Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Vài nét về dân ca Việt Nam và dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh 1. Khái niệm về dân ca Việt Nam Dân ca là sản phẩm của người dân lao động nhằm phục vụ đời sống vật chất và tinh thần, là tiếng nói tình cảm nuôi dưỡng tâm hồn con người từ thế hệ này sang thế hệ khác. Tác giả Nguyễn Thụy Loan đã bàn về dân ca Việt Nam gắn liền với Âm nhạc dân gian Việt Nam như sau: Âm nhạc dân gian là một bộ phận ra đời sớm nhất và có sức bền vững nhất.
Nó đã xuất hiện ngay từ thời nguyên thủy và tiếp tục tồn tại cho đến tận ngày nay. Bởi vậy kể từ thuở dựng nước tới nay, bộ phận âm nhạc này đã có tuổi đời trên dưới bốn ngàn năm. Trong suốt chặng đường dài ấy âm nhạc dân gian đã không ngừng phát triển ngày càng phong phú đa dạng và nhiều thể loại đã đạt đến trình độ nghệ thuật cao. Dân ca chính là một trong những hợp phần của bộ phận này.
Nó cũng mang trong mình bề dày lịch sử và những đặc trưng bao quát nhất của âm nhạc dân ca nói chung [22; tr. Dân ca Việt Nam là một bộ phận của âm nhạc cổ truyền được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua phương thức truyền miệng, Mỗi người diễn xướng được tự do ứng tác một cách tích cực, góp phần sáng tạo của mình trong quá trình phát triển. Dân ca gắn liền với con người từ khi sinh ra cho đến khi từ giã cõi đời. Khi vừa cất tiếng khóc chào đời chúng ta đã được ôm ấp vào lòng nghe những lời ru đầy âu yếm ngọt ngào của mẹ (hát ru, ru con…), lớn hơn chúng ta được hát truyền nhau cùng bạn bè đồng trang lứa những bìa đồng dao, đến tuổi cập kê thì hát tặng nhau những bài hát dân ca đối đáp giao duyên, khi nhắm mắt xuôi tay thì có 8 những bài đưa tiễn.
Thể hiện rõ nhất trong dân ca lao động đó là Hò. Hò phổ biến rộng rãi khắp đất nước. Trong lao động có những bài như (Hò giã gạo, Hò bơi thuyền, Hò kéo gỗ…). Đến những dịp lễ đều có các bài nghi lễ phong tục theo từng vùng miền.
Tuy nhiên mỗi địa phương, tộc người trên đất nước Việt Nam dân ca lại có những đặc điểm sắc riêng bởi sự chi phối của phương ngữ, giai điệu, tiếng đệm, lời phụ… Dân ca miền Bắc hay dùng chữ “rằng, thì, chứ.” và một số phụ âm “r, d, gi” hay “s và x” phát âm giống nhau, người nghe rất khó phân biệt. Khác với dân ca miền Bắc, dân ca miền Trung hay dùng chữ “ni, nớ, răng, rứa.” và thanh dấu “hỏi, ngã” đều được đọc giống nhau. Còn dân ca miền Nam thì hay dùng chữ “má, bậu, đặng.” chữ “ê” đọc thành chữ “ơ”, dấu ngã đọc thành dấu hỏi. Đến nay vẫn chưa có khái niệm thống nhất về dân ca Việt Nam.
Để tiện cho việc nghiên cứu, có thể hiểu khái niệm về dân ca Việt Nam như sau: Dân ca Việt Nam là những bài hát cổ truyền do nhân dân Việt Nam sáng tác được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác không rõ tác giả. Khái niệm về làn điệu Các làn điệu dân ca Việt Nam rất phong phú. Các dân tộc Việt Nam sáng tạo hàng trăm làn điệu dân ca độc đáo, nhiều thể loại thành hệ thống các làn điệu. Những làn điệu dân ca các dân tộc Việt Nam là giá trị văn hoá xã hội, biểu hiện tài năng trí tuệ thời đại của ông cha ta toả sáng đến hôm nay.
