Tổng quan nghiên cứu

Trong hệ thống giáo dục nghệ thuật chuyên nghiệp, sự gắn kết liên ngành giữa âm nhạc và nghệ thuật múa đóng vai trò sống còn đối với chất lượng đào tạo diễn viên. Tại Trường Đại học Văn hóa Nghệ thuật Quân đội, chương trình Trung cấp múa cơ bản hệ 4 năm với 8 học kỳ đòi hỏi học viên phải trải qua trung bình 12 tiết học thực hành mỗi tuần trên sàn tập cùng sự đồng hành trực tiếp của tiếng đàn Piano. Tuy nhiên, thực trạng giảng dạy chuyên ngành Piano tại nhiều cơ sở đào tạo âm nhạc phía Bắc hiện nay vẫn tập trung gần như 100% vào kỹ năng biểu diễn độc tấu hàn lâm hoặc đệm hát, trong khi mảng đệm Piano cho múa gần như bị bỏ ngỏ, thiếu vắng giáo trình chuẩn hóa và phương pháp sư phạm bài bản.

Xuất phát từ khoảng trống đào tạo đó, luận văn thạc sĩ chuyên ngành Lý luận và Phương pháp dạy học Âm nhạc khóa 2015-2017 của tác giả Mai Thế Hoa, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Trần Hoàng Tiến, đã tập trung giải quyết vấn đề cấp thiết này. Mục tiêu nghiên cứu cụ thể là khảo sát toàn diện thực trạng giảng dạy, làm rõ đặc thù ngôn ngữ âm nhạc trong đệm múa và xây dựng hệ thống giải pháp nâng cao chất lượng dạy học môn đệm đàn Piano cho múa cơ bản hệ 4 năm tại Trường Đại học Văn hóa Nghệ thuật Quân đội.

Ý nghĩa thực tiễn của công trình thể hiện qua việc cung cấp giải pháp sư phạm chuẩn hóa, giúp rút ngắn thời gian thích ứng công việc thực tế của học viên tốt nghiệp từ 6 tháng xuống dưới 1 tháng khi về nhận nhiệm vụ tại các đoàn nghệ thuật quân đội, đồng thời tối ưu hóa 100% hiệu suất phối hợp giữa người đệm đàn và người học múa trên sàn tập.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết giáo dục học hiện đại của GS. Phạm Viết Vượng, khẳng định dạy học là một bộ phận của quá trình sư phạm tổng thể được tổ chức bằng phương pháp đặc biệt lấy người học làm trung tâm. Bên cạnh đó, luận văn vận dụng quan điểm tâm lý học sư phạm của PGS. Lê Văn Hồng về bản chất hoạt động học là quá trình tự giác lĩnh hội tri thức, kỹ năng và kỹ xảo mới. Về mặt chuyên ngành nghệ thuật, nghiên cứu kế thừa lý thuyết múa cổ điển châu Âu của Costravitakaia và A. Pisarep, cùng hệ thống lý luận múa dân gian Việt Nam của GS.TS. Lê Ngọc Canh.

Khung lý thuyết của đề tài xoay quanh 4 khái niệm cốt lõi:

  • Dạy học độc tấu Piano: Quy trình sư phạm chuyên biệt nhằm phát triển tài năng cá nhân trong lĩnh vực biểu diễn đỉnh cao.
  • Dạy học đệm đàn Piano: Quá trình trang bị kỹ năng sử dụng kỹ thuật và sự sáng tạo phím đàn để nâng đỡ, hòa quyện với nghệ thuật múa hoặc thanh nhạc.
  • Múa cơ bản: Hệ thống tổ hợp động tác múa cổ điển châu Âu, múa dân gian Việt Nam và múa đương đại.
  • Tính cân phương trong âm nhạc đệm múa: Cấu trúc tiết tấu ổn định với số ô nhịp chẵn như 2, 4, 8, 16 nhằm tạo điểm tựa chuẩn xác cho bước chuyển động không gian.

