CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TRẠNG GIẢNG DẠY 1.1 Opera và vai trò của aria cho giọng Baritone trong opera.1 Khái niệm về thể loại opera: Opera là một tác phẩm nghệ thuật tổng hợp phức tạp hơn nhiều so với một ca khúc. Trong opera có sự phối hợp của nghệ thuật âm nhạc, nghệ thuật kịch, thơ ca, nhảy múa, trang trí tạo hình, đồng thời cả những hình thức nghệ thuật sân khấu khác như kịch câm, và những hiệu quả của ánh sáng…[6;10]. Các loại hình nghệ thuật có sự hỗ trợ và gắn bó khăng khít với nhau trong chỉnh thể là tác phẩm opera.Opera mang dấu ấn của thời đại, opera phơi bày hiện thực xã hội, là tiếng thét của nhân dân lao động, là sự vùng lên của những số phận bị đè nén, là niềm khát khao tự do cháy bỏng. Bên cạnh đó opera còn thể hiện được những gì chân thành nhất, sâu thẳm nhất của tình yêu lứa đôi, tình bạn bè thắm thiết, tình mẫu tử bao la và tình yêu quê hương, đất nước.
Opera là một thể loại mới mang tính sáng tạo thực sự, cho dù có tính kế thừa, song opera đã chứa trong mình linh hồn tư tưởng nhân văn. Chủ nghĩa nhân văn thẩm thấu trong đề tài, chủ đề, nhân vật, ca từ và âm nhạc của opera. Mặt khác opera chú trọng sự biểu hiện, truyền đạt chân thật những tình cảm, tư tưởng con người, khắc họa hình tượng âm nhạc có cá tính, tình tiết xung đột mang tính kịch mạnh mẽ. Một loại hình nghệ thuật như vậy rõ ràng là một sự kiện sáng tạo mang tính khởi xướng trong lịch sử âm nhạc thế giới.2 Vai trò của aria trong các vở opera.
Theo cuốn Nghệ thuật opera của PGS-NSND. Nguyễn Trung Kiên thì aria là tên gọi một thể loại thanh nhạc có trong các tác phẩm opera, Oratorio (thanh xướng kịch) Cantate (đại hợp xướng) Messe ( tổ khúc thanh nhạc) và còn có các bản aria độc lập với quy mô vừa và lớn (Concert aria). Aria là một trích đoạn hoàn chỉnh về nghệ thuật và cấu trúc (thường có hai hoặc ba đoạn) dành cho một vai diễn đơn ca (soliste) với dàn nhạc đệm. Trong một vở opera ngoài aria còn có rất nhiều thể loại được tác giả sử dụng như: Monolog, Cavatina, Arietta, Cabaletta, Arioso, Ballada, Ca khúc, 12 Romance, Enseemble (hợp ca), hợp xướng.
Bên cạnh đó hình thức biểu diễn để thể hiện nội dung tác phẩm củng rất đa dạng như: Duo (hai diễn viên), trio (ba diễn viên), Quartetto (bốn diễn viên )…Bên cạnh các khúc mở màn, ca khúc nhỏ trong opera thì aria góp một phần quan trọng để thể hiện tính cách nhân vật của tác phẩm. Aria là khúc hát đặc trưng nổi trội nhất trong opera, đó là một tiết mục hoàn toàn độc lập, có kết cấu và nghệ thuật hoàn chỉnh thường dành cho các nhân vật chính đơn ca với phần đệm của dàn nhạc giao hưởng. Bằng những thủ pháp sáng tác hết sức tinh tế và những kỹ thuật thanh nhạc điêu luyện, tinh xảo, aria thường xuất hiện vào những tình huống kịch tính để lột tả một cách cô đọng nhất đời sống nội tâm, những cung bậc tình cảm và khắc họa tính cách nhân vật. Đây cũng là thời điểm, là cơ hội để diễn viên thể hiện giọng hát của mình và xử lý kỹ thuật thanh nhạc một cách điêu luyện.
