chương 1, luận án khảo sát các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án tập trung vào 3 vấn đề chính: Các công trình nghiên cứu cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn quan hệ hợp tác Việt Nam - Nhật Bản giai đoạn 2002 - 2020; Các công trình nghiên cứu đề cập đến thực tiễn quan hệ hợp tác giáo dục Việt Nam - Nhật Bản ở bậc đại học; Đánh giá của các nhà nghiên cứu về hợp tác giáo dục đại giữa Việt Nam và Nhật Bản. Từ việc khảo sát nêu trên, nghiên cứu sinh rút ra những đánh giá mang tính cá nhân về những vấn đề đã được thống nhất và hay các vấn đề còn đang được tranh luận, chưa có sự thống nhất và chỉ ra khoảng trống trong nghiên cứu mà luận án sẽ tập trung luận giải. Đây là cơ sở quan trọng để nghiên cứu sinh triển khai các nội dung luận án ở chương 2, chương 3 và chương 4. Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn của hợp tác giáo dục Việt Nam - Nhật Bản ở bậc đại học Trong chương 2, luận án tập trung hệ thống hóa và phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của hợp tác giáo dục Việt Nam - Nhật Bản ở bậc đại học giai đoạn 2002 - 2020.
Nội dung triển khai chính gồm việc phân tích khái niệm hợp tác giáo dục ở bậc đại học và các khái niệm, lí thuyết có liên quan; Nội dung chương này cũng đề cập đến các nhân tố bên trong và bên ngoài với tư cách là những nhân tố thực tiễn có tác động tới quá trình hợp tác Việt nam - Nhật Bản về giáo dục ở bậc đại học giai đoạn mà Luận án xác định giới hạn nghiên cứu. 13 Chương 3: Thực trạng hợp tác giáo dục Việt Nam - Nhật Bản ở bậc đại học giai đoạn 2002 - 2020 Trong chương 3, thực trạng hợp tác giáo dục Việt Nam - Nhật Bản ở bậc đại học giai đoạn từ năm 2002- năm 2020 được phân tích một cách có hệ thống từ: bối cảnh, chính sách và mục tiêu hợp tác giáo dục Việt Nam - Nhật Bản ở bậc đại học cũng như thực tiễn triển khai và kết quả của việc hợp tác giáo dục Việt Nam - Nhật Bản ở bậc đại học trong 2 giai đoạn nhỏ là năm 2002 - năm 2009 và từ năm 2010 - năm 2020. Từ đó nêu ra một số nhận xét về những khó khăn cũng thuận lợi trong việc hợp tác giáo dục giữa Việt Nam và Nhật Bản ở bậc đại học. Chương 4: Hợp tác giáo dục Việt Nam - Nhật Bản ở bậc đại học giai đoạn 2002-2020: Đánh giá triển vọng và một số hàm ý chính sách Trên cơ sở những nội dung thực trạng đã phân tích ở chương 3, trong chương 4, luận án phân tích, nhận định về triển vọng, dự báo xu hướng trong quan hệ hợp tác giáo dục Việt Nam - Nhật Bản ở bậc đại học cũng như đề xuất một số hàm ý chính sách để thúc đẩy hợp tác giáo dục song phương trong thời gian tới.
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ HỢP TÁC GIÁO DỤC VIỆT NAM VÀ NHẬT BẢN Ở BẬC ĐẠI HỌC 1. Các công trình nghiên cứu về cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của hợp tác giáo dục Việt Nam và Nhật Bản ở bậc đại học 1. Các công trình nghiên cứu về liên quan đến lý luận của hợp tác giáo dục Việt Nam và Nhật Bản ở bậc đại học Nghiên cứu về cơ sở lý luận của hợp tác giáo dục quốc tế ở bậc đại học là mảng đề tài được nhiều học giả trong và ngoài nước quan tâm, công bố nhiều công trình có giá trị. Thứ nhất, nhóm công trình đề cập đến khái niệm, quan điểm, cách hiểu về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực giáo dục, hợp tác giáo dục ở bậc đại học.
