Tổng quan nghiên cứu

Trong xu thế hội nhập quốc tế và đổi mới giáo dục toàn diện, đàn phím điện tử (electronic keyboard) đã trở thành một nhạc cụ phổ thông và đóng vai trò nòng cốt tại các cơ sở đào tạo giáo viên âm nhạc, đặc biệt là hệ thống giáo dục mầm non. Tại Trường Đại học Hạ Long, đơn vị đào tạo đa ngành được thành lập theo Quyết định số 1869/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, chuyên ngành Sư phạm Mầm non hiện quy tụ khoảng 500 học sinh sinh viên phân bổ trên 13 lớp học. Thực tiễn tuyển dụng giáo viên mầm non tại tỉnh Quảng Ninh đặt ra yêu cầu bắt buộc: 100% giáo viên mầm non khi ra trường phải có kỹ năng hát chuẩn xác và đệm đàn thành thạo để tổ chức hoạt động âm nhạc, kể chuyện minh họa và dàn dựng các sự kiện văn thể mỹ.

Tuy nhiên, chương trình đào tạo hiện hành cho hệ Trung cấp Sư phạm Mầm non chỉ giới hạn trong 2 đơn vị học trình với thời lượng 30 tiết. Trong đó, thực tế giảng dạy chỉ có 26 tiết lên lớp và 4 tiết dành cho ôn tập, kiểm tra định kỳ. Khảo sát thực tiễn cho thấy trên 90% học sinh đầu vào chưa từng tiếp xúc với đàn phím điện tử hoặc chưa có nền tảng nhạc lý cơ bản. Việc thiếu hụt phương pháp dạy đệm hát chuyên biệt khiến đa phần học sinh chỉ dừng lại ở mức độc tấu giai điệu đơn giản mà lúng túng khi xử lý tiết tấu, hòa âm thực tế.

Nghiên cứu được triển khai trong năm học 2016 - 2017 tại các lớp Trung cấp Sư phạm Mầm non của Trường Đại học Hạ Long nhằm giải quyết mâu thuẫn giữa yêu cầu chuẩn nghề nghiệp chất lượng cao và hạn chế về mặt thời lượng, phương pháp đào tạo. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của công trình thể hiện ở việc xây dựng hệ thống giải pháp sư phạm ứng dụng bài bản, giúp nâng cao kỹ năng thực hành đệm hát mầm non, hướng đến tỷ lệ trên 85% học sinh có khả năng tự đệm hát độc lập sau khi tốt nghiệp.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên nền tảng lý luận dạy học hiện đại của các nhà sư phạm uy tín. Tiêu biểu là quan điểm hoạt động sư phạm của Lê Văn Hồng và Phạm Viết Vượng, xác định dạy học là quá trình sư phạm tổng thể có mục đích, trong đó giảng viên đóng vai trò tổ chức, dẫn dắt và người học là chủ thể tiếp nhận, chuyển hóa tri thức thành kỹ năng thực hành.

Về phương pháp luận chuyên ngành âm nhạc, luận văn kế thừa hệ thống lý luận dạy học đàn phím điện tử của PGS. Xuân Tứ qua 4 bộ tài liệu chuẩn mực về phương pháp học đàn organ. Hệ thống này nhấn mạnh 3 nguyên tắc cốt lõi: học có phương pháp, học có hệ thống và học với niềm hứng thú say mê.

Khung lý thuyết của công trình vận hành xoay quanh 4 khái niệm trọng tâm:

  1. Đàn phím điện tử (Electronic Keyboard): Nhạc khí tích hợp công nghệ kỹ thuật số (digital sound), có khả năng mô phỏng đa dạng âm sắc từ dàn nhạc giao hưởng đến nhạc cụ dân tộc và tích hợp bộ đệm tự động (Auto Accompaniment).
  2. Dạy học đàn phím điện tử: Quá trình trang bị kiến thức nhạc lý ứng dụng, kỹ thuật ngón và kỹ năng làm chủ các tính năng công nghệ trên mặt đàn.
  3. Kỹ thuật ngón và luyện tập Hanon: Các bài tập chuẩn hóa vị trí bàn tay, tăng độ độc lập và linh hoạt của các ngón tay khi xử lý phím đàn.
  4. Đệm hát trên đàn phím điện tử: Kỹ năng phối hợp tay trái bấm hòa âm, điều khiển tiết tấu tự động kết hợp với tay phải tạo câu dạo, giai điệu, câu chèn (fill) nhằm nâng đỡ và làm nổi bật giọng hát.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu đa chiều từ hồ sơ đào tạo chính quy, phiếu đánh giá kết quả học tập và nhật ký quan sát giảng dạy trong suốt năm học 2016 - 2017 tại Trường Đại học Hạ Long. Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm 400 học sinh hệ Trung cấp Sư phạm Mầm non thuộc 3 khóa đào tạo liên tiếp để khảo sát thực trạng, cùng với 2 nhóm lớp thực nghiệm sư phạm đối chứng trực tiếp.

Phương pháp chọn mẫu được thực hiện theo phương pháp phân tầng kết hợp chọn mẫu thuận tiện: chia nhóm học sinh theo trình độ tiếp thu (khá giỏi, trung bình khá, trung bình) nhằm đảm bảo tính đại diện và khách quan. Luận văn kết hợp đồng bộ các phương pháp phân tích, tổng hợp tài liệu chuyên khảo trong và ngoài nước; phương pháp quan sát sư phạm; phương pháp kiểm tra, đánh giá biểu diễn trực tiếp và phương pháp thực nghiệm sư phạm.

Lý do lựa chọn tổ hợp phương pháp này xuất phát từ đặc thù của bộ môn biểu diễn âm nhạc: kỹ năng đệm hát không thể đánh giá thuần túy qua bài thi viết lý thuyết mà đòi hỏi sự kiểm chứng trực tiếp qua năng lực nghe, cảm thụ tiết tấu, thao tác bấm phím và xử lý sắc thái âm thanh trong môi trường thực hành lớp học.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát tổng thể 400 học sinh thuộc 3 khóa đào tạo Trung cấp Sư phạm Mầm non tại Trường Đại học Hạ Long đã phản ánh những phát hiện định lượng rõ rệt:

Thứ nhất, kết quả phân loại học lực môn đàn phím điện tử cho thấy sự chênh lệch lớn giữa các nhóm trình độ:

  • Loại Giỏi chỉ đạt tỷ lệ khiêm tốn 7,5% (tương đương 30 trên tổng số 400 học sinh).
  • Loại Khá chiếm 36,25% (145 trên 400 học sinh).
  • Nhóm Trung bình và Trung bình khá chiếm tỷ trọng áp đảo lên đến 56,25% (225 trên 400 học sinh).

Thứ hai, thực trạng cơ sở vật chất phục vụ giảng dạy còn nhiều hạn chế. Định mức bố trí học sinh bình quân từ 3 đến 4 học sinh sử dụng chung 1 cây đàn trong mỗi buổi học tập thể từ 30 đến 40 học sinh. Điều này làm giảm thời lượng luyện ngón trực tiếp của mỗi cá nhân xuống chỉ còn khoảng 10 đến 15 phút mỗi tiết học.

Thứ ba, sự phân hóa về hoàn cảnh địa lý và kinh tế gia đình tác động trực tiếp đến năng lực thực hành. Khoảng 70% học sinh xuất thân từ vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa và hải đảo như Cô Tô, Quan Lạn, Bản Sen, không có điều kiện kinh tế trang bị đàn phím điện tử cá nhân tại nhà. Nhóm học sinh này hoàn toàn phụ thuộc vào việc đăng ký giờ tự học tại phòng thực hành của trường.

Thứ tư, cấu trúc chương trình đào tạo còn nặng về độc tấu bài hát mầm non (tay phải bấm giai điệu, tay trái giữ hợp âm nền) mà thiếu hẳn học phần hướng dẫn cấu trúc một bài đệm hoàn chỉnh gồm: dạo đầu (Intro), thân bài (Present), dạo giữa (Interlude) và kết thúc (Ending).

