Luận án tiến sĩ phát triển đội ngũ giảng viên khối ngành kỹ thuật các trường đại học vùng đồng bằng sông cửu long theo tiếp cận năng lực

Luận án tiến sĩ nghiên cứu phát triển đội ngũ giảng viên khối ngành kỹ thuật tại các trường đại học vùng đồng bằng sông Cửu Long theo tiếp cận năng lực.

Trường đại học

Trường Đại Học Vinh

Chuyên ngành

Quản Lý Giáo Dục

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án

2019

221
2
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. MỞ ĐẦU

1.1. Lý do chọn đề tài

1.2. Mục đích nghiên cứu

1.3. Khách thể, đối tượng nghiên cứu

1.4. Giả thuyết khoa học

1.5. Nhiệm vụ nghiên cứu

1.6. Phạm vi nghiên cứu

1.7. Quan điểm tiếp cận và phương pháp nghiên cứu

2. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN KHỐI NGÀNH KỸ THUẬT CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC THEO TIẾP CẬN NĂNG LỰC

2.1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề

2.2. Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài

2.3. Các công trình nghiên cứu ở trong nước

2.4. Đánh giá chung

2.5. Các khái niệm cơ bản

2.6. Khối ngành kỹ thuật

2.7. Giảng viên khối ngành kỹ thuật

2.8. Đội ngũ giảng viên khối ngành kỹ thuật

2.9. Phát triển đội ngũ giảng viên khối ngành kỹ thuật

2.10. Phát triển đội ngũ giảng viên khối ngành kỹ thuật theo tiếp cận năng lực

3. THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN KHỐI NGÀNH KỸ THUẬT CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG THEO TIẾP CẬN NĂNG LỰC

3.1. Tổ chức khảo sát thực trạng

3.2. Mục đích khảo sát

3.3. Nội dung khảo sát

3.4. Đối tượng khảo sát

3.5. Công cụ, phương pháp khảo sát

3.6. Thời gian khảo sát

3.7. Xử lý kết quả khảo sát

3.8. Khái quát về đặc điểm địa lý tự nhiên, kinh tế - xã hội, giáo dục đào tạo và khối ngành kỹ thuật ở các trường đại học vùng Đồng bằng sông Cửu Long

3.9. Đặc điểm địa lý tự nhiên và kinh tế - xã hội vùng Đồng bằng sông Cửu Long

3.10. Giáo dục và đào tạo vùng Đồng bằng sông Cửu Long

3.11. Sự phát triển khối ngành kỹ thuật ở các trường đại học vùng đồng bằng sông Cửu Long

3.12. Thực trạng đội ngũ giảng viên khối ngành kỹ thuật các trường đại học vùng đồng bằng sông Cửu Long

3.12.1. Thực trạng số lượng, giới tính và độ tuổi đội ngũ giảng viên khối ngành kỹ thuật

3.12.2. Thực trạng về cơ cấu trình độ đào tạo và chuyên môn - nghiệp vụ

3.12.3. Thực trạng về năng lực nghề nghiệp của ĐNGV khối ngành kỹ thuật

3.13. Thực trạng phát triển đội ngũ giảng viên khối ngành kỹ thuật các trường đại học vùng đồng bằng sông Cửu Long

3.14. Thực trạng nhận thức các cấp quản lý về phát triển đội ngũ giảng viên khối ngành kỹ thuật

3.15. Thực trạng quy hoạch và tuyển dụng đội ngũ giảng viên khối ngành kỹ thuật

3.16. Thực trạng bố trí, sử dụng đội ngũ giảng viên khối ngành kỹ thuật

3.17. Thực trạng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giảng viên khối ngành kỹ thuật

3.18. Thực trạng hoạt động quản lý đánh giá, xếp loại giảng viên khối ngành kỹ thuật

3.19. Thực trạng thực hiện chế độ chính sách đãi ngộ và môi trường làm việc

3.20. Thực trạng về ảnh hưởng của các yếu tố đến phát triển đội ngũ giảng viên khối ngành kỹ thuật các trường đại học vùng đồng bằng sông Cửu Long theo tiếp cận năng lực

3.20.1. Các yếu tố khách quan

3.20.2. Các yếu tố chủ quan

3.21. Kinh nghiệm phát triển đội ngũ giảng viên khối ngành kỹ thuật của một số nước trên thế giới

3.21.1. Cộng hòa liên bang Đức

3.22. Đánh giá chung về thực trạng

3.23. Nguyên nhân những tồn tại, hạn chế của thực trạng

4. GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN KHỐI NGÀNH KỸ THUẬT CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG THEO TIẾP CẬN NĂNG LỰC

