Tổng quan về luận án

Trong kỷ nguyên toàn cầu hóa và cách mạng công nghiệp lần thứ tư, hợp tác quốc tế trong giáo dục đại học không chỉ đơn thuần là hoạt động trao đổi học thuật mà đã trở thành công cụ chiến lược trong chính sách đối ngoại, chuyển giao tri thức và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Đối với các quốc gia đang phát triển như Việt Nam, liên kết giáo dục đại học với các cường quốc công nghệ đóng vai trò là đòn bẩy nâng cao năng lực nội sinh, rút ngắn khoảng cách khoa học công nghệ. Ngược lại, đối với các quốc gia phát triển như Nhật Bản, giáo dục đại học xuyên biên giới là phương thức truyền bá văn hóa, gia tăng quyền lực mềm (soft power) và mở rộng ảnh hưởng địa - chính trị, địa - kinh tế.

Mặc dù quan hệ Đối tác chiến lược sâu rộng giữa Việt Nam và Nhật Bản đã phát triển mạnh mẽ trên nhiều phương diện kinh tế, an ninh và ngoại giao, mảng nghiên cứu về hợp tác giáo dục đại học giữa hai nước phần lớn vẫn dừng lại ở các bài viết mang tính sự vụ, phân tích chính sách đơn lẻ hoặc tiếp cận dưới dạng báo cáo tổng kết hành chính. Thiếu vắng một công trình nghiên cứu hệ thống, toàn diện dưới lăng kính lý thuyết Quan hệ quốc tế và Quốc tế học. Luận án tiến sĩ của Nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Thanh Tú với đề tài "Hợp tác giáo dục Việt Nam - Nhật Bản ở bậc đại học giai đoạn 2002 - 2020" (chuyên ngành Quan hệ quốc tế, mã số 931060101, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội) đã giải quyết triệt để khoảng trống học thuật này.

Luận án tập trung giải quyết 4 câu hỏi nghiên cứu cốt lõi:

  1. Cơ sở lý luận và thực tiễn nào chi phối quá trình xác lập và vận hành mối quan hệ hợp tác giáo dục đại học giữa Việt Nam và Nhật Bản?
  2. Quá trình triển khai chính sách và các mô hình hợp tác giáo dục đại học giữa hai quốc gia trong giai đoạn 2002 - 2020 đã diễn biến như thế nào qua hai phân kỳ 2002 - 2009 và 2010 - 2020?
  3. Những thành tựu đột phá, hạn chế nội tại và các nhân tố thúc đẩy/cản trở hợp tác giáo dục đại học song phương là gì?
  4. Đâu là triển vọng, cơ hội, thách thức và các hàm ý chính sách mang tính chiến lược nhằm thúc đẩy hợp tác giáo dục đại học Việt Nam - Nhật Bản trong giai đoạn 2021 - 2030?

Để trả lời các câu hỏi trên, luận án xây dựng hai giả thuyết nghiên cứu chính:

  • Giả thuyết 1 (H1): Hợp tác giáo dục đại học Việt Nam - Nhật Bản chịu sự tương tác đồng thời giữa động lực gia tăng sức mạnh mềm của Nhật Bản và nhu cầu hiện đại hóa giáo dục, đào tạo nhân lực kỹ thuật cao của Việt Nam trong bối cảnh quốc tế hóa giáo dục.
  • Giả thuyết 2 (H2): Sự chuyển biến trong quan hệ ngoại giao từ "Đối tác tin cậy, ổn định lâu dài" (2002) sang "Đối tác chiến lược sâu rộng vì hòa bình và thịnh vượng ở châu Á" (2014) tỷ lệ thuận với mức độ đa dạng hóa thể chế, chiều sâu học thuật và quy mô liên kết giáo dục đại học giữa hai nước.

Phạm vi nghiên cứu của luận án được xác định rõ ràng: Về không gian là hai quốc gia Việt Nam và Nhật Bản; về thời gian là giai đoạn 2002 - 2020, khởi đầu từ chuyến thăm của Thủ tướng Nhật Bản Koizumi Junichiro năm 2002 đặt nền móng quan hệ đối tác tin cậy và khép lại ở năm 2020 với sự hoàn thành các mục tiêu giáo dục thập kỷ, đồng thời mở rộng khung dự báo đến năm 2030 đồng nhịp với Chiến lược phát triển giáo dục - đào tạo Việt Nam 2021 - 2030 của Bộ Giáo dục và Đào tạo (Bộ GD&ĐT).

