Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Cơ sở lý luận của đề tài 1. Các kỹ thuật thanh nhạc cơ bản trong giảng dạy, đào tạo thanh nhạc chuyên nghiệp 1. Kỹ thuật hát cổ điển phương Tây Kỹ thuật hát cổ điển phương Tây được đưa vào giảng dạy, học tập ở nước ta là các kỹ thuật hát theo phương pháp Belcanto, loại kỹ thuật hát cổ điển có xuất xứ từ Italia, được tất cả các nước trên thế giới công nhận và sử dụng.
Cụ thể, gồm có các kỹ thuật cơ bản như sau: - Kỹ thuật hát cantilena: Hát liền tiếng, mềm mại (legato), âm thanh nghe liền nhau, liên tục, không bị ngắt quãng, hơi thở và âm thanh đều đặn. - Kỹ thuật hát passage: Hát câu nhạc nhiều nốt, những giai điệu linh hoạt, gọn gàng, rõ ràng, ở tốc độ nhanh. - Kỹ thuật hát staccato: Hát nảy tiếng, gọn tiếng, diễn tả những tình cảm vui tươi, rộn ràng, có khi dùng để mô phỏng tiếng cười, tiếng chim hót. - Kỹ thuật hát trillo: Hát rung, láy.
Để đạt được các kỹ thuật trên, trong quá trình đào tạo, phải có các bài tập rèn luyện về các kỹ năng nền tảng có liên quan, trong đó có: - Về hơi thở, phải tập luyện được 4 kiểu thở cơ bản: Hơi thở ngực, hơi thở ngực kết hợp với bụng, hơi thở ngực dưới và bụng, hơi thở bụng. - Về khẩu hình, phải luyện tập được 2 cách mở khẩu hình: Mở khẩu hình chiều dọc và mở khẩu hình chiều ngang. - Về phương pháp phát âm nhả chữ, phải sử dụng được cách phát âm nhả chữ theo phong cách belcanto của châu Âu khi biểu diễn các tác phẩm thanh nhạc cổ điển, thính phòng (chủ yếu là tác phẩm phương Tây).nam luan an tien si TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.nam 15 - Về tư thế, cần phải được hướng dẫn, rèn luyện để nắm vững tư thế đúng trong luyện tập kỹ thuật và trong biểu diễn sân khấu (biểu diễn hát đơn ca, biểu diễn nhạc kịch, biểu diễn tốp ca, hợp xướng…). Kỹ thuật hát tròn vành, rõ chữ theo truyền thống âm nhạc dân tộc Từ kết quả khảo cứu, tổng hợp qua các công trình, bài viết nghiên cứu như: Vĩnh Long với đề tài “ Vấn đề hát rõ lời” [44; tập 5A, trang 617-630], Lô Thanh với bài viết “Suy nghĩ về bộ môn thanh nhạc VN” [44; tập 5A, trang 708- 712], Mịch Quang với đề tài: “Về thanh nhạc dân tộc” [44; tập 5B, trang 324- 336], Trần Ngọc Lan với cuốn sách Phương pháp hát tốt tiếng Việt trong nghệ thuật ca hát (Nxb Giáo dục Việt Nam) cho thấy, kỹ thuật hát tròn vành rõ chữ theo truyền thống âm nhạc DT là một hệ thống kỹ thuật thanh nhạc bao gồm nhiều KT khác nhau, được đúc rút từ các kỹ thuật cùng với kinh nghiệm của người Việt Nam trong hát dân ca, hát trong các thể loại ca nhạc thính phòng cổ truyền (ca trù, chầu văn, ca huế, đờn ca tài tử Nam bộ…) và hát trong các thể loại sân khấu cổ truyền (tuồng, chèo, cải lương…).
