CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VE UNG DỤNG THẺ CÂN BANG DIEM. TRONG DANH GIA THANH QUA HOAT DONG TRONG CƠ SỞ GIÁO DUC 1. TONG QUAN VE THE CAN BANG DIEM (BSC) 1. Khái niệm về thành quả hoạt động và chỉ tiêu đo lường thành.
quả hoạt động của tố chức. Khái niệm thành quả hoạt động “Thành quả hoạt động là kết quả cuối cùng. ác hoạt động sản xuất, kinh doanh, cung cắp dịch vụ của doanh nghiệp, tô chức trong một kỳ kế toán nhất định, hay thành quả hoạt động là biểu hiện bằng tiền phần chênh lệch giữa tổng doanh thu và tổng chỉ phí các hoạt động kinh tế đã được thực hiện. Thanh quả hoạt động được biểu hiện bằng lãi (nếu doanh thu lớn hơn chỉ phí) hoặc lỗ (nếu doanh thu nhỏ hơn chỉ phí).
Thành quả hoạt động bao gồm kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, kết quả hoạt động tải chính vả kết quả hoạt động khác (Nguyễn Ngọc Bích Thuy, 2016) 5. Chỉ iêu do lường thành quả hoạt động của tổ chức “Thành quả hoạt động của tổ chức thường được đánh giá dưới góc độ kết quả hoạt động tải chính và được trình bây trong các tải liệu về phân tích hoạt động kinh doanh, cung cấp dịch vụ hoặc phân tích hoạt động tải chính của tổ chứ Dựa vào việc đánh giá kết quả hoạt động (thảnh tích), tổ chức có thể hiểu rõ được thực trạng tình hình hoạt động và tiềm lực tài chính của mình, biết mình đang ở vị thế nào trong ngành và thực. lện các điều chỉnh cần tỉ nâng cao hiệu quả hoạt động trong tương lai. Tuy nhiên, việc đánh giá kết quả hoạt động lại phụ thuộc vào các thước đo phù hợp được lựa chọn.
Các thước đo truyền thống thường được sử dụng trong đánh giá kết quả hoạt động. của tổ chức là các thước đo đánh giá tình hình tài chính của tổ chức, là tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE), tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA), tỷ suất lợi nhuận trên vốn đầu tư (ROC). Các hệ số này rất dễ dàng. Tuy nhiên, các hệ số về khả năng sinh lợi không tính đến rủi ro ma tổ chức phải đối mặt, và khi tính toán thì sử dụng số liệu trong quá khứ, không thể hiện được dự báo vẻ lợi ích trong tương lai.
Hiện nay, đo lường thành quả hoạt động phải bao gồm cả thước đo tài chính và phi tải chính. Do đó, việc sử dụng BSC để đánh giá kết quả hoạt động của tổ chức thông qua bốn kỉ cạnh: tài chính, khách hàng, quy trình nội bộ, học hỏi và phát triển sẽ giúp các nhà quản lý có cái nhìn cân bằng hơn về toàn bô hoạt động của tổ chức và có thể đánh giá một cách toàn điện mức độ hoàn thành và hiệu quả của các mục tiêu đề ra (Nguyễn Ngọc Bích Thuy, 2016) 1. Thẻ cân bằng điểm và các khái niệm có liên quan Khai nigm BSC lan di lên duoc Kaplan va Norton giới thiệu vào năm 1992 như là một khung quản trị chiến lược dựa trên sự cân bằng của bốn trụ cột. Ngay sau đó, BSC đã nhanh chóng được áp dung rộng rãi trong các cơ cquan, đoanh nghiệp.