Thảo luận kết quả

Dữ liệu khảo sát phản ánh rõ nét mâu thuẫn giữa chuẩn đầu ra của ngành Sư phạm Mầm non và điều kiện tổ chức đào tạo thực tế. Nguyên nhân chủ yếu của việc tỷ lệ học sinh đạt điểm trung bình và trung bình khá chiếm trên 56% bắt nguồn từ việc thiếu hụt thời gian thực hành cá nhân và phương pháp tiếp cận chưa tách rời giữa kỹ thuật độc tấu piano với kỹ năng đệm hát tự động trên đàn organ.

Khi so sánh với các công trình nghiên cứu trước đây của Nguyễn Ngọc Anh tại Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam năm 2013 và Lê Văn Vũ tại Trường Cao đẳng Vĩnh Phúc năm 2015, điểm tương đồng là đều ghi nhận sự bỡ ngỡ của sinh viên sư phạm khi xử lý kỹ thuật ngón hai tay. Tuy nhiên, điểm khác biệt mang tính đột phá của luận văn này là việc cá thể hóa bài tập luyện ngón Hanon và ứng dụng trực tiếp các thế bấm hợp âm đảo, kỹ thuật chèn câu (fill-in, multipad) vào các ca khúc mầm non cụ thể.

Về mặt trình bày dữ liệu, các kết quả học tập có thể được trực quan hóa qua biểu đồ hình tròn phân bố tỷ lệ xếp loại học lực của 400 học sinh, qua đó làm nổi bật phần diện tích chiếm đa số của nhóm trung bình. Đồng thời, biểu đồ cột kép so sánh kết quả kiểm tra trước và sau thực nghiệm sẽ chứng minh rõ sự chuyển dịch tích cực: nhóm học sinh đạt loại giỏi sau khi áp dụng phương pháp đệm hát mới tăng từ khoảng 8% lên trên 25%, trong khi tỷ lệ trung bình giảm rõ rệt xuống dưới 30%. Bảng tổng hợp kỹ năng cũng minh chứng rằng học sinh nắm vững quy trình đệm hát 5 bước có thể tự tin biểu diễn trước đám đông và loại bỏ hoàn toàn tâm lý căng cứng, sợ sệt.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả nghiên cứu lý luận và thực nghiệm sư phạm, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược nhằm chuẩn hóa và nâng cao năng lực đệm hát cho học sinh Trung cấp Sư phạm Mầm non:

  1. Đổi mới cấu trúc chương trình và biên soạn giáo trình đệm hát chuẩn hóa
  • Chủ thể thực hiện: Giảng viên bộ môn Âm nhạc thuộc Khoa Nghệ thuật phối hợp với Khoa Sư phạm Mầm non.
  • Hành động cụ thể: Tái cấu trúc 30 tiết học phần đàn phím điện tử. Bổ sung tối thiểu 10 tiết chuyên đề về kỹ thuật soạn đệm ca khúc thiếu nhi, đưa cấu trúc chuẩn (Intro, Interlude, Ending, Fill) vào nội dung kiểm tra định kỳ.
  • Chỉ số mục tiêu: 100% học sinh hoàn thành tối thiểu 5 bài đệm ca khúc mầm non hoàn chỉnh trước khi bước vào kỳ thực tập tốt nghiệp.
  • Lộ trình: Hoàn thành biên soạn và thông qua hội đồng thẩm định trong giai đoạn 2017 - 2018.
  1. Tối ưu hóa điều kiện cơ sở vật chất và phân bổ phòng thực hành
  • Chủ thể thực hiện: Ban Giám hiệu Trường Đại học Hạ Long và Phòng Hành chính Quản trị.
  • Hành động cụ thể: Trang bị bổ sung hệ thống phòng học nhạc cụ với quy mô 15 đến 20 đàn phím điện tử thế hệ mới cho mỗi phòng học; thiết lập cơ chế đăng ký tự học linh hoạt ngoài giờ cho học sinh vùng sâu, vùng xa.
  • Chỉ số mục tiêu: Giảm định mức sử dụng đàn xuống tối đa 1 đến 2 học sinh trên 1 cây đàn trong các giờ thực hành chuyên sâu.
  • Lộ trình: Triển khai theo 2 giai đoạn, hoàn tất đồng bộ trước năm 2020.
  1. Áp dụng phương pháp phân nhóm năng lực và tích hợp kỹ thuật Hanon
  • Chủ thể thực hiện: Giảng viên trực tiếp giảng dạy học phần.
  • Hành động cụ thể: Phân loại học sinh thành các nhóm năng lực ngay từ tuần học thứ hai; lồng ghép các mẫu luyện ngón Hanon rút gọn 5-10 phút đầu mỗi buổi học để rèn luyện độ linh hoạt của ngón tay và khả năng chuyển hợp âm tay trái nhanh nhạy.
  • Chỉ số mục tiêu: Nâng tỷ lệ học sinh đạt loại khá và giỏi môn đàn phím điện tử lên trên 65% trong toàn khóa học.
  • Lộ trình: Áp dụng liên tục trong tất cả các học kỳ của năm học.
  1. Tăng cường hoạt động trải nghiệm sân khấu và rèn nghề thực tế
  • Chủ thể thực hiện: Đoàn Thanh niên, Hội Sinh viên kết hợp với các trường mầm non thực hành tại thành phố Uông Bí và thành phố Hạ Long.
  • Hành động cụ thể: Tổ chức định kỳ các hội thi tay nghề sư phạm, câu lạc bộ âm nhạc mầm non, giao lưu văn nghệ chào mừng ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11 và ngày Quốc tế Phụ nữ 8/3.
  • Chỉ số mục tiêu: Đảm bảo 100% học sinh được cọ xát kỹ năng đệm đàn trực tiếp cho trẻ hát ít nhất 3 lần trước khi tốt nghiệp.
  • Lộ trình: Tổ chức thường niên theo kế hoạch năm học của nhà trường.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị thực tiễn sâu sắc và là tài liệu tham khảo hữu ích cho 4 nhóm đối tượng chính:

  1. Giảng viên giảng dạy âm nhạc và đàn phím điện tử tại các trường đại học, cao đẳng sư phạm: Khai thác hệ thống bài tập thực hành, phương pháp thị phạm, cách thức phân nhóm trình độ học sinh và quy trình 5 bước xây dựng bài đệm hát ca khúc thiếu nhi.
  2. Sinh viên, học sinh chuyên ngành Giáo dục Mầm non và Sư phạm Âm nhạc: Tiếp cận cẩm nang tự học với các dạng thế bấm hợp âm rút gọn, kỹ thuật rải ngón, cách sử dụng các nút chức năng trên đàn (Style, Voice, Tempo, Intro, Ending, Fill) để tự tin đệm hát trong các kỳ thực tập và thi tuyển dụng giáo viên.
  3. Cán bộ quản lý đào tạo và hội đồng xây dựng chương trình giáo dục mầm non: Sử dụng các số liệu thực chứng và đề xuất trong luận văn để điều chỉnh phân bổ đơn vị học trình, thiết kế khung chương trình đào tạo tích hợp giữa lý thuyết âm nhạc và thực hành nghề nghiệp đáp ứng nhu cầu xã hội.
  4. Giáo viên mầm non đang công tác tại các cơ sở công lập và tư thục: Vận dụng các thủ pháp đệm hát, cách xử lý âm thanh mô phỏng để làm sinh động các tiết học kể chuyện, dạy hát và tổ chức hoạt động ngoại khóa âm nhạc cho trẻ.

Câu hỏi thường gặp

  1. Tại sao đàn phím điện tử lại được lựa chọn là nhạc cụ ưu tiên hàng đầu trong đào tạo giáo viên mầm non? Đàn phím điện tử có tính cơ động cao, giá thành hợp lý và tích hợp bộ đệm tự động cùng hàng trăm âm sắc đa dạng. Nhạc cụ này có khả năng mô phỏng toàn bộ một ban nhạc nhẹ, tạo ra không khí âm nhạc sôi nổi, thu hút sự chú ý của trẻ nhỏ trong không gian lớp học mầm non tốt hơn các nhạc cụ truyền thống.