Hệ thống kỹ thuật thanh nhạc này luôn hướng tới việc đạt được hiệu quả hát rõ lời, tiếng nào ra tiếng nấy và thể hiện được những đặc điểm về sắc thái của làn điệu, thể loại âm nhạc truyền thống cũng như phong cách địa phương, vùng miền có trong tác phẩm, tiết mục trình diễn. Tùy thuộc vào nội dung, tính chất âm nhạc và yêu cầu thể hiện về sắc thái cảm xúc mà người ta sẽ vận dụng loại kỹ thuật cho phù hợp. Chẳng hạn như, trong Quan họ Bắc Ninh có kỹ thuật rung hạt (hoặc gọi là nảy hạt) cùng với một số kiểu luyến láy đặc thù để có được hiệu quả vang, rền, nền, nảy1; trong cách hát ví dặm Nghệ Tĩnh, có kiểu luyến 2 âm theo quãng 2, quãng 4, hoặc quãng 5 từ dưới đi lên cho các từ có dấu sắc hoặc dấu hỏi2; trong tuồng có kỹ thuật hát xử lý thanh hỏi bắt đầu từ thanh huyền rồi vuốt lên thanh sắc, xử lý từ có dấu ngã ở âm trên cao bằng kỹ thuật hát rẩy lên cao (thường dùng 1 Theo Vĩnh Long: Vấn đề hát rõ lời [44; tập 5A, trang 619]. 2 Theo Lô Thanh: Suy nghĩ về bộ môn thanh nhạc Việt Nam [44; tập 5A, trang 710] (LUAN.nam luan an tien si TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.nam 16 luyến 2 âm hoặc láy với 1 âm hoa mĩ theo quãng 3 đi từ dưới lên)3.
Các kỹ thuật hát theo truyền thống này chủ yếu là hát bằng giọng thật (còn gọi là giọng tự nhiên), với khẩu hình mở hẹp hoặc khép miệng (hát khép). Khác với KT hát phương Tây, các KT hát theo truyền thống của Việt Nam không bị gò vào những công thức cứng nhắc, mà mỗi loại kỹ thuật lại có muôn vàn cách ứng biến khác nhau, tùy vào cảm xúc và khả năng sáng tạo của người hát, để vẫn đảm bảo giữ đúng những qui định chung (điệu thức, giai điệu lòng bản…) nhưng lại tạo ra những hiệu quả khác nhau giữa những người biểu diễn khác nhau và giữa những lần biểu diễn khác nhau trên cùng một câu hát, một tác phẩm thanh nhạc. Một số vấn đề về phát âm và ngữ điệu trong tiếng Việt có liên quan tới nghệ thuật ca hát Cùng là người Kinh (tộc Việt) sống trên đất nước Việt Nam nhưng trong tiếng nói lại có sự khác nhau về cách phát âm và ngữ điệu giữa các địa phương, vùng miền. Cùng một câu “Anh sẽ phải hát tròn vành rõ chữ” nhưng cách phát âm sẽ khác nhau ở một số từ trong câu.
Cụ thể, người Thanh Hóa, hay phát âm lẫn lộn giữa dấu hỏi và dấu ngã, do vậy câu trên họ sẽ nói thành “Anh sẻ phãi hát tròn vành rỏ chử”. Người Nghệ An, Hà Tĩnh, khi nói và khi hát phát âm phân biệt rõ giữa các phụ âm: s –x, ch-tr, n-l, d-r-gi; dấu ngã, dấu hỏi, dấu sắc có khi bị chuyển thành dấu nặng, dấu nặng chuyển thành dấu huyền, dấu sắc có khi phải đi từ dấu huyền rồi lên dấu sắc, do vậy họ sẽ nói: “Anh sẹ phại hàuát tròn vành rọ chự”. Người Trị Thiên- Huế, phát âm không chuẩn giữa s-x, ch- tr, dấu sắc có khi chuyển thành dấu hỏi, dấu ngã và dấu hỏi có khi bị chuyển thành dấu nặng, dấu sắc có khi chuyển thành dấu hỏi, dấu sắc hay bắt đầu từ dấu huyền, do vậy họ sẽ nói: “Anh xè phải hàuát tròn vành rọ chữ”. Người Quảng Nam-Đà Nẵng, phát âm rõ các phụ âm s-x, ch-tr, r-d, dấu ngã có khi chuyển thành dấu hỏi và ngược lại, những từ có phụ âm t ở cuối thường bị 3 Theo Hoàng Kiều: Thanh điệu tiếng Việt và âm nhạc cổ truyền, Viện Âm nhạc xuất bản năm 2001, trang 306.nam luan an tien si TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.nam 17 chuyển thành c, những từ có chữ o ở giữa thường phát âm thành từ có 2 chữ o, chữ a ở giữa từ thường bị phát âm thành e, ă, â, hoặc ô, do vậy họ sẽ nói: “Eng sẻ phải héc troòng vằn rỏ chử”.
