyển tiết tấu của dân ca Nam Trung Bộ.
    • Trần Hồng (1997) trong Dân ca Đất Quảng sưu tầm, ký âm 44 bài dân ca địa phương thuộc các thể loại đồng dao, hát ru, hò và lý (Lý thương nhau, Lý quân canh, Lý đi chợ, Lý bình, Lý năm canh...).

Các công trình nghiên cứu về lý luận và phương pháp dạy học âm nhạc

  • Hoàng Lê (chủ biên, 2005) với giáo trình Nghệ thuật ca kịch Bài chòi (Trường Trung học Văn hóa Nghệ thuật Bình Định) xác lập quy trình 2 bước: luyện thanh - luyện giọng điệu (rung, luyến) và giảng dạy 6 làn điệu cơ bản (Xuân nữ cổ, Xuân nữ mới, Xàng xê dựng, Xàng xê lụy, Nam xuân, Hò Quảng) dành cho đào tạo diễn viên trung cấp.
  • Ngô Thị Nam (2003) trong giáo trình Hát phân loại đặc điểm giọng hát học sinh THCS thành hai nhóm: lứa tuổi trước dậy thì (lớp 6, 7) và lứa tuổi dậy thì (lớp 8, 9), đưa ra các hướng dẫn về âm vực thuận lợi và kỹ thuật nhả chữ trong hát dân ca.
  • Hoàng Long – Hoàng Lân (2005) trong Phương pháp dạy học Âm nhạc trình bày hệ thống phương pháp dạy hát, đọc nhạc, cảm thụ âm nhạc và tổ chức ngoại khóa âm nhạc ở trường phổ thông.
  • Lê Anh Tuấn (2007/2010) với Phương pháp dạy học âm nhạc định hình cấu trúc hoạt động sư phạm âm nhạc theo hướng tích cực hóa người học.
  • Phạm Trọng Toàn (2015) với bài báo Giáo dục Âm nhạc dân tộc trong Câu lạc bộ Âm nhạc ở trường Trung học Cơ sở đề xuất mô hình câu lạc bộ như một phương thức bảo tồn và phát huy dân ca hiệu quả ngoài giờ chính khóa.

Vị trí và khoảng trống luận án giải quyết

Các nghiên cứu về Bài chòi và Lý trước đây chủ yếu tiếp cận dưới góc độ sưu tầm văn nghệ dân gian, dân tộc nhạc học hoặc hướng dẫn thực hành sân khấu chuyên nghiệp. Vắng bóng các công trình tích hợp phương pháp truyền khẩu dân gian của nghệ nhân với lý luận dạy học âm nhạc hiện đại nhằm xây dựng quy trình dạy hát Bài chòi và Lý cho học sinh THCS. Luận án này giải quyết khoảng trống đó bằng cách thiết kế hệ thống giải pháp sư phạm khả thi, có giáo án thực nghiệm và tiêu chí lựa chọn làn điệu cụ thể cho trường phổ thông.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung khái niệm

Luận án vận dụng định hướng đổi mới giáo dục theo Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 (chuyển từ tiếp cận nội dung sang phát triển phẩm chất, năng lực học sinh) kết hợp với lý thuyết tiếp biến văn hóa và thi pháp học dân gian.

Hệ thống thuật ngữ và khái niệm cốt lõi được tác giả định nghĩa và chuẩn hóa:

  • Bài chòi: Loại hình nghệ thuật dân gian hình thành ở duyên hải miền Trung, kết hợp giữa trò chơi bài tới trên hệ thống chòi tre với lối hô - hát diễn xướng trong dịp lễ Tết.
  • Hô - hát Bài chòi: Hình thức diễn xướng trung gian giữa nói, đọc thơ có ngữ điệu và ca hát các làn điệu cơ bản nhằm chuyển tải nội dung con bài để người chơi phán đoán, kết hợp với các động tác phụ họa dí dỏm của người quản trò.
  • Ca kịch Bài chòi: Hình thức kịch hát sân khấu hóa phát triển từ các vở Bài chòi truyện (Thoại Khanh - Châu Tuấn, Lưu Bình - Dương Lễ...), có kịch bản, phân vai, kết hợp diễn xuất, múa và âm nhạc kế thừa từ Hát Bội, Đờn ca tài tử.
  • Lý: Thể loại ca khúc dân gian có cấu trúc hoàn chỉnh, phản ánh đời sống sinh hoạt, tâm tư tình cảm của cư dân lao động, thường sử dụng thơ lục bát biến thể và mang phương ngữ đặc trưng xứ Quảng.
  • Các thuật ngữ diễn xướng chuyên ngành: Anh Hiệu/Chị Hiệu (người điều khiển hội chơi, giữ vai trò linh hồn của cuộc diễn xướng); Hô thai (hô câu thơ mang tính đố - giải về con bài); Nói lối (hát nói tự do, không nhịp, theo giai điệu chuẩn bị hát); Xuống hò (kỹ thuật ngắt hoặc kết trổ về chủ âm Hò trong thang âm ngũ cung); Chòi con, Chòi cái, Cờ hiệu, Bài chòi câu, Bài chòi lớp, Bài chòi truyện.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án kết hợp linh hoạt giữa phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng:

  • Phương pháp nghiên cứu và phân tích tài liệu: Khảo cứu các văn bản lịch sử, công trình âm nhạc học, tài liệu phân tích thang âm, điệu thức và chương trình giáo dục âm nhạc phổ thông.
  • Phương pháp điều tra xã hội học:
    • Khảo sát bằng phiếu hỏi lấy ý kiến của giáo viên âm nhạc và học sinh THCS tại các trường thuộc tỉnh Quảng Nam về nhận thức, nhu cầu, thực trạng giảng dạy và mức độ tiếp cận dân ca.
    • Phỏng vấn sâu các chuyên gia, nhà quản lý, giáo viên và nghệ nhân dân gian: Nghệ nhân Nguyễn Đáng, Nghệ nhân Phùng Thị Kim Huệ, Nghệ sĩ Thái Quý, NSND Từ Minh Hiệp (Đình Hiệp), Nghệ sĩ Tuyết Sương, Giảng viên Trần Hà My, Giáo viên Nguyễn Thành Công, Hiệu trưởng Đỗ Quang Chiếu.
  • Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Tổ chức dạy thực nghiệm các bài học dân ca biên soạn mới trên nhóm thực nghiệm (TN) và nhóm đối chứng (ĐC) ở học sinh THCS.
  • Phương pháp thống kê toán học: Xử lý số liệu thu thập từ phiếu điều tra và đối sánh định lượng kết quả đánh giá năng lực âm nhạc trước và sau thực nghiệm giữa hai nhóm TN - ĐC.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận của dạy học hát Bài chòi và Lý Quảng Nam cho học sinh Trung học Cơ sở

Chương này tập trung xác lập cơ sở khoa học cho đề tài thông qua việc phân tích vai trò của dân ca trong việc bồi dưỡng lòng yêu quê hương đất nước, hình thành thị hiếu thẩm mỹ lành mạnh và bảo vệ bản sắc văn hóa địa phương trước các tác động tiêu cực của văn hóa ngoại lai.

Tác giả phân tích đối chiếu mô hình dạy học theo định hướng phát triển năng lực với dạy học tiếp cận nội dung:

Tiêu chí so sánh Dạy học tiếp cận nội dung Dạy học định hướng phát triển năng lực
Mục tiêu Chú trọng cung cấp kiến thức, kỹ năng đơn lẻ; khó đo lường cụ thể hành vi. Hình thành phẩm chất và năng lực vận dụng kiến thức, kỹ năng giải quyết vấn đề thực tiễn.
Nội dung Bám sát lý thuyết sách giáo khoa; kiến thức mang tính hàn lâm, ít gắn với đời sống. Lựa chọn nội dung linh hoạt, gắn với thực tiễn di sản văn hóa địa phương; tăng thời lượng thực hành.
Phương pháp Giáo viên thuyết giảng một chiều; học sinh tiếp thu thụ động. Giáo viên tổ chức, hướng dẫn; học sinh chủ động thực hành, trải nghiệm, sáng tạo và biểu diễn.

