mở đầu, phát triển, kết thúc. Thường chỉ múa tại chỗ, ít có sự phát triển về tuyến. Không gian múa gò bó, chủ yếu múa trong nhà xung quanh mâm cúng hoặc trong một chiếc chiếu. Động tác múa đơn giản, dễ bắt chước, người xem dễ dàng nhận biết được ngay động tác múa chính của bài, vì động tác được lặp đi lặp lại nhiều lần.
Khi muá chỉ ngồi hoặc đứng tại chỗ. Múa trong Then góp phần làm cho diễn xướng Then trở nên hấp dẫn vì sức cuốn hút mang đậm yếu tố sân khấu tâm linh của Then. Đặc điểm âm nhạc 1. Lời ca Trong hát Then lời ca giữ vai trò chủ đạo toàn bộ nghi lễ Then, chủ yếu được diễn đạt bằng ngôn ngữ Tày, Nùng.
Lời ca được truyền miệng từ 14 thế hệ này sang thế hệ khác nên thường có nhiều dị bản để phù hợp với đặc điểm, phong tục của từng địa phương. Lời ca trong hát Then thường là những vần thơ tự do, không theo một quy định nào cả, có bài viết ở thể thơ 5 chữ, có bài ở thể thơ 7 chữ, nhưng thể thơ phổ biến thường là 5 chữ và 7 chữ đan xen, thường được gieo vần như sau: Ở thể thơ 5 chữ, chữ thứ 5 của câu trên vần với chữ thứ 3 của câu dưới. Ở thể thơ 7 chữ, chữ thứ 7 của câu trên vần với chữ thứ 5 của câu dưới. Đây cũng là một đặc điểm để phân biệt thơ ca Tày nói chung với thơ ca dân gian của người Kinh.
Ngoài ra, cũng có những bài được viết ở thể thơ tự do 3 chữ đan xen với 7 chữ, 4 chữ đan xen 6 chữ,. không có thể thơ lục bát như của người Kinh. Loại thể thơ tự do này cũng ảnh hưởng ít nhiều tới cấu trúc câu, đoạn của âm nhạc trong hát Then. Nội dung: Nội dung lời ca trong Then là những câu chuyện kể, lời tự sự phản ánh xã hội hiện thực.
Chủ yếu thể hiện cảnh sinh hoạt lao động thường ngày, tình yêu đôi lứa, tình mẫu tử, tình cảm gắn bó đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau hay báo hiếu cha mẹ, tổ tiên, hoặc đấu tranh với thế giới tự nhiên để sinh tồn,. Một số ví dụ sau: Nội dung ca ngợi tình mẫu tử: Mẹ hươu nhắn con từng lời Con không được ăn nương, ăn rẫy Gốc khoai không được lấy chân giẫm đạp Bẫy sẽ nổ, súng bắn sẽ chết [12, tr.115] Nội dung ca ngợi tình yêu đôi lứa: Mới đến sớm mà đã sắp tối Ước có phép kéo mặt trời lại Chia tay em nhớ mãi khôn xiết Em về giữ bình yên mạnh khỏe [12, tr.106] Từ phụ trong lời ca: cũng giống như phần lời của thể loại dân ca nói 15 chung. Trong hát Then, bên cạnh những từ chính của bài còn có những từ phụ, chủ yếu là những từ phụ không có nghĩa như: a, á ơi, i, ớ ơi, ơ hời,. Chúng có vai trò tạo nên mạch nối câu hát, kéo dài câu hát khiến cho bài hát uyển chuyển nhịp nhàng hơn, giúp lấy hơi sau khi hát hết một câu hoặc một ý nhạc, thông thường cao độ của từ đệm trùng với cao độ của Tính tẩu.
Giai điệu Khi tìm hiểu một số bài bản, làn điệu trong Then chúng tôi thấy rằng, giai điệu âm nhạc trong Then nổi lên những dạng giai điệu như sau: Dạng thứ nhất: Giai điệu gần với dạng hát nói Là dạng giai điệu biểu hiện sự khởi thủy của mối quan hệ giữa âm nhạc và thơ ca. Giữa chúng có sự gần gũi đôi khi đồng nhất giữa giai điệu và thanh điệu của ca từ, nghĩa là giai điệu lên cao xuống thấp theo ngữ âm thanh điệu của lời ca. Phương thức phát triển giai điệu dạng hát nói thường là sự lặp đi lặp lại của một hoặc hai đường âm đơn giản, số lượng âm sử dụng nhiều nhất chỉ khoảng từ 3 đến 4 âm. Giai điệu dạng hát nói phù hợp khi thể hiện những nội dung mộc mạc, dõng dạc, trang nghiêm và có một nhịp điệu khúc triết, mạch lạc tuân theo khuôn mẫu nhất định.
