Chương 1. Cơ sở lý luận về chính sách phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ trong trường đại học theo định hướng đại học nghiên cứu. Thực trạng chính sách phát triển nguồn nhân lực KH&CN trong Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội. Đề xuất chính sách phát triển nguồn nhân lực KH&CN trong Trường Đại học Khoa học Tự nhiên theo mô hình đại học nghiên cứu.
Kết luận và Khuyến nghị 15 CHUONG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VE CHÍNH SÁCH PHÁT TRIEN NGUON NHÂN LỰC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRONG TRƯỜNG ĐẠI HỌC THEO ĐỊNH HƯỚNG ĐẠI HỌC NGHIÊN CỨU 1. Một số nghiên cứu liên quan đến đại học nghiên cứu Quan điểm về đại học nghiên cứu ở trên thế giới Khái niệm DHNC xuất hiện đầu tiên ở Đức, ngay từ cuộc cách mạng nông nghiệp bởi lý do rất đơn giản là nông nghiệp có tính đặc trưng rất rõ cho từng vùng miền. Do đó, dé giảng dạy nông nghiệp phải nghiên cứu thực tế.
Từ đó DHNC được phát triển ở nhiều nước, đặc biệt là ở Mĩ và trở thành mô hình đại học đa ngành chất lượng cao của mỗi nước. Hiện nay, hệ thống giáo dục đại học của các nước trên thế giới được phân tầng rõ rệt, tạo ra một hệ thống cân băng về mục tiêu phát triển nguồn nhân lực đa dạng phục vụ xã hội; tạo động lực cho sự sáng tạo và đôi mới; tăng cường tính cạnh tranh cũng như hợp tác trong khu vực và trên toàn cầu. Phân tang giáo dục phải nằm trong quy hoạch tổng thé hay chiến lược phát triển giáo dục của mỗi quốc gia. Phân tầng giáo dục đại học được thực hiện thành công ở Mĩ, Canada, Úc, Nhật Bản, Trung Quốc và một số nước đang phát triển ở Châu Á, Châu Phi.
Trong sự phân tầng này, hệ thong giao duc bac dai hoc duoc phân thành nhiều lớp. Trên cùng là một số it DHNC (có đào tạo tiến si); sau đó là một số lượng khá lớn các trường đại học 4 năm (có đào tạo thạc sĩ); tầng dưới là các trường cao đăng. Ngoài ra tùy thuộc vào từng quốc gia mà có một số trường đặc biệt. Như vậy ĐHNC là các trường đại học đảo tạo tĩnh hoa, có gắn kết đào tạo với NCKH trình độ cao.
Vậy quan điểm về ĐHNC ở trên thế giới thế nào? Và nội dung cụ thé về các quan điểm này là gì? sẽ được trình bay dưới đây. Các đặc điểm của DHNC đã được nêu khá rõ nét trong Tuyên ngôn của Hiệp hội các trường đại học Hoa Kỳ, nhóm 8 trường đại học cua Australia, nhóm các PHNC hang đầu ở Châu Au và nhóm 9 trường đại học tinh hoa của Trung Quốc cuối năm 2013, được gọi là Tuyên ngôn Hợp Phì 2013. Tuyên ngôn Hợp Phì 2013 nhằm cam kết việc xây dựng, gìn giữ, và biểu đương những giá trị cốt lõi đã làm 16 nên giá trị cốt lõi của các trường ĐHNC và bảo đảm cho các trường ĐHNC thực hiện tốt vai trò của mình. Nội dung chính của Tuyên ngôn Hợp phì 2013 là: “các trường đại học nghiên cứu được định nghĩa bởi những cam kết nghiên cứu và xuyên suốt của họ với hoạt động NCKH, bởi sự ưu tu, bởi bề rộng và khối lượng những kết quả nghiên cứu của họ, từ giảng dạy, nghiên cứu đến gan kết với doanh nghiệp, với chính phủ và với công dong xã hội.