Khái niệm BSC Theo Kaplan và Norton (1992), BSC là một hệ thống nhằm chuyển hoá. tâm nhìn và el lược của tổ chức thành những mục tiêu và thước đo cụ thể thông qua việc thiết lập một hệ thống để đo lường thành quả hoạt động trong một tổ chức trên bốn phương diện: tải chính, khách hang, quy trình hoạt đông. nội bộ và học hỏi - phát triển Theo Nguyễn Tuân (2013): *BSC là một hệ thống quản lý (chứ không chỉ là một hệ thống đo lường) giúp cho tổ chức xác định rõ tằm nhin va cl lược và chuyển chúng thành hành động. Nó cung cấp các thông tin phản hồi cä về các quá trình kinh doanh nội bộ và các kết quả để cải tiến liên tục các kết quả và hiệu quả về mặt chiến lược.” Báo Diễn đàn Doanh nghiệp (2015) lại có bài viết: * BSC và điều kiện tiên quyết để triển khai BSC thinh công”, trong 46 nhan dinh: “BSC 1a 1 Hệ thống các đồng hồ đo lường các nguồn lực đầu vào, lộ trình chiến lược, vận.
bành và kết quả đền ra”. Theo Nguyễn Cửu Đỉnh và Nguyễn Thị Bich Vân (2017) thì BSC là một hệ thống quản lý giúp cho nhà quản trị cũng như toàn bộ nhân viên trong tổ chức xác định rõ tầm nhìn, chiến lược của tổ chức mình vả chuyển. chúng thảnh hành động. BSC cung cắp các thông tin phản hồi về ác quá trình hoạt động trong nội bộ cũng như các kết quả đạt được, từ đó giúp toàn bộ nhân viên trong tổ chức có những cải tiến liên tục nhằm đạt được kết quả như tong muốn.
'BSC đã giải quyết hiệu quả hạn chế của các thước đo tài chính mang. tính ngắn hạn và phản ánh kết quả quá khứ bằng việc bổ sung các thước đo là động lực phát triển doanh nghiệp trong tương lai. Các mục tiêu và thước do trong BSC bắt nguồn từ tầm nhìn và chiến lược của tổ chức. Các mục tiêu và thước đo đánh giá hiệu quả của một tổ chức từ 4 phương diện: tài chính, khách hàng, quy trình hoạt động nội bộ, học hỏi và phát triển được minh hoa qua Hình 1.
Mô hình chuyển đỗi tầm nhìn và chiến lược qua 4 phương diện Ngudn: Kaplan Robert S. (2010), Conceptual Foundations of the Balanced Scorecard, Harvard Business Review Theo Kaplan va Norton (1992), bén phương diện của BSC giúp một doanh nghiệp tạo ra sự cân bằng giữa: ~_ Cân bằng giữa mục tiêu ngắn hạn và mục tiêu dài hạn. ~_ Cân bằng giữa những đánh giá bên ngoài liên quan đến cổ đông, KH và những đánh giá nội bộ liên quan đến quy trình xử lý, đổi mới, đảo tạo và phát triển ~_ Cân bằng giữa kết quả mong muốn đạt được (tương lai) - những kết quả trong thực tế (quá khứ). ~_ Cân bằng giữa những đánh giá khách quan vả chủ quan.
Các khái niệm có liên quan - Tầm nhìn “Tầm nhìn phác họa những gì mà tổ chức muốn đạt được sau một khung. thời gian cụ thể. Một tầm nhìn mô tả những gì mà tổ chức sẽ đạt được nếu thành công. Tâm nhìn có thể thúc đẩy sự phát triển của tổ chức nếu nó được.
tuyên bố đủ rõ rằng và có giới han thời gian. Nó được ví như là một bản đỏ chỉ ra lộ trình một tổ chức dự định để phát triển và cung cấp một sự chỉ dẫn hợp lý cho việc đi đến đâu. Theo Johnson và Scholes (1999) định nghĩa: "Chiến lược là định hướng và phạm vi của một tô chức về dài hạn nhằm giành lợi thể cạnh tranh trong to chức thông qua việc định dạng các nguồn lực của nó trong môi trường thay đổi để đáp ứng nhủ cầu thị trường và (hỏa mãn mơng đợi của các bên hữu quan”. ~ Bản đồ chiến lược Bản đồ chiến lược là công cu kết nối giữa chiến lược và thẻ cân bing điểm, kết nối giữa văn bản chiến lược và kế hoạch triển khai hoạt động thực tế.