Yếu tố biểu hiện và hình thức quan trọng của aria là chủ đề âm nhạc, là hình tượng giai điệu cơ bản. Thí dụ: Aria của Quốc vương Igor trích nhạc kịch cùng tên của Borodin có hai chủ đề: Giai điệu gắn liền với lời ca “ Ôi hãy cho tôi, cho tôi tự do, tôi sẽ rửa nỗi nhục của mình” ( phần đầu bản aria) và “ Em một mình cô đơn-con bồ câu bé nhỏ ” (phần giữa). Tính chất cơ bản của aria là sự thể hiện nhiều mặt của hành động nhân vật, phản ảnh với các hiện tượng xung quanh của nhân vật, đó chính là đặc tính âm nhạc của aria. Những chức năng đó hổ trợ cho việc xây dựng những ấn tượng, nhiều vẻ của hình tượng nhân vật, tạo điều kiện cho một đặc tính quan trọng và có giá trị của aria - tính chất có thể xác định được “chân dung” của nhân vật, đặc tính đó tồn tại trong đa số các aria của opera.
Những bản aria – chân dung nổi tiếng ( đôi khi còn gọi là aria tính cách) như aria của Ruslan trong opera Ruslan và Ludmila v. Aria thường thể hiện những chủ đề âm nhạc nổi bậc có sức diễn tả sâu sắc về đời sống tâm tư tình cảm, tư tưởng củng như tâm trạng kịch tính và những biểu hiện đặc trưng nhất của tính cách nhân vật. Vai trò của aria là giới thiệu, khắc họa lên đời sống nội tâm nhân vật trong các vở opera. Nội dung của aria rất đa dạng và phức tạp, có bài thể hiện niềm vui trong cuộc sống, tình yêu đôi lứa.
Thí dụ: Aria Valletto “ Sento un certo non so che ” trích Opera 13 L’incoronazione dành cho giọng nam cao trữ tình của Claudio Monteverdi (1567-1643). Trong bối cảnh kịch Valletto là người phục vụ Nữ hoàng Ottavia, vợ của Nero. Anh ta hát một bài hát vui nhộn về tình yêu dành cho Damigella thị nữ của Ottavia. “ tôi cảm thấy có một thứ gì đó rạo rực và làm tôi thích thú, hãy nói cho tôi đó là thứ gì hỡi người phụ nữ duyên dáng kia.” nhịp C tiết tấu vui tươi, sử dụng nhiều quãng 2, quãng 3, aria đã thể hiển sự vui tươi trong sáng của nhân vật trong tình yêu và cuộc sống.
Thí dụ 1 Nhưng đôi khi aria chỉ đơn thuần là những aria mang màu sắc nhằm cho ca sĩ phô diễn hết những nét lộng lẫy, sự huy hoàng và nhất là kỹ thuật điêu luyện của giọng hát mà thôi. Thí dụ: Aria của nhân vật Nữ hoàng đêm tối trong vở Cây sáo thần của W. Mozart (1756-1791) là một trong những aria rực rỡ nhất của vở. Aria này cho thấy sự phức tạp của giai điệu âm nhạc cũng như những kỹ thuật thanh nhạc mà ca sĩ phải thể hiện.
Mozart đã viết giai điệu chủ yếu ở âm khu cao và rất cao (đến nốt fa ở nhóm quãng tám thứ 3 - f 3), nhịp độ nhanh kết hợp với staccato (hát nảy tiếng) nên ca sĩ phải có giọng hát và trình độ kỹ thuật hết sức điêu luyện mới có thể hát thành công. Đây là đoạn trích aria của Nữ hoàng đêm tối trong Cây sáo thầncủa W.Mozart: Thí dụ 2 14 Trong các opera nổi tiếng thường có những aria đặc sắc với những kỹ thuật thanh nhạc điêu luyện, đòi hỏi sự chuyên nghiệp của các ca sĩ. Thí dụ: Vở opera La traviata của nhạc sĩ người Ý G. Đây là vở opera trữ tình tâm lý với nhân vật chính là Violetta, một cô kỹ nữ có lòng cao thượng và vẻ đẹp tâm hồn.