4.1. Các nguyên tắc đề xuất giải pháp

4.1.1. Nguyên tắc đảm bảo tính mục đích

4.1.2. Đảm bảo tính hệ thống

4.1.3. Đảm bảo tính thực tiễn

4.1.4. Đảm bảo tính hiệu quả

4.1.5. Đảm bảo tính khả thi

4.2. Các giải pháp phát triển đội ngũ giảng viên khối ngành kỹ thuật các trường đại học ở vùng đồng bằng sông Cửu Long theo tiếp cận năng lực

4.2.1. Tổ chức nâng cao nhận thức cho cán bộ quản lý và giảng viên về tầm quan trọng của phát triển đội ngũ giảng viên khối ngành kỹ thuật theo tiếp cận năng lực

4.2.2. Xây dựng khung năng lực của giảng viên khối ngành kỹ thuật

4.2.3. Cải tiến quy hoạch, kế hoạch phát triển đội ngũ giảng viên khối ngành kỹ thuật theo tiếp cận năng lực

4.2.4. Xây dựng, tổ chức thực hiện quy trình tuyển dụng, sử dụng giảng viên khối ngành kỹ thuật theo tiếp cận năng lực

4.2.5. Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực cho giảng viên khối ngành kỹ thuật theo tiếp cận năng lực

4.2.6. Đảm bảo thực hiện chế độ chính sách phát triển đội ngũ giảng viên khối ngành kỹ thuật

5. KẾT QUẢ KHẢO NGHIỆM TÍNH CẤP THIẾT, TÍNH KHẢ THI CỦA CÁC GIẢI PHÁP

5.1. Khảo nghiệm tính cấp thiết, tính khả thi

5.2. Phân tích và đánh giá kết quả khảo nghiệm

5.3. Thử nghiệm giải pháp

5.3.1. Mục đích thử nghiệm

5.3.2. Nội dung thử nghiệm

5.3.3. Giới hạn thử nghiệm

5.3.4. Tiêu chí đánh giá

5.3.5. Tiến hành thử nghiệm

5.3.6. Kết quả thử nghiệm

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ ĐƯỢC CÔNG BỐ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Giới thiệu về phát triển đội ngũ giảng viên kỹ thuật

Phát triển đội ngũ giảng viên khối ngành kỹ thuật tại các trường đại học miền Tây là một nhiệm vụ quan trọng trong bối cảnh hiện nay. Nhu cầu về nguồn nhân lực chất lượng cao, đặc biệt là trong lĩnh vực kỹ thuật, đang gia tăng mạnh mẽ. Đội ngũ giảng viên không chỉ là người truyền đạt kiến thức mà còn là những người định hình tương lai của sinh viên. Việc phát triển giảng viên kỹ thuật cần được thực hiện đồng bộ và có hệ thống, nhằm nâng cao chất lượng giáo dục và đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động. Theo Nghị quyết số 29-NQ/TW, việc đổi mới giáo dục và đào tạo là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, trong đó phát triển giáo dụcđào tạo giảng viên là yếu tố quyết định.

1.1. Tầm quan trọng của đội ngũ giảng viên

Đội ngũ giảng viên khối ngành kỹ thuật đóng vai trò nòng cốt trong việc đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao. Họ không chỉ cần có kiến thức chuyên môn vững vàng mà còn phải có khả năng áp dụng công nghệ mới vào giảng dạy. Việc phát triển giảng viên kỹ thuật không chỉ giúp nâng cao chất lượng đào tạo mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững của nền kinh tế. Theo nghiên cứu, một đội ngũ giảng viên có năng lực sẽ tạo ra những sinh viên có khả năng làm việc hiệu quả trong môi trường cạnh tranh. Điều này càng trở nên quan trọng trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, khi mà yêu cầu về kỹ năng và kiến thức ngày càng cao.

II. Thực trạng đội ngũ giảng viên kỹ thuật tại miền Tây

Thực trạng đội ngũ giảng viên khối ngành kỹ thuật tại các trường đại học miền Tây hiện nay cho thấy nhiều vấn đề cần được giải quyết. Theo khảo sát, tỷ lệ giảng viên có trình độ thạc sĩ và tiến sĩ còn thấp, ảnh hưởng đến chất lượng giảng dạy. Nhiều giảng viên chưa được đào tạo bài bản về kỹ thuật công nghệ, dẫn đến việc áp dụng phương pháp giảng dạy chưa hiệu quả. Hơn nữa, môi trường làm việc và chế độ đãi ngộ chưa thực sự hấp dẫn, khiến cho việc thu hút và giữ chân giảng viên kỹ thuật gặp nhiều khó khăn. Điều này dẫn đến tình trạng thiếu hụt nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực kỹ thuật, ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của các trường đại học trong khu vực.