Người Bình Định, Phú Yên, phát âm rõ các phụ âm: ch-tr, n-l, r-d, dấu ngã và dấu nặng hay chuyển thành dấu hỏi, dấu hỏi chuyển thành dấu ngã, phụ âm v có khi chuyển thành d, do vậy họ sẽ nói: “Ăn xẻ phải hác troòng dằn rỏ chử” (xem thêm Bảng so sánh cách phát âm và ngữ điệu của người Việt ở một số địa phương ở phần Phụ lục). Những đặc điểm trong tiếng nói của người Việt ở các địa phương, vùng miền đã được nêu ra một cách sơ lược ở trên, vừa phản ánh sự khác nhau về phát âm và ngữ điệu, vừa là căn cứ để giải thích về lý do, cội nguồn của cách sử dụng quãng, cách luyến láy, nhấn nhá trong giai điệu DC của người Việt ở các địa phương khác nhau. Hơn thế nữa, đó cũng chính là nguyên nhân tạo ra những đặc điểm có tính thống nhất chung nhưng vẫn đảm bảo có cả sự độc đáo và tính đa dạng trong dân ca người Việt ở nước ta. Ca khúc mang âm hưởng dân ca miền Trung Hiện nay, có khá nhiều khái niệm khác nhau về ca khúc mang âm hưởng dân ca nên nó thường được gọi với nhiều tên khác nhau như: ca khúc phát triển chất liệu từ dân ca; ca khúc sử dụng chất liệu dân ca; ca khúc có chất liệu dân ca; hay ca khúc được sáng tác trên cơ sở khai thác chất liệu từ dân ca.
Theo tài liệu "Ca khúc có chất liệu dân ca dễ đi vào lòng người" của Nguyễn Đình San (2021) cho thấy, ca khúc có chất liệu mang âm hưởng dân ca là những ca khúc được tác giả khai thác từ những làn điệu dân ca gốc được lưu truyền từ xưa qua nhiều thế hệ để hình thành nên giai điệu của bài hát. Theo tài liệu "Ảnh hưởng của ca Huế trong sáng tác ca khúc về Huế thế kỷ XX" của Phan Thuận Thảo (2016) cho thấy, ca khúc mang âm hưởng dân ca là các ca khúc hiện đại được sáng tác dựa trên các thủ pháp phát triển giai điệu, điệu tiết của dân ca. Từ các khái niệm trên, trong phạm vi luận án, ca khúc mang âm hưởng dân ca được hiểu là ca khúc đương đại được sáng tác dựa trên việc khai thác và phát triển ca từ và âm nhạc của các làn điệu dân ca cùng với những sáng tạo mới của nhạc sĩ.nam luan an tien si TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.nam 18 Tùy từng mục đích khác nhau, một quốc gia thường được chia thành từng vùng miền khác nhau. Các địa phương nằm ở khoảng giữa của nước ta gọi là miền Trung.
Hiện nay, miền Trung của Việt Nam là khu vực được xác định từ Thanh Hóa đến Bình Thuận, gồm 14 địa phương là: Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận và Bình Thuận. Từ khái niệm ca khúc mang âm hưởng dân ca và khái niệm về miền Trung, trong phạm vi luận án, ca khúc mang âm hưởng dân ca miền Trung là những ca khúc đương đại được sáng tác dựa trên việc khai thác và phát triển ca từ và âm nhạc của các làn điệu dân ca miền Trung cùng với những sáng tạo mới của nhạc sĩ. Theo đó, ca khúc mang âm hưởng dân ca miền Trung thường có một số đặc điểm cơ bản sau: - Về chủ thể sáng tác: ca khúc mang âm hưởng dân ca miền Trung là ca khúc đương đại, tức có nghi nhận được tác giả sáng tác. Điều này khác với dân ca; dân ca là sản phẩm sáng tạo của quần chúng nhân dân lao động, nó được hình thành và phát triển dựa trên sự truyền miệng trong dân gian.