Đặc biệt, công trình làm rõ khả năng diễn cảm vượt trội của cây đàn Piano với 88 phím gồm 36 phím đen và 52 phím trắng, dải âm vực rộng 7 quãng tám từ A2 đến c5 cùng hệ thống 3 pedal, có khả năng thay thế trọn vẹn một dàn nhạc giao hưởng hay dàn nhạc dân tộc trong lớp học múa.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu được triển khai thông qua các nguồn dữ liệu sơ cấp và thứ cấp đáng tin cậy:

  • Cỡ mẫu nghiên cứu: Khảo sát toàn diện 19 giảng viên cơ hữu chuyên ngành Piano và 30 học viên hệ Trung cấp Âm nhạc 4 năm tại Khoa Âm nhạc, Trường Đại học Văn hóa Nghệ thuật Quân đội.
  • Phương pháp chọn mẫu: Chọn mẫu có chủ đích (purposive sampling), tập trung vào nhóm học viên năm thứ 3 và năm thứ 4 đã hoàn thiện kỹ thuật ngón cơ bản để tham gia học phần thực hành đệm múa.
  • Phương pháp phân tích và lý do lựa chọn: Tác giả kết hợp phương pháp phân tích - tổng hợp tài liệu chuyên môn và so sánh - đối chiếu giai điệu dân gian với cấu trúc hòa âm Piano. Lý do lựa chọn là để chuyển hóa chính xác các bài múa dân tộc thành bài đệm hoàn chỉnh trên 2 tay đàn. Đồng thời, phương pháp thực nghiệm sư phạm đối chứng được thực hiện trong 1 học kỳ gồm 15 tuần với 30 tiết học thực tế để đo lường định lượng mức độ tiến bộ của học viên.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình điều tra thực trạng và đánh giá thực nghiệm mang lại 3 phát hiện quan trọng:

Thứ nhất, nhân sự giảng dạy chuyên trách đệm múa còn thiếu hụt nghiêm trọng. Trong tổng số 19 giảng viên Piano cơ hữu có trình độ 100% tốt nghiệp đại học chính quy từ Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam, chỉ có đúng 3 giảng viên (chiếm khoảng 15,8%) tham gia đảm nhiệm công tác đệm đàn cho các lớp múa cơ bản.

Thứ hai, tồn tại sự phân hóa lớn trong tâm lý lựa chọn nghề nghiệp của học viên. Có tới hơn 85% học viên Trung cấp Âm nhạc thiên về định hướng đệm hát hoặc hòa tấu ban nhạc nhẹ vì cơ hội biểu diễn bên ngoài, trong khi dưới 15% học viên chủ động đăng ký môn đệm múa do e ngại áp lực thể lực khi phải ngồi đệm liên tục 5 giờ mỗi buổi học múa.

Thứ ba, khoảng cách rõ rệt giữa kỹ thuật ngón độc tấu và kỹ năng giữ nhịp đệm múa. Dù 100% học viên năm 3 xử lý thành thạo các bài chạy gam từ 0 đến 7 dấu hóa và bài tập kỹ thuật Etude phức tạp, có đến hơn 70% học viên gặp khó khăn trong việc duy trì tốc độ ổn định và không nắm được tên gọi các động tác hình thể múa cơ bản như Plie hay các bước nhảy bật.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi của tình trạng trên là do tư duy biểu diễn độc tấu cổ điển thường cho phép nghệ sĩ co giãn nhịp độ tự do theo cảm xúc cá nhân, trong khi đệm múa đòi hỏi kỷ luật tiết tấu nghiêm ngặt và sự nhạy bén quan sát chuyển động của diễn viên múa.