2.1. Đánh giá về chất lượng giảng viên

Chất lượng giảng viên khối ngành kỹ thuật tại miền Tây hiện nay còn nhiều hạn chế. Nhiều giảng viên chưa có kinh nghiệm thực tiễn trong ngành, dẫn đến việc giảng dạy không gắn liền với thực tế. Theo thống kê, chỉ khoảng 30% giảng viên có kinh nghiệm làm việc trong các doanh nghiệp, điều này làm giảm khả năng kết nối giữa lý thuyết và thực hành. Hơn nữa, việc thiếu các chương trình đào tạo bồi dưỡng thường xuyên cũng khiến cho giảng viên không cập nhật kịp thời các kiến thức mới. Do đó, cần có những giải pháp cụ thể để nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên, từ đó cải thiện chất lượng đào tạo.

III. Giải pháp phát triển đội ngũ giảng viên kỹ thuật

Để phát triển đội ngũ giảng viên khối ngành kỹ thuật, cần thực hiện một số giải pháp đồng bộ. Đầu tiên, cần xây dựng khung năng lực cho giảng viên kỹ thuật, từ đó xác định rõ các tiêu chí đánh giá và phát triển. Thứ hai, cần tổ chức các chương trình đào tạo, bồi dưỡng thường xuyên cho giảng viên, giúp họ cập nhật kiến thức và kỹ năng mới. Thứ ba, cần cải thiện môi trường làm việc và chế độ đãi ngộ cho giảng viên, nhằm thu hút và giữ chân nhân tài. Cuối cùng, cần tăng cường hợp tác giữa các trường đại học và doanh nghiệp để tạo ra cơ hội thực tập và việc làm cho sinh viên, đồng thời giúp giảng viên có cơ hội trải nghiệm thực tế.

3.1. Xây dựng khung năng lực cho giảng viên

Việc xây dựng khung năng lực cho giảng viên khối ngành kỹ thuật là rất cần thiết. Khung năng lực này sẽ giúp xác định rõ các yêu cầu về kiến thức, kỹ năng và thái độ mà giảng viên cần có. Đồng thời, khung năng lực cũng sẽ là cơ sở để đánh giá và phát triển giảng viên trong tương lai. Các trường đại học cần phối hợp với các chuyên gia trong ngành để xây dựng khung năng lực phù hợp với yêu cầu của thị trường lao động. Điều này không chỉ giúp nâng cao chất lượng giảng dạy mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững của ngành giáo dục.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN KHỐI NGÀNH KỸ THUẬT CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC THEO TIẾP CẬN NĂNG LỰC 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài Theo A.Petrovski, năng lực là yếu tố quan trọng tạo nên nhân cách con người và là một vấn đề được nhiều nhà tâm lý học quan tâm nghiên cứu. Ông cho rằng năng lực sư phạm của GV là một tổ hợp gồm các phẩm chất tâm lý của nhân cách.

Những phẩm chất này là điều kiện để thành công trong việc dạy học và giáo dục. Các năng lực sư phạm gắn liền với các kỹ năng, kỹ xảo sư phạm, là những cấu thành nhân cách đảm bảo cho hoạt động của GV thu được kết quả [1].Gonobolin [27] xem năng lực là những thuộc tính tâm lý riêng lẻ của cá nhân. Nhờ những thuộc tính này mà con người hoàn thành tốt đẹp một hoạt động nào đó. Năng lực khác với tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, kinh nghiệm và trình độ đào tạo.

Tuy nhiên, năng lực, kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo, kinh nghiệm có quan hệ chặt chẽ với nhau, hỗ trợ nhau. Năng lực được hình thành và phát triển thông qua các hoạt động nghề nghiệp. Trong mỗi nghề nhất định, con người cần phải có năng lực mới làm tốt được. Năng lực nghề nghiệp của cá nhân là điều kiện, phương tiện để thực hiện hóa xu hướng nghề nghiệp.