Các tiết mục thanh nhạc trong vở opera khá phong phú và đa dạng, nhưng trung tâm của nó vẫn là các bản aria, trong đó nổi bật nhất là hai aria của Violetta: Aria Ah, fors’ è lui che l’anima (Có phải anh đến với em trong đêm tĩnh lặng) thể hiện niềm mơ ước về hạnh phúc. Đây là bản aria có kỹ thuật thanh nhạc hết sức phức tạp. Âm vực của bài rộng tới hai quãng tám (từ nốt đô quãng tám 1 đến nốt đô quãng tám 3), giai điệu có nhiều bước nhảy khó (quãng 8, quãng 9), nhiều nốt treo cao liên tiếp kết hợp với kỹ thuật staccato, những đoạn chạy nhanh nhiều nốt hay ngân dài ở những nốt cao… hầu như những kỹ thuật thanh nhạc cơ bản đều được tập trung vào bản aria này. Chính vì vậy, có thể nói đây là một aria đòi hỏi ca sĩ phải có giọng hát tốt và trình độ kỹ thuật điêu luyện, cộng với sự dày công rèn luyện thì mới thể hiện thành công.
Trích aria Violetta “Ah, fors’ è lui che l’anima” (Có phải anh đến với em trong đêm tĩnh lặng) trong opera La traviata của G. Thí dụ 3 15 Đến với aria Habanera của nhân vật Carmen trong vở opera Carmen của G. Bizet (1838-1875), nhạc sĩ người Pháp. Nghe Elena cất tiếng ca Tình yêu là con chim bất trị để thấy cạm bẫy tình yêu của nàng Carmen xinh đẹp và phóng túng kia thật hiểm nguy nhưng cũng thật ngọt ngào.
Đây là một trong những aria đặc sắc nhất của nghệ thuật opera. Hầu như những ai yêu thích âm nhạc cổ điển, khi nghe bản aria này ngay lần đầu tiên đã có thể mê đắm nó. Bản aria này cũng thể hiện sự phức tạp của giai điệu và đòi hỏi kỹ thuật thanh nhạc cao. Các nét chromatique đi xuống liên tiếp là âm hình chính đòi hỏi người hát phải có hơi thở chắc chắn, vị trí âm thanh chính xác và cách xử lý tinh tế.
Thí dụ 4 Do tính đa dạng và phức tạp của chủ đề và nội dung nên khi hát aria đòi hỏi người hát cần có một trình độ thanh nhạc nhất định, sự hiểu biết sâu rộng về hình tượng tính cách, tâm tư từng nhân vật trong tác phẩm. Thể hiện thành công các aria là sự kết hợp vô cùng khéo léo giữa sáng tạo của nhạc sỹ và tài năng biểu diễn của ca sỹ. Chính vì vậy, có thể nói aria là đỉnh cao của nghệ thuật thanh nhạc, mà thanh nhạc lại là linh hồn của opera. Thế nên aria được viết ở hình thức nào hoặc ở bất cứ thời đại nào thì aria luôn có một vị trí vô cùng quan trọng trong trong sự tồn tại và phát triển nghệ thuật opera 16 1.3 Đặc điểm và vai trò của các aria đối với việc phát triển kỹ thuật thanh nhạc cho giọng baritone.
Giọng Baritone là giọng trung gian giữa giọng Tenor ( nam cao) và giọng Basse (nam trầm). Giọng Baritone có sự kết hợp những đặc tính hùng tráng, mạnh mẽ của giọng Basse và sự sáng sủa, linh hoạt của giọng Tenor. Giọng Baritone chủ yếu sử dụng giọng ngực (chest voice), ít sử dụng giọng gió (head voice) và giọng giả thanh (falsetto). Âm sắc của giọng Baritone hơi trầm, dày và ấm, đặc biệt ở khu trung của giọng.
Các tác phẩm âm nhạc viết cho giọng này thường có quãng giọng trải dài từ nốt A2 đến F4 trong opera, đối với những tác phẩm thuộc hàng khó cho giọng Baritone thường kéo rộng ở cả 2 đầu (dưới nốt A2 và trên nốt F4). Âm vực của giọng Baritone[4;tr 71] Để xác định phân loại giọng hát Baritone cũng như các loại giọng hát khác củng được tiến hành theo mấy cách sau đây: - Xác định phân loại giọng hát thông qua âm vực của giọng. - Xác định phân loại giọng hát thông qua âm sắc của giọng. - Xác định phân loại giọng hát thông qua vị trí nốt chuyển giọng.