Dữ liệu nghiên cứu có thể được trực quan hóa sinh động qua biểu đồ cột so sánh kết quả thực nghiệm sư phạm: Nhóm đối chứng duy trì phương pháp truyền thống đạt điểm kiểm tra giữ nhịp bình quân 6,2 điểm, trong khi nhóm thực nghiệm áp dụng quy trình hướng dẫn mới đạt tới 8,4 điểm (mức độ chuẩn xác tăng 35,5%). Bên cạnh đó, bảng phân loại 5 cấp độ thị tấu cho thấy nhóm thực nghiệm xử lý thuần thục các tiểu phẩm cổ điển như Minuet của Johann Sebastian Bach, Little Soldier của Robert Schumann và Grand Valse brillante của Frederic Chopin với tỷ lệ đạt loại giỏi trên 80%. Đối với múa dân gian, học viên đã chuyển tải trọn vẹn chất liệu dân ca qua các tác phẩm Múa quạt của Thái Thị Liên và Hát Quan họ của Nguyễn Văn Thương.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả nghiên cứu, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp hành động cụ thể:

Thứ nhất, hoàn thiện và chuẩn hóa giáo trình bài đệm: Khoa Âm nhạc phối hợp cùng Khoa Múa biên soạn tuyển tập 50 bài đệm Piano chuyên biệt dành riêng cho múa cổ điển châu Âu và múa dân gian Việt Nam, hoàn thành thẩm định trong quý 3 năm 2018. Mục tiêu giúp 100% học viên năm 3 và năm 4 có tài liệu học tập chuẩn hóa.

Thứ hai, nâng cấp và bảo dưỡng hệ thống trang thiết bị: Ban Giám hiệu nhà trường phê duyệt kế hoạch kiểm tra, lên dây và căn chỉnh kỹ thuật định kỳ 6 tháng một lần cho 100% đàn Piano tại các phòng tập múa, giảm 90% các sự cố kẹt phím, rè dây làm gián đoạn giờ học.

Thứ ba, đổi mới phương pháp giảng dạy tích hợp kiến thức múa: Giảng viên chuyên ngành trực tiếp lồng ghép 15 tiết lý thuyết phân tích động tác hình thể múa vào chương trình trả bài cá nhân kỳ 5, giúp người học hiểu rõ quy luật vận động của từng bước chân, thế tay để điều chỉnh cường độ âm thanh tương ứng.

Thứ tư, tăng cường giờ thực hành ghép đàn trên sàn múa: Tổ chức định kỳ 2 buổi thực tập ghép đàn thực tế mỗi tháng giữa học viên Piano năm cuối và học viên múa, bảo đảm 100% học viên tốt nghiệp đủ năng lực làm việc độc lập tại các nhà hát và đoàn nghệ thuật chuyên nghiệp trong giai đoạn 2018-2020.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và kết quả của công trình mang lại giá trị thiết thực cho 4 nhóm đối tượng:

  • Giảng viên giảng dạy Piano tại các trường nghệ thuật: Tiếp cận phương pháp giảng dạy liên ngành âm nhạc - múa; sử dụng tuyển tập bài tập mẫu để áp dụng trực tiếp vào các tiết dạy cá nhân 2 tiết mỗi tuần.
  • Học viên và sinh viên chuyên ngành Piano: Khám phá tiềm năng nghề nghiệp trong lĩnh vực đệm múa chuyên nghiệp; rèn luyện tư duy nhịp điệu cân phương và kỹ năng thị tấu các làn điệu âm nhạc 54 dân tộc Việt Nam.
  • Biên đạo và giáo viên huấn luyện múa: Thấu hiểu sâu sắc đặc tính diễn tấu của đàn Piano; nâng cao khả năng phối hợp ăn ý với nhạc công để dàn dựng các tổ hợp múa hoàn chỉnh kéo dài từ 2 phút đến 3 phút 30 giây.
  • Cán bộ quản lý đào tạo nghệ thuật: Vận dụng cơ sở dữ liệu khoa học để cải tiến khung chương trình đào tạo 8 học kỳ; xây dựng kế hoạch phân bổ thời lượng thực hành và trang bị phòng học đạt chuẩn.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao đàn Piano là nhạc cụ tối ưu nhất để đệm cho múa cơ bản? Đàn Piano sở hữu dải âm vực rộng 7 quãng tám với 88 phím đàn, cho phép tái hiện đầy đủ giai điệu, hòa âm và tiết tấu phức tạp tương đương một dàn nhạc giao hưởng thu nhỏ. Độ vang rõ nét của phím đàn giúp học viên múa định vị chính xác phách mạnh, phách nhẹ và chuyển động hình thể chuẩn xác theo từng ô nhịp.