Người làm công tác giảng dạy cần phải có năng lực sư phạm mới làm tốt nghề. Năng lực sư phạm của GV là khả năng thực hiện các hoạt động giáo dục, dạy học với chất lượng cao. Tác giả Tom Bisschoff và Bennie Grobler khi nghiên cứu quản lý năng lực sư phạm và năng lực hợp tác của GV cho rằng hiệu trưởng nhà trường cần khuyến khích GV phát triển năng lực của bản thân, khuyến khích quản lý chuyên môn trực tiếp giúp đỡ GV trong tổ/khoa. Ông khuyến nghị hiệu trưởng các nhà trường nâng cao năng lực hợp tác cho GV bằng các biện pháp sau: nhấn mạnh đúng mức vai trò hợp tác giữa các GV, chú ý đến ý tưởng cá nhân của họ, chia sẻ những kinh nghiệm làm việc của mình với GV khác, giúp đỡ các GV yếu, tạo điều kiện để GV có trình độ cao được chia sẻ kinh nghiệm lẫn nhau [102].

luan an 10 Tác giả Arup Barman và Jothika Konwar trong một nghiên cứu phát triển chương trình GDĐH dựa vào năng lực [83] xác định khái niệm “Năng lực” ra đời khởi đầu ở Tây Âu vào thế kỷ 16 khi sử dụng các từ ngữ tương đương như: Lực - Năng lực - Khả năng; thẩm quyền - quyền hạn; tiếng La tinh gọi “competentia” khả năng cho phép hay khả năng, kỹ năng và kinh nghiệm để làm những gì cần thiết. Trong một nghiên cứu của Selznick, Shaikhah, năng lực được phát triển vào đầu năm 1957. Ban đầu nó đã được sử dụng trong lĩnh vực giáo dục để mô tả hành vi “competency” của GV thực tập. Năm 1997, trong tác phẩm “Phát triển năng lực chuyên môn cho các nhà Lãnh đạo và quản lý giáo dục” (Professional Development For Educational Management Leadership and Management in Education), các tác giả người Anh Kydd Lesley, Crawford Megan, Riches Colin [95], đưa ra ý niệm về năng lực có 2 trường phái, là chìa khóa cho việc nghiên cứu, vận dụng sáng tạo của các nhà QLGD: + Người Anh quan niệm: Năng lực được giới hạn bởi 3 yếu tố kiến thức, kỹ năng, thái độ.

+ Người Mỹ cho là bất kì yếu tố nào dẫn đến thành công, đạt hiệu quả cao để hoàn thành một công việc (hay quản lý tốt các hoạt động) đều được xem là năng lực. Năm 2011, Cục Quản lý Việc làm và Đào tạo (Employment and Training Administration - ETA) trực thuộc Bộ Lao động Hoa Kỳ đề xuất phát triển mô hình năng lực có cấu trúc hình kim tự tháp gồm 4 lớp: 1) Năng lực kiến thức chuyên môn (Specific Knowledge Competencies); 2) Năng lực phương pháp kỹ thuật (Specific Technical Competencies); 3) Năng lực chuyên gia, tư vấn kỹ thuật (Specific Requirements); 4) Năng lực quản lý (Management Competencies). Tất cả 4 lớp năng lực trên được đặt trên năng lực nền tảng, cơ bản cá nhân (generic competencies) hay năng lực cốt lõi (core) xuyên chức năng (cross-functional) gồm: Kỹ năng giao tiếp; Liêm chính; Tính chuyên nghiệp; Sáng tạo; Độ tin cậy; Sẵn sàng để tìm hiểu; Chất lượng, hiệu quả cá nhân [99]. Tập hợp hệ thống năng lực cơ bản, năng lực chuyên biệt/năng lực theo vai trò chức trách (role specific competencies) để hoàn thành yêu cầu nhiệm vụ cụ thể nhất định gọi là hồ sơ năng lực hay khung năng lực - Competency framework [99].

luan an 11 Cuối thế kỷ XX, đào tạo theo năng lực đã trở thành một xu thế phổ biến trong giáo dục nghề nghiệp trên thế giới. Người sử dụng lao động không cần quan tâm đến người lao động của mình được đào tạo ở đâu, với những nội dung gì và trong bao lâu mà chỉ cần người lao động có đủ năng lực để hoàn thành những công việc của nghề tại vị trí lao động, đạt chuẩn chất lượng sản xuất đòi hỏi. Trước những yêu cầu như vậy, các nhà sư phạm, nhà nghiên cứu giáo dục buộc phải quan tâm nhiều hơn đến công tác đào tạo GV, đặc biệt là GV khối ngành kỹ thuật. Gần đây một số nhà sư phạm như Hortsch Hanno (2003), Didaktikder Berufsbidung, Hochschulskripten Universitaet Dresden; HermanSatedag (2004), Michael Steig (2006).