Theo tác giả Nguyễn Thụy Loan: Làn điệu: cách gọi truyền thống của người Việt để chỉ loại cấu trúc giai điệu bán ổn định, trong đó có những “phần cứng” (không thay đổi) và những “phần mềm” (có thay đổi). “Phần cứng” giúp người nhận diện được giai điệu thuộc làn điệu nào, còn “phần mềm” với những thay đổi đa dạng kiến cho những dị 9 bản của cùng một giai điệu rất khác nhau, thậm chí có khi rất khó nhận ra, nhất là đối với những người được đào tạo theo kiểu âm nhạc phương Tây chưa quen với âm nhạc cổ truyền [23; tr. Từ khái niệm nêu trên có thể hiểu làn điệu trong dân ca để chỉ những bài bản có tên và lời ca khác nhau nhưng giai điệu có những nét giống nhau. Làn điệu là yếu tố quan trọng để xác định sự khác biệt giữa các loại hình dân ca.
Bởi vậy, khi nghe các loại hình dân ca, có thể phân biệt được làn điệu này thuộc dân ca nào, vùng nào. Khái niệm về dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh là một loại hình nghệ thuật trình diễn dân ca chiếm vị trí quan trọng trong đời sống văn hóa của người dân hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh thuộc miền trung Việt Nam. Dân ca Ví, Giặm tại Nghệ Tĩnh là một văn hóa cấp Quốc gia đã được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện cho nhân loại tại kỳ họp thứ 9 của Ủy ban Liên Chính phủ Công ước UNESCO về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể ngày 27/11/2014 tại Paris (Pháp) [37]. Được hình thành và phát triển trong lao động, sinh hoạt cộng đồng được truyền miệng và thử thách của thời gian để trở thành di sản tinh thần vô giá của dân tộc và cũng là niềm tự hào của người dân xứ Nghệ.
Mỗi lời ca chứa đựng hình ảnh thiên nhiên, cuộc sống, con người mang đặc trưng riêng của người con xứ Nghệ. Cứ thế, theo năm tháng truyền từ đời này sang đời khác, được chắt lọc thành nguồn sữa ngọt ngào nuôi dưỡng tâm hồn người dân xứ Nghệ. Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh là kết tinh tâm hồn, là nơi lưu giữ nét đẹp văn hóa của vùng quê Nghệ Tĩnh có sức lan tỏa mạnh mẽ, rộng lớn không chỉ trong cộng đồng dân xứ Nghệ, cộng đồng người Việt Nam mà còn được cả thế giới biết đến. Nói đến dân ca Nghệ Tĩnh phải nói đến ba thể hát chính đó là: Hát Ví, hát Giặm và hát Hò.
Đây là ba thể loại đặc sắc và điển hình nhất của 10 người Việt xứ Nghệ. Bởi nó thể hiện được rõ bản sắc của một vùng quê Bắc Trung Bộ. Hò, Ví, Giặm đã bám sâu gốc rễ của người dân Nghệ Tĩnh hàng bao đời nay và cụm từ Hò, Ví, Giặm là không thể tách rời. Theo tác giả Nguyễn Thụy Loan: “Phổ biến và nổi bật hơn cả trong dân ca người Việt ở Nghệ - Tĩnh là ba thể loại Hò, Ví, Giặm.
Trong ba thể loại này, độc đáo hơn cả là hát Ví và hát Giặm” [23; tr. Đến nay vẫn chưa có khái niệm thống nhất về dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh. Để tiện cho việc nghiên cứu, có thể hiểu khái niệm về dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh như sau: Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh là những bài hát cổ truyền gắn với bối cảnh cuộc sống, với phường nghề và với địa danh do nhân dân hai tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh sáng tác được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Hát Ví Nghệ Tĩnh Hát Ví có nhiều làn điệu như: Ví đò đưa sông La, Ví đò đưa sông Lam, Ví phường vải, Ví phường cấy, Ví phường võng, Ví phường chè, Ví đồng ruộng, Ví trèo non, Ví chăn trâu, Ví chuỗi, Ví ghẹo… Theo nhạc sĩ Lê Hàm: Hát Ví - Có khi chỉ gọi là Ví, là một hệ thống làn điệu tiêu biểu nhất của dân ca Nghệ Tĩnh.