Đệm Piano cho múa khác biệt như thế nào so với đệm hát thông thường? Đệm hát thường tập trung theo dõi hơi thở và khoảng vang của giọng ca, trong khi đệm múa đòi hỏi người đàn phải giữ nhịp phách hoàn toàn ổn định theo tốc độ động tác cơ thể. Người đệm múa phải liên tục quan sát chuyển động không gian của diễn viên múa trên sàn tập để điều chỉnh âm lượng từ rất nhỏ đến rất to mà không làm thay đổi tốc độ chuẩn.

Những tác phẩm cổ điển nào phổ biến nhất trong giờ múa Ballet? Các tác phẩm kinh điển thường dùng gồm 12 tiểu phẩm của Joseph Haydn, 12 bản Valse của Franz Schubert, các bản Mazurka của Frederic Chopin và tiểu phẩm Minuet của Johann Sebastian Bach. Những bản nhạc này có giai điệu rõ ràng, cấu trúc cân phương 4 hoặc 8 ô nhịp, rất thích hợp cho các động tác xoay và nhảy kỹ thuật.

Làm thế nào để chuyển soạn giai điệu dân ca Việt Nam thành bài đệm Piano cho múa? Giảng viên trích xuất giai điệu dân gian từ giáo trình múa các dân tộc Kinh, Thái, Dao, Ba Na rồi phối hợp bè đệm tay trái bằng các hợp âm đặc trưng của thang 5 âm Việt Nam. Âm hình tiết tấu tay trái thường mô phỏng tiếng trống hội hoặc nhạc cụ gõ dân tộc nhằm giữ đúng phong cách truyền thống của điệu múa.

Học viên Piano cần tích lũy điều kiện gì trước khi học đệm múa cơ bản? Học viên cần hoàn thành 2 năm đầu hệ Trung cấp, nắm vững kỹ thuật chạy gam từ 0 đến 7 dấu hóa, hoàn thành 6 đến 8 bài Etude và có khả năng thị tấu bản nhạc nhanh chóng. Ngoài ra, học viên phải trang bị kiến thức cơ bản về các thuật ngữ động tác múa để phối hợp nhịp nhàng với giáo viên múa.

Kết luận

  • Luận văn chuẩn hóa toàn diện hệ thống lý luận và phương pháp dạy học đệm đàn Piano cho múa cơ bản hệ 4 năm.
  • Đánh giá chân thực thực trạng giảng dạy tại Trường Đại học Văn hóa Nghệ thuật Quân đội với 19 giảng viên cơ hữu và 3 chuyên gia đệm múa.
  • Xây dựng thành công quy trình sư phạm kết hợp chặt chẽ giữa kỹ thuật phím đàn và phân tích ngôn ngữ hình thể múa.
  • Minh chứng hiệu quả thực nghiệm giúp học viên nâng cao 35,5% độ chuẩn xác về nhịp phách và kỹ năng xử lý bài đệm sau 15 tuần.
  • Đóng góp nguồn tư liệu sư phạm quý báu phục vụ công tác đào tạo nhạc công chiến sĩ - nghệ sĩ chất lượng cao cho toàn quân.

Đóng góp lớn nhất của công trình là xóa bỏ khoảng cách giữa đào tạo diễn tấu hàn lâm và nhu cầu thực hành biểu diễn liên ngành tại Việt Nam. Trong giai đoạn 2018-2020, các cơ sở đào tạo nghệ thuật cần nhân rộng mô hình thực nghiệm và đưa bộ 50 bài đệm chuyển soạn vào áp dụng chính thức. Các nhà nghiên cứu và giảng viên âm nhạc hãy ứng dụng ngay khung giải pháp này để đào tạo nên những thế hệ nghệ sĩ Piano toàn diện, đáp ứng tối đa yêu cầu nghệ thuật của xã hội hiện đại.