Literature Review và Positioning

Tổng quan tình hình nghiên cứu về hợp tác giáo dục đại học quốc tế và quan hệ Việt Nam - Nhật Bản có thể được phân loại thành bốn dòng học thuật (academic streams) chủ lưu:

Dòng nghiên cứu thứ nhất tập trung vào lý luận quốc tế hóa giáo dục và giáo dục đại học xuyên biên giới (Cross-border Higher Education - CBHE). Jane Knight (1997, 2003, 2007, 2015) là học giả tiên phong xác lập nền tảng khái niệm, khẳng định hợp tác giáo dục đại học xuyên biên giới là một loại hình vận hành mới về chương trình, tổ chức quản lý nhằm đáp ứng nhu cầu người học không có điều kiện du học trực tiếp. Sheila Trahar (2015) bổ sung chiều kích thích ứng văn hóa và khác biệt chính sách khi các chương trình giáo dục xuyên quốc gia vận hành ở những môi trường thể chế khác nhau. Jamil Salmi (2008) phân tích thách thức xây dựng trường đại học đẳng cấp quốc tế, nhấn mạnh quốc tế hóa là điều kiện sinh tồn để duy trì năng lực cạnh tranh học thuật.

Dòng nghiên cứu thứ hai bàn về kinh tế chính trị và quyền lực mềm trong hợp tác giáo dục. Kenneth King (2009) và Gu Jianxin (2009) chỉ ra tính chất hai mặt của giáo dục xuyên quốc gia: vừa thúc đẩy chuyển giao công nghệ, xây dựng năng lực và tạo doanh thu kinh tế, vừa tiềm ẩn nguy cơ xói mòn chủ quyền giáo dục và đe dọa an ninh văn hóa của các nước tiếp nhận. John Chetro-Szivos (2010) cùng Barnita Bagchi và các cộng sự (2014) phân tích vai trò của trao đổi giáo dục trong việc thúc đẩy hiểu biết liên văn hóa và dịch chuyển từ xã hội công nghiệp sang xã hội tri thức.

Dòng nghiên cứu thứ ba phân tích chính sách hợp tác giáo dục quốc tế của Nhật Bản và vai trò của viện trợ ODA. Kuroda Norihiro (2005), Yasuo Saito (2009), Nobuko Kayashima (2018), Nobuko Kayashima và Kazuo Kuroda (2019) đã hệ thống hóa lịch sử hơn 60 năm hợp tác giáo dục của Nhật Bản từ hỗ trợ kỹ thuật ban đầu sang liên kết đại học toàn cầu. Các báo cáo của Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA, 2003, 2019, 2022) và Bộ Ngoại giao Nhật Bản (MOFA, 2021) làm rõ sự phối hợp giữa viện trợ không hoàn lại, vốn vay ODA và các dự án kỹ thuật nhằm xây dựng năng lực thể chế cho đối tác.

Dòng nghiên cứu thứ tư khảo sát thực trạng giáo dục và hợp tác nhân lực Việt Nam - Nhật Bản. Tại Việt Nam, các công trình của Nghiêm Đình Vì (2003), Nguyễn Văn Khánh (2006), Ngô Hương Lan (2008), Hoàng Minh Lợi (2013, 2016), Trần Mỹ Hoa (2016) và Lê Thị Viên Anh (2019) đã ghi nhận sự phát triển của các chương trình đào tạo nguồn nhân lực và học bổng. Về phía các học giả Nhật Bản, Sekiguchi Yohei (2014) đánh giá chiến lược quốc tế hóa giáo dục đại học của Việt Nam dưới cơ chế thị trường; Tetsuro Saisho (2010) và Kohei Yamamoto (2018) khảo sát thực trạng đào tạo tiếng Nhật gắn với nhu cầu tuyển dụng kỹ sư của các doanh nghiệp Nhật Bản; Chuman Ai (2019) mổ xẻ những vấn đề bất cập xung quanh du học sinh tự túc và học bổng ngân sách.