Dạng giai điệu hát nói chiếm số lượng lớn trong Then và thường xuất hiện ở những chương đoạn mang tính chất cầu khẩn, xin phép, thông báo. Một công việc nào đó với "thần linh", hoặc sử dụng trong những chương đoạn đi đường, được hát lặp đi lặp lại. Dạng thứ hai: Giai điệu gần như dạng hát ngâm Trong Then dạng giai điệu hát ngâm cũng khá phổ biến thường thể hiện tính chất dàn trải, ngâm ngợi, tính chất tự do hơn so với dạng giai điệu hát nói. Dạng này thường gặp ở những chương đoạn mang nội dung giãi bày tâm sự nội tâm sâu sắc, tâm tư tình cảm trữ tình, chẳng hạn như: những cảnh chia tay lưu luyến với người thân, đoạn "Thấu quang thấu nạn" thể hiện nội tâm của nai mẹ căn dặn nai con khi nai mẹ sắp bị bắt hoặc những 16 đoạn thể hiện tình cảm sâu sắc, biểu cảm tâm tư muôn vẻ của nhiều số phận như những đoạn "Gọi vía", "Hỉn ẻn", "Ẻn noọng chắp co lùng".
Phương thức phát triển giai điệu của dạng hát ngâm khi tiến hành giai điệu các câu thường lặp lại dáng dấp của nhau, về cơ bản giống dạng giai điệu hát nói. Dưới đây là một trích đoạn làm ví dụ: VD 1: Trích đoạn "Ẻn noọng chắp co lùng", Then bói Duyên phận - Cao Bằng. Trong trích đoạn "Ẻn noọng chắp co lùng" trên, giai điệu thể hiện rõ tính chất dàn trải, ngâm vịnh thiết tha ở chỗ xuất hiện nhiều nốt ngân dài tương ứng với một lời thơ, hoặc lối tiến hành giai điệu gồm 2, 3 nốt luyến lên, luyến xuống tương ứng với một từ của thơ ca, đặc biệt sử dụng nhiều từ phụ ư, ơi tạo điều kiện cho phần giai điệu âm nhạc tự do phát triển, nhịp điệu chậm rãi thể hiện tình cảm sâu lắng của nội tâm. Dạng thứ ba: Giai điệu tổng hợp của dạng giai điệu hát nói và hát ngâm.
Là dạng giai điệu tổng hợp giữa hát nói và hát ngâm nên giai điệu ở dạng này có sự uyển chuyển, linh hoạt khá tinh tế. Cấu trúc giai điệu âm nhạc phát triển tương đối độc lập, có sự phân ngắt câu cú rõ nét hơn hai dạng trên. Nhịp điệu, cú pháp không mang tính đơn điệu như hát nói cũng không quá phức tạp, không thiên về sự trau chuốt, tô điểm như hát ngâm. Do tính tổng hợp của nó nên phương thức phát triển giai điệu dạng này 17 phong phú đa dạng hơn, diễn đạt được nhiều sắc thái cảm xúc khác nhau.
Thường gặp giai điệu dạng này ở những chương, đoạn có nội dung kể lể cốt truyện hay một công việc đang làm hoặc cần làm trong một cuộc Then. Nhịp điệu, tiết tấu Âm nhạc nói chung và trong Then nói riêng, tiết tấu giữ vai trò vô cùng quan trọng trong một tác phẩm. Cuốn Âm nhạc Tày của Hoàng Tuấn có viết: "Hát then có hai loại tiết tấu: Tiết tấu có phân nhịp phách và tiết tấu không phân nhịp phách" [38, tr. Loại tiết tấu có phân nhịp phách thường được thể hiện qua loại nhịp đơn có một trọng âm VD 2: Trích "Xỉnh đẳm", Then Văn Quan - Lạng Sơn.