Mặc dù hiện nay còn nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm hợp tác giáo dục quốc tế ở bậc đại học nhưng cách hiểu của Jane Knigh (1997), chuyên gia nghiên cứu giáo dục hàng đầu tại Đại học Toronto, người có nhiều công trình công bố về hợp tác, liên kết giáo dục đại học, đã được các học giả đi sau đồng thuận và tiếp thu. Khái niệm hợp tác giáo dục quốc tế được Jane Knigh (1997) đưa ra lần đầu vào năm 1997, sau đó được bổ sung trong nghiên cứu năm 2005a và khái quát sâu hơn trong nghiên cứu năm 2015. Theo đó, hợp tác giáo dục quốc tế ở bậc đại học được xem là loại hình mới từ vận hành, cách thức quản lý, chương trình đào tạo, mô hình hợp tác… đáp ứng nhu cầu của người sử dụng - những người muốn du học nhưng không thể do nhiều yếu tố khác nhau [Knight, 2015, tr. Quan điểm này đã được Sheila Trahar (2015) đồng thuận và nhấn mạnh và cụ thể hơn.
Sheila Trahar cho rằng: hợp tác giáo dục quốc tế ở bậc đại học là thuật ngữ phổ biến nhất được sử dụng để mô tả các chương trình cho phép sinh viên có được bằng cấp từ một trường đại học ở nước ngoài trong bối cảnh gia tăng hợp tác trong khu vực và những chương trình như vậy thường được tổ chức bởi các trường đại học nước ngoài [Sheila Trahar, 2015, tr. Theo Sheila Trahar, những chương trình này đôi lúc gặp phải một số vấn đề khi được sử dụng ở những đất nước với các môi trường giáo dục khác nhau mà nguyên nhân chính là do sự khác biệt về chính sách giáo dục 15 hay khác biệt văn hóa. Tuy nhiên về cơ bản, những chương trình giáo dục xuyên quốc gia và các chương trình hợp tác đã cung cấp nhiều cơ hội phong phú, đa dạng để phát triển năng lực của học sinh, sinh viên. Tại Việt Nam, khi thảo luận về hợp tác quốc tế ở bậc đại học, các học giả thường không đưa ra một số khái niệm nay định nghĩa cụ thể mà thường dựa trên quy định của Luật giáo dục đại học của Việt Nam để nêu và phân tích.
Có thể thấy thực trạng này qua các công trình nghiên cứu khá điển hình như: Quản lý chương trình hợp tác giáo dục quốc tế ở bậc đại học trường Đại học Ngân hàng thành phố Hồ Chí Minh của Trần Ngọc Minh (2016); Liên kết đào tạo quốc tế tại Viện đào tạo quốc tế Đại học Bách khoa Hà Nội: thực trạng và giải pháp của Nguyễn Thị Thanh Tú (2019) ; Tận dụng hợp tác quốc tế trong giáo dục đại học Việt Nam của Nguyễn Hoàng Thạch (2020) với… Theo Luật Giáo dục đại học của Việt Nam, hợp tác giáo dục nước ngoài được hiểu là “việc hợp tác đào tạo giữa cơ sở giáo dục đại học được thành lập ở Việt Nam với cơ sở giáo dục đại học nước ngoài nhằm thực hiện chương trình đào tạo để cấp văn bằng hoặc cấp chứng chỉ, nhưng không hình thành pháp nhân mới” [Luật giáo dục Việt Nam, 2018 ]. Một hướng nghiên cứu khác đã tiếp cận hợp tác giáo dục quốc tế ở góc độ ứng phó với tác động của toàn cầu hoá. Tiêu biểu trong số này có thể kể đến như Internationalization of universities: emerging trends, challenges and opportunities (Quốc tế hóa trường đại học: xu hướng mới, thách thức và cơ hội) của Asma Mohsin và Khalid Zaman (2014);The management of transnational higher education (Quản lý giáo dục đại học xuyên quốc gia) của Wilkins Stephen (2018). Những công trình nghiên cứu kể trên đã xét hợp tác giáo dục quốc tế dưới góc độ tính cơ động của các chương trình.