Từ tổng quan tài liệu, luận án xác định hai cuộc tranh luận học thuật lớn:

  • Tranh luận 1: Viện trợ giáo dục vị tha (Altruistic Aid) đối lập với Công cụ bành trướng quyền lực mềm và thương mại hóa (Commodification). Một trường phái xem hợp tác đại học là sự hỗ trợ phát triển thuần túy; trường phái phê phán (Critical Perspective) cho rằng đây là chiến lược xuất khẩu dịch vụ giáo dục và mở rộng ảnh hưởng chính trị của các nước phát triển.
  • Tranh luận 2: Nâng cao năng lực nội sinh (Capacity Building) đối lập với Chảy máu chất xám (Brain Drain). Sự gia tăng sinh viên và chuyên gia sang Nhật Bản mang lại cơ hội tuần hoàn tri thức (brain circulation) nhưng đồng thời tạo ra nguy cơ thất thoát nhân lực kỹ thuật cao khi tỷ lệ sinh viên ở lại thị trường lao động Nhật Bản ngày càng tăng.

So sánh với các nghiên cứu quốc tế, chẳng hạn như nghiên cứu của Xu, D. (2019) về quản lý giáo dục xuyên biên giới tại Trung Quốc hay công trình của Alberto Amaral và các cộng sự (2016) về sự dịch chuyển ranh giới thể chế đại học tại Bồ Đào Nha, luận án định vị mình là công trình đầu tiên phân tích mô hình hợp tác giáo dục đại học song phương giữa một nước phát triển (Nhật Bản) và một nước đang phát triển (Việt Nam) dưới góc độ tương tác đa tầng của ngành Quan hệ quốc tế.

Đóng góp lý thuyết và khung phân tích

Đóng góp cho lý thuyết

Luận án đóng góp vào hệ thống lý luận quan hệ quốc tế và quản trị giáo dục đại học thông qua việc tích hợp ba trường phái lý thuyết nền tảng:

  • Chủ nghĩa Hiện thực (Realism): Luận giải động cơ của Nhật Bản trong việc sử dụng hợp tác giáo dục như một công cụ ngoại giao công chúng nhằm khuếch trương sức mạnh mềm, cạnh tranh vị thế chiến lược tại khu vực Đông Nam Á, đồng thời phản ánh tính toán lợi ích quốc gia của Việt Nam trong việc tiếp cận công nghệ cao để củng cố sức mạnh tổng hợp quốc gia.
  • Chủ nghĩa Tự do (Liberalism / Neoliberal Institutionalism): Làm sáng tỏ cơ chế hợp tác cùng có lợi (mutual gains) và tính phụ thuộc lẫn nhau phức tạp (complex interdependence). Giáo dục đại học đóng vai trò là thể chế phi chính phủ kết nối mạng lưới học thuật, giảm thiểu bất đối xứng thông tin và tạo nền tảng cho hợp tác kinh tế - an ninh bền vững.
  • Chủ nghĩa Kiến tạo (Constructivism): Phân tích sự hình thành các chuẩn mực chung, sự hiểu biết liên văn hóa và quá trình tái định hình bản sắc (identity formation) thông qua giao lưu học thuật, trao đổi giảng viên và sinh viên giữa hai quốc gia có sự tương đồng nhất định về văn hóa Á Đông.

Khung phân tích độc đáo

Luận án thiết lập một khung phân tích đa tầng (Multi-level Analytical Framework) kết hợp ba cấp độ phân tích trong Quốc tế học:

  1. Cấp độ quốc tế (Systemic/International Level): Bối cảnh toàn cầu hóa giáo dục, cam kết của Hiệp định chung về Thương mại Dịch vụ (GATS) của WTO, và các sáng kiến liên kết khu vực (ASEAN+3, EAS).
  2. Cấp độ quốc gia (State/National Level): Khung khổ chính sách song phương giữa Chính phủ hai nước, các thỏa thuận giữa Bộ Ngoại giao (MOFA), Bộ Giáo dục Nhật Bản (MEXT) và Bộ GD&ĐT Việt Nam; sự điều phối của các cơ quan phát triển như JICA, Quỹ Nhật Bản (JF), Tổ chức Hỗ trợ Sinh viên Nhật Bản (JASSO) và Tổ chức Xúc tiến Thương mại Nhật Bản (JETRO).
  3. Cấp độ cá nhân và cơ sở giáo dục (Sub-national / Institutional / Individual Level): Vai trò lãnh đạo của các nhà hoạch định chính sách, sự chủ động của các trường đại học nòng cốt (Đại học Bách khoa Hà Nội, Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Cần Thơ...) và hành vi của người học, giảng viên.