  2. Làm thế nào để học sinh chưa từng học nhạc có thể chơi đàn thành thạo chỉ trong 30 tiết học? Giải pháp then chốt là tinh giản các bài tập lý thuyết trừu tượng, tập trung vào phương pháp thị phạm trực quan của giảng viên kết hợp rèn luyện các bài tập ngón Hanon căn bản. Học sinh được hướng dẫn nhận biết hợp âm theo quy luật hình học trên bàn phím tay trái và chủ động đăng ký tối thiểu 5 đến 7 giờ tự học mỗi tuần tại phòng thực hành.

  3. Điểm khác biệt cốt lõi giữa chơi độc tấu tác phẩm và đệm hát trên đàn phím điện tử là gì? Độc tấu yêu cầu tay phải chơi giai điệu và tay trái đệm hòa âm chi tiết theo từng nốt nhạc cổ điển. Trong khi đó, đệm hát đòi hỏi người chơi sử dụng tay trái kích hoạt bộ đệm tự động thông qua các hợp âm chuẩn xác, đồng thời tay phải linh hoạt diễn tấu câu dạo đầu, dạo giữa, chèn bè đệm để tôn vinh và nâng đỡ giọng hát của người biểu diễn.

  4. Cần chuẩn bị những kỹ năng gì để khắc phục tâm lý căng thẳng, sợ biểu diễn trước đám đông của học sinh? Học sinh cần nắm vững cấu trúc bài đệm, tập dượt thành thạo tốc độ nhịp gõ trên đàn từ chậm đến nhanh. Quan trọng nhất là tham gia thường xuyên vào các buổi biểu diễn trả bài nhóm nhỏ trên lớp và các chương trình văn nghệ ngoại khóa của khoa để rèn luyện bản lĩnh sân khấu và phản xạ xử lý tình huống âm nhạc.

  5. Cấu trúc chuẩn của một bài đệm ca khúc thiếu nhi trên đàn organ gồm những thành phần nào? Một bài đệm hoàn chỉnh bao gồm 5 thành phần: đoạn dạo đầu (Intro) để định hình tông giọng và tốc độ; phần đệm thân bài nâng đỡ lời ca (Present); câu dạo giữa chuyển tiếp giữa các đoạn (Interlude); các tiết tấu dồn trống, chèn câu ngẫu hứng (Fill/Multipad); và câu dạo kết thúc bài hát (Ending) tạo cảm giác trọn vẹn cho tác phẩm.

Kết luận

  • Luận văn đã phân tích toàn diện thực trạng đào tạo đàn phím điện tử hệ Trung cấp Sư phạm Mầm non tại Trường Đại học Hạ Long qua khảo sát 400 học sinh, chỉ ra tỷ lệ học sinh đạt loại giỏi chỉ chiếm 7,5% trong khi loại trung bình và trung bình khá lên tới 56,25%.
  • Xác định nguyên nhân cốt lõi dẫn đến chất lượng đệm hát chưa cao là do thiếu hụt trang thiết bị (3-4 học sinh chung 1 đàn), thời lượng thực hành 30 tiết còn mỏng và chương trình chưa chú trọng phương pháp đệm tự động chuyên biệt.
  • Xây dựng hệ thống giải pháp đồng bộ kết hợp luyện ngón Hanon, chuẩn hóa quy trình cấu trúc bài đệm 5 phần và đổi mới phương pháp giảng dạy theo hướng cá thể hóa nhóm năng lực.
  • Đóng góp nguồn tư liệu khoa học và giáo trình thực hành có giá trị ứng dụng cao cho Khoa Sư phạm Mầm non và Khoa Nghệ thuật của Trường Đại học Hạ Long trong giai đoạn nâng chuẩn đào tạo.
  • Khuyến nghị các cơ sở đào tạo khẩn trương triển khai đầu tư phòng học chuyên dụng 15-20 đàn và tăng cường thời lượng rèn nghề âm nhạc nhằm đảm bảo 100% giáo viên mầm non tương lai làm chủ kỹ năng đệm đàn khi ra trường.