Việc dao tao bậc đại hoc ở các DHNC được hưởng lợi to lớn từ những cơ hội mà nhà trường mang lại cho sinh viên trong những lop học hay phòng thí nghiệm với các giáo su và nghiên cứu sinh dang làm việc ở tuyến dau của tri thức. Đào tạo sau đại học ở các ĐHNC được làm cho phong phú thêm nhờ sự gắn kết trực tiếp và mạnh mẽ của các nghiên cứu sinh trong việc thực hiện nghiên cứu, con chất lượng và năng suất của hoạt động nghiên cứu trong nhà trường thì được lợi rất nhiễu nhờ sự sáng tạo và năng lượng của các nghiên cứu sinh. Các đại học nghiên cứu thường chỉ là số ít trong hệ thống giáo duc đại học của mỗi nước, nhưng bao giờ cũng chiếm một phan đáng ké các thành quả nghiên cứu của quốc gia” [18]. Quan điểm về đại học nghiên cứu ở trong nước Theo tác giả Trương Quang Học, “khái niệm DHNC được nâng cao hơn theo triết ly giáo duc là “học dé làm những điều chưa học, học cách học suốt đời.
Muốn vậy, người thay không những phải nghiên cứu giỏi mà còn phải có cách đào tạo giỏi - đào tạo qua nghiên cứu và cho nghiên cứu. Nói một cách khái quát, trong đại học nghiên cứu, hàm lượng NCKH rất cao trong mọi lĩnh vực hoạt động” và “một trường đại học hiện đại, chất lượng cao phải là nơi giao thoa của 3 chức năng: đào tạo, nghiên cứu khoa học và phục vụ xã hội. Trong đó, nghiên cứu khoa học có tác động quyết định tới chất lượng chung của nhà trường [15]. Rat nhiều công trình nghiên cứu cũng đã đề cập về khái niệm DHNC.
Như bên cạnh việc đặt trọng tâm vào hoạt động nghiên cứu, Phạm Thị Ly phát triển khái niệm và bổ sung thêm tính chất quy tụ đội ngũ của các ĐHNC: “ĐHNC là một trường dai học đặt trọng tâm vào hoạt động nghiên cứu va dao tạo sau đại hoc, là nơi quy tụ và đào tạo giới nghiên cứu chuyên nghiệp cũng như có những kết quả nghiên cứu đóng góp cho việc phát triển tri thức của nhân loại” [19]. 17 Nguyễn Trọng Giảng (2013) tiếp cận định nghĩa ĐHNC trên cơ sở đưa ra các đặc tính quan trọng để xác định ĐHNC trong hệ thống các trường đại học: “Chất lượng nghiên cứu và sự đầu tư cho nghiên cứu; đội ngũ giảng viên giỏi; tỷ lệ sinh viên sau đại học so với sinh viên đại học; cơ chế quản trị dân chủ ” [ L4]. Trên cơ sở nghiên cứu các khái niệm và quan điểm về DHNC của các tổ chức và các nhà khoa học trong nước và trên thế giới có thé thấy quan điểm về ĐHNC trong Tuyên ngôn Hop Phi 2013 có tinh logic và có nội dung phản ánh đầy đủ nhất nội hàm của một trường ĐHNC. Chính vì vậy quan điểm này được đông đảo các nhà nghiên cứu đón nhận.
Đây cũng là cơ sở cho những nghiên cứu tiếp theo của tác giả. Một số khái niệm cơ bản của Đề tài 1. Nguôn nhân lực KH&CN Theo định nghĩa của UNESCO, nguồn nhân lực KH&CN là những người trực tiếp tham gia vào hoạt động KH&CN trong một cơ quan, tô chức và được trả lương hay thù lao cho lao động của họ, bao gồm các nhà khoa học và kỹ sư, kỹ thuật viên và nhân lực phụ trợ. Như vậy, UNESCO không phân biệt nhân lực KH&CN theo bằng cấp mà phân biệt theo công việc đảm nhiệm.