Điều kiện biên (boundary conditions) của mô hình là sự gắn kết hữu cơ giữa liên kết giáo dục với mức độ tin cậy chính trị và dòng vốn ODA/FDI song phương.

Phương pháp nghiên cứu tiên tiến

Thiết kế nghiên cứu

Luận án áp dụng lập trường nhận thức luận kết hợp giữa thuyết Diễn giải (Interpretivism) và Thuyết Hiện thực Phê phán (Critical Realism). Thiết kế nghiên cứu mang tính liên ngành, đa phương pháp, phối hợp giữa nghiên cứu lịch sử ngoại giao, phân tích chính sách công và nghiên cứu tình huống điển hình (case studies).

Quy trình nghiên cứu rigorous

Quy trình thu thập và xử lý dữ liệu tuân thủ chuẩn mực học thuật quốc tế nghiêm ngặt:

  • Dữ liệu sơ cấp (Primary Data): Khảo sát các hiệp định ngoại giao, tuyên bố chung giữa Lãnh đạo cấp cao hai nước; các văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội, Chính phủ và Bộ GD&ĐT Việt Nam (như Luật Giáo dục đại học 2012, sửa đổi 2018); các báo cáo chiến lược của MEXT, MOFA, JICA và JETRO bằng tiếng Việt, tiếng Anh và tiếng Nhật.
  • Dữ liệu thứ cấp (Secondary Data): Các công trình nghiên cứu của học giả trong nước và quốc tế, kỷ yếu hội thảo khoa học kỷ niệm 30, 40, 45 năm quan hệ ngoại giao song phương.
  • Tam giác hóa dữ liệu (Data Triangulation): Đối chiếu chéo giữa số liệu thống kê của Bộ GD&ĐT Việt Nam với số liệu của JASSO, MEXT và các cơ quan kiểm định độc lập nhằm triệt tiêu sai số.

Data và phân tích

Phương pháp phân tích lịch sử và logic được sử dụng để phân kỳ quá trình hợp tác:

  • Giai đoạn 2002 - 2009: Khởi động khuôn khổ đối tác tin cậy, tập trung vào hỗ trợ kỹ thuật và viện trợ ODA truyền thống.
  • Giai đoạn 2010 - 2020: Nâng cấp lên quan hệ đối tác chiến lược sâu rộng, đa dạng hóa mô hình liên kết đào tạo, chuyển giao chương trình và thành lập cơ sở đại học xuất sắc.

Phương pháp phân tích SWOT được ứng dụng để đánh giá điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của hệ thống hợp tác giáo dục đại học hai nước. Các biến số về số lượng du học sinh, dự án ODA giáo dục và chương trình đào tạo liên kết được tổng hợp, so sánh qua các mốc thời gian thực tế.

Phát hiện đột phá và implications

Những phát hiện then chốt

Thứ nhất, sự chuyển dịch từ viện trợ kỹ thuật một chiều sang mô hình đồng sáng tạo và đồng quản trị đại học xuất sắc. Giai đoạn 2002 - 2020 chứng kiến sự phát triển vượt bậc từ các chương trình viện trợ thiết bị đơn lẻ sang 5 trụ cột hợp tác chiến lược được ghi nhận trong các báo cáo của JICA (2022):

"Sự hỗ trợ của JICA về phát triển nguồn nhân lực cho Việt Nam trong giai đoạn 2000-2020 được đánh dấu bằng 5 nỗ lực chính: i. Cam kết mạnh mẽ phát triển Viện Phát triển Nguồn Nhân lực Việt Nam - Nhật Bản (VJCC); ii. Cam kết lâu dài về phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong các cơ quan quản lý nhà nước thông qua học bổng Phát triển nguồn nhân lực Việt Nam - JDS; iii. Phát triển nguồn nhân lực về kỹ thuật công nghệ và CNTT trong các dự án hỗ trợ Trường Đại học Bách khoa Hà Nội; iv. Đóng góp quan trọng để phát triển nguồn nhân lực cho Đồng bằng sông Cửu Long (từ năm 2015) tại Trường Đại học Cần Thơ; v. Đầu tư chiến lược để phát triển Đại học Việt Nhật (VJU) như một mô hình đại học xuất sắc, thúc đẩy chuyên môn và chuyển giao công nghệ quan trọng giữa Nhật Bản và Việt Nam..." [JICA, 2022, tr. 42]