Chương 1 cũng làm rõ các yếu tố tâm - sinh lý lứa tuổi học sinh THCS (giai đoạn biến đổi cơ quan phát âm, thay đổi tâm lý ưa thích khám phá trào lưu mới) và các điều kiện tác động như cơ sở vật chất nhà trường, năng lực chuyên môn của giáo viên và môi trường văn hóa cộng đồng.

Chương 2: Đặc điểm của dân ca Bài chòi và Lý Quảng Nam

Chương 2 phân tích chuyên sâu các khía cạnh âm nhạc học và thi pháp của hai thể loại:

  • Đặc điểm Bài chòi Quảng Nam:

    • Lược sử và không gian diễn xướng: Xuất phát từ nhu cầu trao đổi thông tin giữa các chòi canh nương rẫy, Bài chòi phát triển thành hội chơi ngày Tết với bố cục gồm 9 hoặc 11 chòi (chòi cái ở giữa, các chòi con xếp đối xứng hai bên theo hình chữ nhật, ở giữa dựng cây nêu và rạp hội đồng).
    • Đặc điểm âm nhạc: Gồm 4 làn điệu gốc: Xuân nữ, Xàng xê, Cổ bản (Nam xuân), Hò Quảng (Hồ quảng). Trong thực hành nghệ thuật còn phát triển thành các nhánh Xuân nữ cổ/Xuân nữ mới, Xàng xê lụy/Xàng xê dựng. Về cấu trúc tiết tấu, nhịp Bài chòi tương ứng nhịp 4/4; mỗi câu hát gồm 2 nhịp (1 phách lặng, 3 phách gõ), khi kết đoạn có kỹ thuật "xuống hò" trở về âm chủ.
    • Đặc điểm ca từ: Sử dụng thể thơ lục bát, lục bát biến thể, song thất lục bát, bốn chữ, năm chữ; cấu trúc lời hô mang tính đố - giải, giàu hình tượng và giàu chất tự sự.
  • Đặc điểm Lý Quảng Nam:

    • Không gian diễn xướng và tính chất: Gắn liền với lao động sản xuất, sinh hoạt đời thường; có thể diễn xướng độc lập hoặc lồng ghép vào ca Huế, Bài chòi, Hát Bội.
    • Đặc điểm âm nhạc: Thang âm ngũ cung mang âm hưởng đặc trưng Nam Trung Bộ; tiết tấu linh hoạt, sử dụng nhiều tiếng đệm lót (ba lí, tang tình, là hố...), giai điệu vui tươi, hóm hỉnh, ít sầu bi hơn các điệu Lý Trung Bộ khác.
    • Đặc điểm ca từ: Lời ca mộc mạc, đậm chất phương ngữ xứ Quảng, kết hợp giữa văn chương bình dân và triết lý sống lạc quan.

Chương 3: Thực trạng dạy học Bài chòi và Lý Quảng Nam cho học sinh Trung học Cơ sở tại tỉnh Quảng Nam

Chương 3 trình bày kết quả khảo sát thực tế tại các địa bàn đại diện: vùng núi cao (Trường PTDTNT THCS Nam Giang), vùng đồng bằng/thành thị (Trường THCS Phan Đình Phùng, Trường THCS Ông Ích Khiêm, Trường THCS Huỳnh Thị Lựu) và đơn vị văn hóa biểu diễn (Trung tâm Văn hóa - Thể thao Thành phố Hội An).