Theo định nghĩa của OECD, nguồn nhân lực KH&CN là những người đáp ứng được một trong hai điều kiện sau: i) Đã tốt nghiệp trường dao tạo trình độ nhất định về một chuyên môn KH&CN (từ công nhân có bang cấp tay nghề trở lên hay còn gọi là trình độ 3 trong hệ giáo duc dao tạo), ii) không được đào tạo chính thức nhưng làm một nghề trong lĩnh vực KH&CN mà đòi hỏi trình độ trên. Tổng hợp theo cả hai tiêu chí nói trên thì nguồn nhân lực KH&CN theo OECD bao gồm: + Những người có bằng cấp trình độ tay nghề trở lên và làm việc hoặc không làm việc trong lĩnh vực KH&CN, ví dụ, giáo sư đại học, tiến sĩ về kinh tế, bác sĩ nha khoa làm việc tại phòng khám, chuyên gia đang thất nghiệp, nữ vận động viên chuyên nghiệp và có bằng y học. 18 + Những người được coi là có trình độ tay nghề làm việc trong lĩnh vực KH&CN nhưng không có bang cap, vi dụ, nhân viên lập trình may tính, hoặc nhân lực quản lý quầy hàng nhưng không có bằng cấp. + Những người làm việc trong lĩnh vực KH&CN nhưng có trình độ kỹ năng thấp, ví dụ, thư ký của cơ quan nghiên cứu và phát triển, thủ thư trong các trường đại học.
Như vậy, nguồn nhân lực KH&CN theo OECD được hiểu theo nghĩa rất rộng, bao gồm cả những người tiềm tàng/tiềm năng chứ không chỉ là những người đang tham gia vào các hoạt động KH&CN, dé khi cần thiết có thé huy động những người tiềm tàng/tiềm năng này tham gia trực tiếp vào hoạt động KH&CN. Sử dụng cách tiếp cận OECD để xác định nguồn nhân lực KH&CN của một địa phương hay quốc gia, làm cơ sở cho việc lập kế hoạch đào tạo, phát triển; cơ sở tính toan nguồn lực đầu vào cho các hoạt động có liên quan đến trình độ, tay nghề (không giới hạn ở hoạt động KH&CN); Theo UNESCO: chỉ xác định được nguồn nhân lực KH&CN hoạt động trong lĩnh vực KH&CN mà thôi. Khi xây dựng chính sách, cần chọn lọc đối tượng mục tiêu theo tính chất công việc hay theo loại trình độ, theo lãnh thổ hay mặt cắt khác. Trong Luận văn này nguồn nhân lực KH&CN được hiểu theo định nghĩa của OECD đó là “áp hợp những nhóm người tham gia vào các hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ với các chức năng: nghiên cứu sáng tạo, giảng day, quản lý, khai thác sử dụng và tác nghiệp, góp phan tạo ra tiễn bộ của KH&CN, của sự phát triển sản xuất và xã hột”.
Theo định nghĩa trên, nguồn nhân lực KH&CN bao gồm: * Lực lượng giảng dạy được đào tạo bậc cao Đây là lực lượng đông đảo gồm những người có trình độ từ đại học trở lên. Họ làm công tác giảng dạy ở các học viện, nhà trường (cao dang, đại hoc). Lực lượng này có nghề chuyên môn là dạy học tức là nhà giáo chuyên nghiệp - các giáo sư, phó giáo sư, giảng viên đại học. Tuy nhiên họ không chỉ giảng dạy thuần tuý mà còn tham gia NCKH, hướng dẫn sinh viên, nghiên cứu sinh tham gia NCKH.
19 * Lực lượng nghiên cứu khoa học chuyên nghiệp Nhân lực KH&CN với chức năng nghiên cứu sáng tạo gọi là nhà nghiên cứu hay nhà khoa học. Các nhà nghiên cứu là những người có trình độ tương đối cao (tốt nghiệp đại học trở lên). Họ khác nhau về trình độ, chức danh, chuyên môn và thường làm việc ở các tổ chức nghiên cứu khoa học. * Lực lượng quản lý khoa học ở các loại hình cơ quan khoa học Lực lượng này bao gồm các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu làm công tác quản lý, điều hành các hoạt động KH&CN ở các cơ quan quản lý từ các Bộ, Ban, Ngành, Sở, Viện nghiên cứu, các Phòng - Ban khoa học ở các Trường.