Thứ hai, sự gia tăng đột biến về quy mô lưu học sinh Việt Nam tại Nhật Bản gắn liền với tái cơ cấu thị trường lao động. Theo số liệu nghiên cứu của Sekiguchi Yohei (2014):

"Số lượng du học sinh Việt Nam tại Nhật Bản năm 2012 là 4.373 người đứng hàng thứ tư và năm 2013 tăng lên đến 6.290 người đứng hàng thứ ba." [Sekiguchi Yohei, 2014, tr. 38] Đà tăng trưởng này liên tục được đẩy mạnh trong giai đoạn 2014 - 2020, đưa Việt Nam trở thành một trong những quốc gia có số lượng du học sinh lớn nhất tại Nhật Bản, phản ánh nhu cầu kép: người học Việt Nam tìm kiếm cơ hội việc làm và các tập đoàn Nhật Bản khát khao nhân lực kỹ thuật cao (Tetsuro Saisho, 2010; Kohei Yamamoto, 2018).

Thứ ba, sự hình thành hành lang pháp lý chuẩn hóa giáo dục đại học xuyên biên giới. Theo quy định tại Luật Giáo dục đại học sửa đổi:

"Hợp tác giáo dục nước ngoài được hiểu là việc hợp tác đào tạo giữa cơ sở giáo dục đại học được thành lập ở Việt Nam với cơ sở giáo dục đại học nước ngoài nhằm thực hiện chương trình đào tạo để cấp văn bằng hoặc cấp chứng chỉ, nhưng không hình thành pháp nhân mới." [Luật Giáo dục đại học Việt Nam, 2018] Khung pháp lý này đã tạo tiền đề cho hàng loạt chương trình liên kết đào tạo kỹ sư công nghệ thông tin, cơ điện tử, điều dưỡng giữa các trường đại học hàng đầu của hai nước.

Thứ tư, nhận diện các điểm nghẽn thể chế và nghịch lý năng lực vận hành. Bên cạnh thành tựu, luận án phát hiện những hạn chế cấu trúc: quy mô hợp tác chưa tương xứng với tiềm năng đối tác chiến lược sâu rộng; các chuyên ngành hợp tác còn thiên lệch về khoa học kỹ thuật và tiếng Nhật, thiếu vắng các ngành khoa học xã hội và quản trị tiên tiến; năng lực quản lý dự án quốc tế của các cơ sở giáo dục Việt Nam còn khoảng cách lớn so với phía Nhật Bản, dẫn đến tình trạng chậm tiến độ giải ngân vốn viện trợ và tỷ lệ chuyển giao công nghệ chưa đạt mức tối ưu.

Implications đa chiều

  • Hàm ý lý thuyết: Khẳng định tính tương thích của mô hình kết hợp Chủ nghĩa Hiện thực và Chủ nghĩa Kiến tạo trong giải thích chính sách ngoại giao văn hóa và giáo dục ở các nước đang phát triển.
  • Hàm ý phương pháp luận: Cung cấp khung phân tích 3 cấp độ (quốc tế - quốc gia - cơ sở) có thể nhân rộng để nghiên cứu hợp tác giáo dục giữa Việt Nam với các đối tác chiến lược khác như Hoa Kỳ, Pháp, Đức, Hàn Quốc.
  • Hàm ý thực tiễn: Chỉ ra mô hình liên kết đào tạo tích hợp "Trường Đại học - Doanh nghiệp" (như mô hình Viện VJCC và Trường Đại học Bách khoa Hà Nội) là hướng đi hiệu quả nhất để giải quyết bài toán việc làm sau tốt nghiệp.
  • Hàm ý chính sách: Đề xuất Chính phủ Việt Nam cần hoàn thiện cơ chế tự chủ đại học, đơn giản hóa thủ tục phê duyệt dự án ODA giáo dục; đồng thời kiến nghị phía Nhật Bản mở rộng quỹ học bổng sau đại học (Thạc sĩ, Tiến sĩ) thay vì chỉ ưu tiên đào tạo nhân lực thực hành ngắn hạn.