  • Nội dung chương trình và phân phối thời lượng:

    • Trong Chương trình GDPT 2006, dân ca địa phương chỉ xuất hiện rải rác với thời lượng rất ít trong phần học hát hoặc âm nhạc thường thức.
    • Chương trình GDPT 2018 đã mở ra cơ chế dành thời lượng cho nội dung giáo dục địa phương, tạo hành lang pháp lý thuận lợi nhưng các trường vẫn lúng túng trong khâu chọn lọc tác phẩm và biên soạn tài liệu.
    • Dạy học dân ca phần lớn được lồng ghép trong các hoạt động ngoại khóa, câu lạc bộ âm nhạc nhưng tần suất không đều đặn.
  • Thực trạng đội ngũ và phương pháp dạy học:

    • Giáo viên âm nhạc đa số được đào tạo theo phương pháp phương Tây, gặp khó khăn khi thể hiện các kỹ thuật hát dân ca đặc thù như luyến láy, rung giọng, nhả chữ theo thổ ngữ Quảng Nam.
    • Nghệ nhân dân gian nắm vững phong cách truyền dạy khẩu truyền ("bắt tay chỉ ngón") nhưng thiếu kỹ năng sư phạm hiện đại để tổ chức lớp học phổ thông.
    • Học sinh có năng khiếu cảm thụ giai điệu nhưng thiếu kiến thức nền tảng về thang âm dân tộc và chưa có thói quen phát âm chuẩn xác các âm hình đặc trưng của Bài chòi, Lý.
  • Tồn tại, hạn chế chính:

    • Thiếu tài liệu dạy học chuẩn hóa dành riêng cho cấp THCS.
    • Thiếu phòng học chức năng và nhạc cụ truyền thống gõ đệm (song loan, thanh phách, trống con, đàn nhị, đàn bầu).
    • Quỹ thời gian môn Âm nhạc chính khóa hạn hẹp (1 tiết/tuần), gây khó khăn cho việc tích hợp nội dung di sản.

Chương 4: Biện pháp dạy học hát Bài chòi và Lý Quảng Nam cho học sinh Trung học Cơ sở

Trên cơ sở thực trạng, tác giả đề xuất 4 nhóm biện pháp sư phạm đồng bộ:

  1. Xây dựng chương trình và tiêu chí tuyển chọn làn điệu:

    • Tiêu chí lựa chọn: Làn điệu có âm vực phù hợp tầm cất giọng học sinh THCS (quãng 8 đến quãng 10), tiết tấu rõ ràng, lời ca trong sáng, mang tính giáo dục nhân văn và bản sắc xứ Quảng.
    • Biên soạn hệ thống bài hát đặt lời mới dựa trên các làn điệu gốc (Xuân nữ cổ, Xuân nữ mới, Xàng xê dựng, Xàng xê lụy, Hò Quảng, Lý thương nhau, Hò Ba lí).
  2. Đổi mới phương pháp dạy hát dân ca kết hợp truyền thống và hiện đại:

    • Kết hợp phương pháp truyền khẩu của nghệ nhân với phương pháp trực quan, ký âm bằng bản nhạc để học sinh dễ nắm bắt cao độ, trường độ.
    • Vận dụng kỹ thuật chia câu móc xích, phân tích kỹ các nốt luyến, nốt hoa mỹ và hướng dẫn cách phát âm chuẩn dấu giọng phương ngữ.
  3. Dạy học phát triển năng lực qua hoạt động trải nghiệm và sáng tạo:

    • Tổ chức mô hình lớp học tích cực theo nhóm chức năng: Nhóm "Nghệ nhân, nghệ sĩ biểu diễn", Nhóm "MC - dẫn chương trình", Nhóm "Thiết kế sân khấu/đạo cụ", Nhóm "Khán giả thông thái".
    • Ứng dụng bộ gõ cơ thể (Body percussion) và các nhạc cụ gõ dân tộc vào đệm tiết tấu cho bài hát (kết hợp nhịp xướng - xô).
  4. Rèn luyện kỹ thuật ca hát và cảm thụ âm nhạc:

    • Hướng dẫn tư thế ca hát, bài tập luyện hơi thở sâu và khởi động giọng theo thang âm ngũ cung trước khi học hát.
    • Tổ chức các buổi giao lưu với nghệ nhân dân gian, tham quan thực tế hội chơi Bài chòi tại Hội An nhằm nâng cao năng lực cảm thụ âm nhạc trong không gian văn hóa thực cảnh.
  • Thực nghiệm sư phạm:
    • Thiết kế và triển khai 2 giáo án thực nghiệm điển hình: Bài Hò Ba lí (dân ca Quảng Nam, thời lượng 45 phút) và bài Con bánh ba (điệu Hò Quảng, thời lượng 180 phút).
    • Kết quả thực nghiệm cho thấy nhóm TN đạt tỷ lệ học sinh hát đúng cao độ, đúng phong cách luyến láy và có kỹ năng vận động phụ họa, làm việc nhóm cao hơn rõ rệt so với nhóm ĐC giảng dạy theo phương pháp thuyết trình truyền thống.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  • Hệ thống hóa và làm sáng tỏ cơ sở lý luận về dạy học dân ca Bài chòi và Lý cho lứa tuổi THCS dưới góc độ phương pháp dạy học âm nhạc kết hợp bảo tồn di sản.
  • Chuẩn hóa hệ thống khái niệm, thuật ngữ diễn xướng chuyên ngành Bài chòi và Lý Quảng Nam trong môi trường giáo dục phổ thông.
  • Xác lập khung tiêu chí khoa học cho việc lựa chọn, biên soạn và chuyển biên các làn điệu dân ca truyền thống thành học liệu giảng dạy phù hợp với đặc điểm phát âm của học sinh THCS.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  • Khảo sát toàn diện thực trạng dạy học Bài chòi và Lý tại các trường THCS thuộc các tiểu vùng địa lý khác nhau của tỉnh Quảng Nam.
  • Đề xuất quy trình sư phạm 4 bước tích hợp giữa phương pháp truyền khẩu dân gian và phương pháp dạy học phát triển năng lực (áp dụng hiệu quả kỹ thuật Body percussion và phân vai trải nghiệm).
  • Cung cấp tuyển tập các bản ký âm chuẩn xác, các bài tập luyện thanh ngũ cung và giáo án thực nghiệm mẫu, tạo nguồn tư liệu thực hành trực tiếp cho giáo viên âm nhạc.

Đề xuất và kiến nghị

  • Đối với Sở GD&ĐT và UBND tỉnh Quảng Nam: Cần ban hành khung tài liệu giáo dục địa phương chuẩn hóa về dân ca; tổ chức các lớp tập huấn bồi dưỡng kỹ năng hát dân ca cho giáo viên âm nhạc với sự tham gia trực tiếp của các nghệ nhân.
  • Đối với các trường THCS: Đầu tư cơ sở vật chất, trang bị nhạc cụ gõ truyền thống, tạo điều kiện thành lập Câu lạc bộ Âm nhạc dân gian và lồng ghép dân ca vào các hoạt động ngoại khóa, hội thi văn nghệ học đường.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án giới hạn phạm vi khảo sát thực nghiệm tại một số trường THCS trên địa bàn tỉnh Quảng Nam; nội dung chỉ tập trung vào hai thể loại Bài chòi và Lý, chưa mở rộng sang các loại hình dân ca diễn xướng khác của địa phương như hát Bả trạo, Hát Sắc bùa, Hò khoan. Việc dạy học thực nghiệm chủ yếu thực hiện hiệu quả trong khuôn khổ hoạt động ngoại khóa do ràng buộc về thời lượng 1 tiết/tuần của chương trình chính khóa.
  • Hướng phát triển: Mở rộng nghiên cứu áp dụng mô hình cho các cấp học khác (Tiểu học, Trung học phổ thông) và mở rộng phạm vi ứng dụng sang các tỉnh lân cận có chung không gian văn hóa Bài chòi Trung Bộ (Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa).