Còn loại tiết tấu tự do thường thấy ở lối hát ngâm, giai điệu có tính chất tự sự, giãi bày tâm tư tình cảm của con người với con người hoặc con người với cuộc sống, thiên nhiên,. (VD1) Tiết tấu trong Then ít biến đổi và được giữ nhịp bởi chùm xóc nhạc. Nhìn chung tiết tấu trong Then gồm có những loại sau: Loại tiết tấu làm nền cho Tính tẩu thể hiện, được dùng trong những chương đoạn tự sự, chậm rãi. 18 Loại tiết tấu đều đặn, hỗ trợ cho Tính tẩu và người hát, sử dụng để giữ nhịp cho cả bài Then.
Loại tiết tấu nhanh, khỏe khoắn, thường dùng trong những chương đoạn sôi nổi, thúc giục như: "Khảm hải", "Khao sluông",. Thang âm, điệu thức Theo tác giả Phạm Tú Hương: "Thang âm là sự sắp xếp các âm thanh theo một thứ tự cao độ, mỗi âm trong thang âm được gọi là các bậc của nó". Còn theo nhạc sĩ Phạm Phúc Minh trong cuốn Tìm hiểu dân ca Việt Nam cho rằng: "Trong dân ca Việt Nam có rất nhiều kiểu gam - điệu thức, nhưng phổ biến nhất vẫn là 5 cung (ngũ cung)" [23, tr. Theo định nghĩa trên, khi đi vào tìm hiểu thang âm trong hát Then, chúng tôi nhận thấy có hai loại thang âm phổ biến đó là: thang 5 âm thuần chất và thang 5 âm kết hợp với thang 4 âm.
Thang 5 âm thuần chất: trong một số làn điệu then, bài Then của Lạng Sơn có thể thấy phổ biến điệu thức 5 âm thuần chất này rõ nét như dưới đây, có trong các bài Then: Sắc xuân, Tàng bốc, Hít bjoóc,. (xem phụ lục 1, tr. 91) SOL - LA - SI - RÊ - MI 19 ĐÔ - RÊ - MI - SOL - LA Điệu thức 5 âm kết hợp với thang 4 âm: Điệu thức dạng này thường gặp trong bài: Lạng Sơn quê noọng - Then Văn Quan (phụ lục 1, tr.75) Trong bài "Lạng Sơn quê noọng" thuộc điệu thức Mi vũ, bên cạnh đó có sự xuất hiện của thang 4 âm RÊ - MI - FA thăng - LA chen vào giữa từ ô nhịp 33 đến ô nhịp 38, tạo nên màu sắc mới cho giai điệu bài hát. Làn điệu Then Lạng Sơn cũng như Then của nhiều vùng khác nhau, các làn điệu âm nhạc trong Then được những nghệ nhân Then quen gọi là các điệu theo nội dung từng chương đoạn Then như: Điệu Tàng nặm, điệu Pây tàng hay điệu Khẩu tu vua.
Nếu kể tên gọi làn điệu theo nội dung các chương đoạn trong một cuộc Then sẽ thấy rất nhiều điệu. Trong tỉnh Lạng sơn qua tập hợp Then của nhiều vùng, có 18 tên gọi về điệu, một số tên điệu tiêu biểu như sau: Điệu Tò mạy, điệu Khảm hải, điệu Tàng nặm, điệu Suôi lừa, điệu Tàng bốc, điệu Khẩu tu vua, điệu Pây tàng,. Tuy tên gọi làn điệu trên thường được các nghệ nhân gọi theo nội dung lời ca trong các chương đoạn của cuộc Then nhưng không phải vùng nào cũng có chương đoạn như vậy mà mỗi vùng lại có những làn điệu riêng hoặc cũng làn điệu đó sẽ có tên gọi riêng của địa phương mình. Chẳng hạn vùng Văn Quan có Then gọi điệu "Khảm hải", nhưng có Then vùng Cao Lộc gọi là điệu "Tàng nặm", Then vùng Bình Gia lại gọi là điệu "Tàng lừa".
Ngược lại, cũng có những làn điệu nhiều vùng gọi giống nhau như: điệu "Tàng bốc", điệu "Tàng nặm", điệu "Hỉn ẻn", điệu "Mủa chầu". Mỗi một vùng Then khác nhau lại có làn điệu khác nhau.