Limitations và Future Research

Luận án thừa nhận một số giới hạn nghiên cứu khách quan:

  1. Giới hạn khung thời gian: Dữ liệu dừng lại ở năm 2020, chưa bao quát toàn diện tác động gián đoạn của đại dịch COVID-19 đối với hoạt động trao đổi sinh viên và các phương thức đào tạo trực tuyến giai đoạn 2020 - 2022.
  2. Nguồn dữ liệu vi mô: Nghiên cứu chủ yếu dựa trên tài liệu lưu trữ chính sách, báo cáo cấp bộ và dữ liệu thống kê thể chế, chưa tiến hành điều tra bảng hỏi diện rộng (survey) đối với toàn bộ cộng đồng cựu du học sinh và sinh viên theo học chương trình liên kết.
  3. Rào cản tiếp cận tư liệu cấp trường: Dữ liệu về hoạt động hợp tác tại một số trường đại học tư thục và đại học địa phương của Nhật Bản chưa được khai thác đồng đều do rào cản lưu trữ phân tán.

Chương trình nghiên cứu tương lai (Future Research Agenda):

  • Thực hiện các nghiên cứu theo dõi dọc (longitudinal tracer studies) đánh giá tác động nghề nghiệp của cựu sinh viên nhận học bổng JDS và sinh viên tốt nghiệp Đại học Việt Nhật.
  • Khảo sát ứng dụng công nghệ giáo dục (EdTech) và chuyển đổi số trong liên kết đại học Việt - Nhật (dựa trên các gợi mở từ khảo sát của JETRO, 2021b).
  • Nghiên cứu so sánh đối sánh (comparative study) giữa mô hình hợp tác giáo dục đại học Việt - Nhật với mô hình Việt - Pháp (Đại học Khoa học và Công nghệ Hà Nội - USTH) và Việt - Đức (Đại học Việt Đức - VGU).

Tác động và ảnh hưởng

  • Giá trị học thuật: Là tài liệu tham khảo nền tảng cho các viện nghiên cứu quốc tế, chuyên gia quan hệ quốc tế, Nhật Bản học và các nghiên cứu sinh chuyên ngành Quốc tế học tại Việt Nam.
  • Tác động chính sách: Cung cấp cơ sở khoa học và dữ liệu thực chứng cho Bộ Ngoại giao, Bộ GD&ĐT Việt Nam, cũng như Đại sứ quán Nhật Bản, MEXT và JICA trong quá trình đàm phán, hoạch định Chiến lược hợp tác giáo dục giai đoạn 2021 - 2030.
  • Chuyển giao công nghiệp và R&D: Thúc đẩy mạng lưới kết nối giữa các trường đại học kỹ thuật Việt Nam với các tập đoàn công nghiệp Nhật Bản, trực tiếp phục vụ các dự án đầu tư FDI chất lượng cao.
  • Tác động xã hội và ngoại giao nhân dân: Góp phần củng cố mối quan hệ hữu nghị truyền thống, gia tăng sự hiểu biết văn hóa và niềm tin chiến lược giữa nhân dân hai nước.

Đối tượng hưởng lợi

  • Nghiên cứu sinh và học viên cao học: Tiếp cận khung lý thuyết tích hợp và hệ thống tài liệu tham khảo chuẩn mực về ngoại giao giáo dục.
  • Giảng viên, nhà nghiên cứu: Sử dụng dữ liệu thực chứng và phương pháp phân tích đa tầng để phát triển các đề tài khoa học chuyên sâu về Nhật Bản học và chính sách đối ngoại.
  • Lãnh đạo các trường đại học: Vận dụng các bài học kinh nghiệm về quản lý chương trình liên kết quốc tế, xây dựng tiêu chuẩn kiểm định chất lượng đào tạo theo chuẩn MEXT và Bộ GD&ĐT.
  • Các nhà hoạch định chính sách giáo dục và ngoại giao: Tham khảo các nhóm giải pháp thể chế để tối ưu hóa nguồn lực viện trợ ODA giáo dục và ngăn chặn tình trạng chảy máu chất xám.

Câu hỏi chuyên sâu

  1. Đóng góp lý thuyết độc đáo nhất của luận án là gì? Luận án đã mở rộng Lý thuyết Sức mạnh mềm của Joseph Nye và Lý thuyết Thể chế tự do của Robert Keohane bằng cách chứng minh rằng: trong quan hệ giữa một nước phát triển và một nước đang phát triển, hợp tác giáo dục đại học không vận hành theo cơ chế áp đặt một chiều mà là một quá trình đàm phán lợi ích tương hỗ (reciprocal interest accommodation). Trong đó, nước tiếp nhận chủ động sử dụng thể chế liên kết để nâng cấp năng lực nội sinh thay vì rơi vào tình trạng phụ thuộc học thuật.