Giá trị tham khảo

Luận án mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Giáo viên âm nhạc cấp THCS: Sử dụng trực tiếp hệ thống giáo án thực nghiệm, các bài dân ca đặt lời mới và phương pháp luyện thanh, gõ đệm Body percussion trong giảng dạy phân môn Học hát và Hoạt động trải nghiệm.
  • Cán bộ quản lý giáo dục và chuyên viên phụ trách môn Âm nhạc: Tham khảo để xây dựng khung chương trình Giáo dục địa phương và tổ chức các chuyên đề bồi dưỡng chuyên môn.
  • Sinh viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh ngành Sư phạm Âm nhạc: Tiếp cận một mô hình nghiên cứu kết hợp giữa nghệ thuật học dân gian và phương pháp lý luận dạy học hiện đại.

Câu hỏi thường gặp

1. Bốn làn điệu cơ bản của nghệ thuật Bài chòi được tác giả xác định là gì?

Luận án xác định 4 làn điệu cốt lõi của Bài chòi gồm: Xuân nữ, Xàng xê, Cổ bản (Nam xuân) và Hò Quảng (Hồ quảng). Trong thực tiễn truyền dạy của nghệ nhân, các làn điệu này được phân nhánh thành 6 điệu cụ thể: Xuân nữ cổ, Xuân nữ mới, Cổ bản, Xàng xê cũ (lụy), Xàng xê mới (dựng) và Hò Quảng.

2. Cấu trúc nhịp điệu đặc trưng của Bài chòi được phân tích như thế nào?

Theo phân tích của luận án (kế thừa nghiên cứu của Trương Đình Quang), nhịp điệu Bài chòi tương ứng với nhịp 4/4 trong âm nhạc phương Tây. Mỗi câu hát gồm 2 nhịp bất kể số lượng từ trong câu thơ (trừ trường hợp xuống hò kết trổ hoặc kết dứt bài có thể thêm 1-2 nhịp). Mỗi nhịp gồm 4 phách với quy tắc: 1 phách lặng và 3 phách gõ.

3. Tác giả lựa chọn những bài học nào để tổ chức thực nghiệm sư phạm?

Tác giả đã xây dựng giáo án và tiến hành thực nghiệm trên 2 bài học cụ thể:

  1. Bài Hò Ba lí (Dân ca Quảng Nam, lớp 8, thời lượng 45 phút, kết hợp hình thức xướng - xô và đệm Body percussion).
  2. Bài Con bánh ba (Điệu Hò Quảng, thời lượng 180 phút, tổ chức dạy học theo 4 nhóm trải nghiệm: nghệ nhân/nghệ sĩ, MC, thiết kế biểu diễn, khán giả).

4. Tại sao luận án chủ trương đưa Bài chòi và Lý vào dạy học chủ yếu qua hoạt động ngoại khóa?

Do phân phối chương trình môn Âm nhạc chính khóa chỉ có thời lượng 1 tiết/tuần với nhiều phân môn (Hát, Nhạc cụ, Đọc nhạc, Lý thuyết âm nhạc, Thường thức âm nhạc), giáo viên rất khó bố trí đủ thời gian rèn luyện các kỹ thuật luyến láy phức tạp. Hoạt động ngoại khóa và Câu lạc bộ Âm nhạc tạo không gian thời gian linh hoạt để học sinh trải nghiệm, giao lưu với nghệ nhân và thực hành biểu diễn trọn vẹn.


Kết luận

Luận án "Dạy học hát Bài chòi và Lý Quảng Nam cho học sinh trung học cơ sở" của tác giả Trương Quang Minh Đức là công trình nghiên cứu chuyên sâu, giải quyết thỏa đáng vấn đề đưa di sản âm nhạc dân gian địa phương vào trường phổ thông. Bằng việc kết hợp hài hòa giữa phương pháp truyền khẩu của nghệ nhân dân gian với lý luận dạy học phát triển năng lực của Chương trình GDPT 2018, luận án đã xây dựng được hệ thống giải pháp sư phạm có tính khả thi cao. Kết quả nghiên cứu không chỉ góp phần nâng cao chất lượng dạy học âm nhạc tại tỉnh Quảng Nam mà còn cung cấp tài liệu tham khảo giá trị cho công tác bảo tồn di sản văn hóa truyền thống trong nhà trường.