Tiêu biểu bởi vì đây là một điệu dân ca phổ biến nhất, nhiều nơi hát nhất, ở khắp các vùng trong xứ Nghệ, từ Hoàng Mai đến Kỳ Anh, từ Hương Sơn, Đức Thọ đến Can Lộc, Thạch Hà, Cẩm Xuyên, từ Anh Sơn Đô Lương đến Nam Đàn Hưng Nguyên, từ Yên Thành Diễn Châu vào Nghi Xuân Nghi Lộc. Đây là loại hình dân ca được rất nhiều phường hội tham gia. Những phường lao động như quay dệt vải có Ví phường vải, phường đò dọc có Ví đò đưa, phường nông nghiệp có Ví phường cấy, Ví đồng ruộng, phường thủ công có Ví phường nón, phường võng, phường vàng, phường đi rú có Ví 11 trèo non, các cháu mục đồng có Ví chăn trâu… Rồi từng địa danh do địa hình, địa thế khác nhau lại có những điệu Ví khác nhau Ví sông Phố ở Hương Sơn, Ví đò đưa sông La ở Đức Thọ, Ví đò đưa sông Lam ở Anh Sơn, Đô Lương, Nam Đàn, Thanh Chương, Nghi Lộc, Nghi Xuân [14; tr. Hát Ví là thể loại hát giao duyên nam, nữ được phổ biến ở vùng Nghệ Tĩnh từ lâu đời.
Vào những đêm trăng sáng các đôi trai gái đi ngắm trăng và trao đổi tình cảm cho nhau. Khi nghe câu hát cất lên, chúng ta thấy được hết cái mênh mang, sâu lắng, cảm giác như con người được gần gũi thiên nhiên hơn. Người xứ Nghệ dù đi đâu xa, khi được nghe một điệu Hò, Ví, Giặm họ như được về tắm mát trên dòng sông tuổi thơ, ngập tràn trong dòng cảm xúc, như được trở về với chính mình. Ví dụ 1: - (ờ ơ, chứ) Ai biết nước sông Lam răng là trong là đục, Thì biết sống cuộc đời răng là nhục (i) là vinh.
Thuyền em lên thác xuống (ơ ơ) ghềnh, Nước non là nghĩa (hị) là tình ai ơi. Rồi ra miệng thế lắt lay, (chứ) Cực chàng chín rưỡi (thì) khổ thiếp đây mười phần. (lời Ví phường vải) Hát Ví nói chung phong phú về làn điệu, bởi như đã nói, mỗi một hình thức lao động gắn với một hoặc một nhóm làn điệu hát Ví ở các vùng khác nhau lại có những đặc điểm không giống nhau do tính chất của lao động, cách hát, ngôn ngữ, thanh điệu… chi phối. Về âm nhạc của hát Ví, nhạc sĩ Lê Hàm nhận xét “Âm nhạc hát Ví thuộc hệ thống dân ca cổ, giai 12 điệu chủ yếu nằm trong ba nốt và bốn nốt (ngũ cung khuyết), một số bài trục chính là quãng bốn đúng và quãng ba thứ.
Tầm âm trong phạm vi quãng sáu, quãng bảy” [14; tr. Trong hát Ví Nghệ Tĩnh, Ví phường vải là điệu ví được coi là nổi trội nhất bởi giá trị VHNT cũng như sự tổ chức mang tính bài bản của một cuộc hát. Thông thường một cuộc hát Ví phường vải nếu đầy đủ thủ tục phải qua ba chặng. Chặng thứ nhất gồm hát dạo, hát chào mừng, hát hỏi; Chặng thứ hai quan trọng hơn gồm: hát đố, hát đối.
“Ở chặng này trai gái chỉ thử thách trí thông minh của nhau, chỉ tìm hiểu vốn kiến thức của nhau, nhưng đây là chặng quan trọng” [12; tr. Chặng thứ ba gồm hát mời, hát xe kết và hát tiễn.