Cũng có những nghiên cứu đã xem xét nó dưới hình thức sản phẩm được trao đổi và phát triển thương mại ra bên ngoài như Critical Perspectives on Transnational Higher Education (Quan điểm phê phán về giáo dục đại học xuyên quốc gia) của Branch John (2019). Như vậy, hướng nghiên cứu này đã nhìn nhận hợp tác quốc tế ở bậc đại học mang ý nghĩa rộng hơn so với khái niệm ban đầu được đưa ra bởi Jane Knigh. 16 Thứ hai là nhóm các công trình nghiên cứu về vai trò, ý nghĩa của hợp tác giáo dục quốc tế ở bậc đại học Những nội dung về vai trò, ý nghĩa của hợp tác giáo dục quốc tế ở bậc đại học đã được đề cập đến trong một số công trình nghiên cứu của các học giả như: GATS, Trade and Higher Education, Perspectives 2003: Where Are We (GATS, Thương mại và Giáo dục Đại học, Viễn cảnh 2003: Chúng ta đang ở đâu) của Jane Knight (2003); Higher Education Crossing Borders: A Guide to the Implications of the General Agreement on Trade in Services (GATS) for Cross-border Education (Giáo dục đại học xuyên biên giới: Hướng dẫn về ý nghĩa của Hiệp định chung về thương mại dịch vụ (GATS) đối với giáo dục xuyên biên giới) của Jane Knight (2006a); Cross-border higher education issues and implications for quality assurance and accreditation (Vấn đề giáo dục đại học xuyên biên giới và ý nghĩa của nó đối với việc đảm bảo và kiểm định chất lượng) của Jane Knight (2007); Quốc tế hóa hay không quốc tế hóa? Một bước đi quan trọng cho các trường đại học Việt Nam của Briller và Ly Pham (2008); Những thách thức trong việc xây dựng trường ĐHĐCQT của Jamil Salmi (2008); Higher Education and International Cooperation: The role of academic collaboration in the developing world (Giáo dục đại học và hợp tác quốc tế: Vai trò của hợp tác học thuật trong thế giới đang phát triển) của Kenneth King (2009) và Transnational education: Current developments and policy implications”: Frontiers of Education in China (Giáo dục xuyên quốc gia: Những phát triển của hiện tại và hàm ý chính sách: Biên giới trong giáo dục của Trung Quốc) của Gu Jianxin (2009); Cross-border Tertiary Education: The Challenges and Opportunities for Intercultural Understanding (Giáo dục đại học xuyên biên giới: Những thách thức và cơ hội cho sự hiểu biết liên văn hóa) của John Chetro-Szivos (2010); Connecting Histories of Education: Transnational and Cross-Cultural Exchanges in (Post-) Colonial Education (Kết nối lịch sử giáo dục: Trao đổi xuyên quốc gia và xuyên văn hóa trong (hậu) giáo dục thuộc địa) của Barnita Bagchi và các cộng sự (2014)…Theo đó, hợp tác giáo dục quốc tế ở bậc đại học có vai trò và ý nghĩa như sau: 17 Hợp tác giáo dục quan trọng trong việc định hướng sự phát triển của các trường đại học theo hướng hiện đại, tiếp cận nền giáo dục đại học tiên tiến trong khu vực và trên thế giới. Hợp tác giáo dục có một vai trò cốt yếu và không thể thiếu trong tiến trình thành lập những trường đại học được kỳ vọng là đáp ứng những chuẩn mực quốc tế, xu hướng này chắc chắn sẽ ngày càng mạnh mẽ trong thời đại toàn cầu hóa.
Quốc tế hóa đang trở thành vấn đề sống còn của các trường đại học trong cuộc cạnh tranh toàn cầu [Briller, Ly Pham, 2008].