Bản đổ chiến lược trình bày bằng sơ đỏ trong một trang giấy về điều phải lim trong các phương diện (viỄn cảnh) để thực thỉ thành công chiến lược. Đó là các mục tiêu, các tuyên bố ngắn hạn đóng vai trò như những công cụ truyền bá mạnh mẽ, vạch ra các mục tiêu quan trọng cho sự thành công và liên kết quan trọng trong chuỗi quản lý hiệu suất của một tổ chức. chiến lược hoạt động phối hợp với các thước đo trong thẻ cân bằng điểm sẽ: làm sáng tỏ, giải quyết và hạn chế được các vấn để và khó khăn trong công tác quản lý. Nó hoạt động như hệ thống cảnh báo sớm về chiến lược của tổ chức, báo hiệu khi các chỉ số cho thấy có vấn đẻ với bat cứ yếu tố nào của hoạch mà đã được thiết ;iúp phát triển tổ chức tốt hơn.
Bồn viễn cảnh thường được sử dụng trong các tổ chức là: tài chính, khách hàng, quy trình nội bộ, đào tạo và phát triển. Tuy nhiên, bốn viễn cảnh. này “nên được coi như bản mẫu chứ không phải là sự trói buộc”. chức phát triển thêm những viễn cảnh khác như sự đổi mới, nghiên cứu và pháttriển, môi trường, nhà cung cấp.
= Mue tiéu Mục tiêu được cụ thể hóa từ chiến lược của tổ chức. Các mục tiêu làm cho các kết quả được tạo ra từ việc đo lường trở nên có ý nghĩa và cho biết tổ chức có đang làm tốt công việc hay không (Mai Thị Thu Hằng, 2016). - Thước do Các thước đo được diễn giải trực tiếp từ các mục tiêu trong Bản đồ chiến. lược nhằm xác định xem doanh nghiệp có đạt được mục tiêu vả tiền tới thực thỉ thành công chiến lược hay không.
Chúng đóng vai trỏ là công cụ din hướng, cho các hành động mong muốn, cho tất cả nhân viên để họ thấy có thể giúp đồng góp vào các mục tiêu chung của tổ chức và đưa ra công cụ để xác định tiến trình chung hướng tới mục tiêu chiến lược (Mai Thị Thu Hằng, 2016). Vải trò cia BSC -__BSC là một hệ thống do lường: Những phép đo tải chính - còn được gọi là những “chỉ số trễ" ~ phản ánh được kết quả hoạt động từ trong quá khứ của tổ chức, nhưng với những cách thức tạo ra giá trị trong hiện tại và tương lai, tài sản vô hình, tạo thương hiệu hay giá trị thực của tổ chức thì lại không, phù hợp. BSC bổ sung cho các phép đo tài chính bằng việc đo lường hiệu qua kinh tế trong tương lai của tổ chức, được gọi là "chí số sớm”. Các chỉ số trễ và chỉ số sớm này được áp dụng để đo lường hiệu quả như thể nào là tủy vào.
chiến lược phát triển của tổ chức. Các thước đo trong BSC cũng là cách làm rõ chiến lược và mục tiêu của tổ chức. - BSC là một hệ thống quản lý chiến lược: Trong quá trình áp dụng. BSC nhằm đạt được mục tiêu đề ra, bên cạnh việc xây dựng hệ thống các phép đo, chỉ số để đo lường hiệu quả các chiến lược đã để ra, ác tổ chức còn sử dụng BSC để liên kết các hoạt động trong ngắn hạn với chiến lược dải hạn của tổ chức, cụ thể hóa chiến lược của tô chức, in BSC trở thành công cụ quản lý chiến lược hiệu quả.
- BSC gitip vugt qua rao căn định hướng bằng cách giải thích các chiến lược: Bằng cách cụ thể hóa các chiến lược thành các chỉ tiêu, phép đo.