  2. Điểm đổi mới phương pháp luận so với các công trình đi trước? So với nghiên cứu của Lê Thị Viên Anh (2019) chỉ phân tích sự kiện ngoại giao thuần túy, hay công trình của Chuman Ai (2019) chỉ khảo sát diện hẹp du học sinh, luận án của Nguyễn Thị Thanh Tú áp dụng khung phân tích 3 cấp độ của Kenneth Waltz/David Singer vào Quốc tế học, kết hợp tam giác hóa dữ liệu đa ngữ (Việt - Nhật - Anh) từ các kho tư liệu lưu trữ của MOFA, MEXT và JICA.

  3. Phát hiện bất ngờ nhất từ dữ liệu thực tế là gì? Mặc dù số lượng sinh viên Việt Nam sang Nhật Bản tăng vọt (đứng trong top 3 quốc gia có lưu học sinh đông nhất tại Nhật Bản từ năm 2013), phần lớn sự gia tăng này lại đến từ khối du học sinh tự túc học tiếng và kỹ năng nghề, trong khi tỷ lệ sinh viên theo học các chương trình nghiên cứu sau đại học chất lượng cao (Thạc sĩ, Tiến sĩ) có xu hướng đi ngang nếu không có sự tài trợ của các học bổng chính phủ như JDS hay MEXT.

  4. Luận án có cung cấp quy trình nhân rộng (Replication Protocol) không? Có. Quy trình phân kỳ lịch sử gắn với các mốc ngoại giao (2002: Đối tác tin cậy; 2009: Đối tác chiến lược; 2014: Đối tác chiến lược sâu rộng) kết hợp ma trận phân tích chính sách công có thể áp dụng trực tiếp để phân tích quan hệ giáo dục của Việt Nam với các đối tác khác như Hàn Quốc, Úc hoặc Hoa Kỳ.

  5. Kế hoạch nghiên cứu 10 năm (2021 - 2030) được phác thảo như thế nào? Luận án vạch ra lộ trình nghiên cứu tập trung vào 3 hướng chính: (1) Đánh giá hiệu quả mô hình tự chủ của Đại học Việt Nhật (VJU); (2) Tác động của chính sách thị trường lao động mới của Nhật Bản (chương trình kỹ năng đặc định Tokutei Gino) đối với định hướng đào tạo đại học tại Việt Nam; (3) Chiến lược phát triển giáo dục đại học số và công nghệ giáo dục (EdTech) song phương.

Kết luận

Luận án "Hợp tác giáo dục Việt Nam - Nhật Bản ở bậc đại học giai đoạn 2002 - 2020" của tác giả Nguyễn Thị Thanh Tú là một công trình khoa học công phu, nghiêm túc và có hàm lượng học thuật cao. Những đóng góp cốt lõi của luận án bao gồm:

  1. Hệ thống hóa và làm sáng tỏ cơ sở lý luận về hợp tác giáo dục đại học quốc tế dưới lăng kính Quan hệ quốc tế và Quốc tế học.
  2. Tái hiện bức tranh toàn cảnh, chân thực về thực trạng hợp tác giáo dục đại học Việt - Nhật qua hai thập kỷ bản lề (2002 - 2020) với đầy đủ dữ liệu thống kê và căn cứ pháp lý.
  3. Nhận diện chính xác 5 trụ cột hợp tác mang tính biểu tượng (VJCC, JDS, Đại học Bách khoa Hà Nội, Đại học Cần Thơ, Đại học Việt Nhật) và đánh giá khách quan cả thành tựu lẫn rào cản thể chế.
  4. Mở ra hướng tiếp cận lý thuyết đa tầng, tích hợp giữa Chủ nghĩa Hiện thực, Chủ nghĩa Tự do và Chủ nghĩa Kiến tạo trong nghiên cứu chính sách đối ngoại văn hóa - giáo dục.
  5. Đề xuất hệ thống giải pháp và hàm ý chính sách khả thi, đồng bộ cho giai đoạn 2021 - 2030, phục vụ đắc lực cho công cuộc đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục đại học Việt Nam và làm sâu sắc hơn quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện vì hòa bình và thịnh vượng tại châu Á và trên thế giới.