đã có những nghiên cứu cơ bản về vấn đề này. Các tác giả cho rằng năng lực phải là mục tiêu trong công tác đào tạo GV, bởi chính người GV là người đặt nền móng, giúp người học hình thành năng lực thực hiện. Người học là bản sao của người dạy không chỉ ở phẩm chất nhân văn mà còn là bản sao về sự thực hiện hoạt động nghề nghiệp (năng lực thực hiện). Định hướng đầu vào, đầu ra của quá trình đào tạo là quan điểm cho việc xây dựng những mô hình năng lực cho người GV của các tác giả.Beerens - tác giả cuốn “Tạo văn hóa của động lực và học tập” cho rằng: Tính chủ động và luôn đổi mới là tiêu chí trung tâm của đội ngũ nhà giáo hiện nay.

Ông chủ trương tạo ra một nền văn hóa về sự thúc đẩy và thường xuyên học tập của ĐNGV, coi đó là giá trị mới, chính yếu của nhà giáo [88]. Chất lượng ĐNGV là chủ đề được các nhà khoa học giáo dục ở các nước trên thế giới quan tâm nghiên cứu. Đến nay đã có nhiều công trình được công bố. Theo kết quả nghiên cứu của các thành viên OECD (Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế), chất lượng nhà giáo gồm các nội dung sau: 1) Kiến thức phong phú về phạm vi chương trình và nội dung bộ môn mình giảng dạy; 2) Kỹ năng sư phạm, kể cả việc có được “kho kiến thức” về phương pháp giảng dạy, về năng lực sử dụng những phương pháp đó; 3) Có tư duy phản ánh trước mỗi vấn đề và có năng lực tự phê bình, nét rất đặc trưng của nghề dạy học; 4) Biết cảm thông và cam kết tôn trọng phẩm giá của người khác; 5) Có năng lực quản lý, kể cả trách nhiệm quản lý trong và ngoài lớp.

Theo Fielden J (1998), phát triển ĐNGV là yêu cầu của các trường đại học đứng trước những thách thức của nhu cầu học tập ngày càng lớn của dân số, do sự đòi hỏi của sự phát triển kinh tế, xã hội trong hoàn cảnh mới, sự thay đổi của công nghệ, luan an 12 các yêu cầu mới của thị trường lao động. Hội nghị Thế giới về GDĐH với chủ đề “Giáo dục đại học vào thế kỷ XXI - Tầm nhìn và hành động” được tổ chức tại Paris vào tháng 10/1998. Hội nghị ghi nhận: “Một chính sách mạnh mẽ về phát triển đội ngũ là yếu tố quan trọng đối với các trường đại học. Cần xây dựng các chính sách rõ ràng liên quan đến giảng viên đại học, sao cho có thể cập nhật và nâng cao kỹ năng của họ, khuyến khích sự cải tiến về chương trình đào tạo, phương pháp dạy và học, và với một trình trạng tài chính và nghiệp vụ thích hợp, để đạt chất lượng cao trong nghiên cứu và giảng dạy” [24].

Theo tổng kết của UNESCO, trong nền giáo dục hiện đại, vai trò của người GV đã có thay đổi theo các phương hướng sau đây: 1) Đảm nhận nhiều chức năng hơn so với trước, có trách nhiệm lớn hơn trong việc lựa chọn nội dung dạy học và giáo dục. 2) Chuyển mạnh từ chỗ truyền thụ kiến thức sang tổ chức việc học của học sinh, sử dụng đến mức tối đa những nguồn tri thức trong xã hội. 3) Coi trọng việc cá biệt hóa trong học tập, thay đổi tính chất trong quan hệ thầy trò. 4) Yêu cầu rộng rãi hơn những phương tiện dạy học hiện đại, do đó yêu cầu trang bị thêm những kiến thức và kỹ năng cần thiết.

5) Yêu cầu hợp tác rộng rãi và chặt chẽ hơn với các GV cùng trường, thay đổi cấu trúc trong mối quan hệ giữa GV với nhau. 6) Yêu cầu thắt chặt hơn các mối quan hệ với cha mẹ học sinh và cộng đồng, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống. 7) Yêu cầu GV tham gia các hoạt động rộng rãi ngoài nhà trường. 8) Giảm bớt và thay đổi uy tín truyền thống trong quan hệ với học sinh, nhất là đối với học sinh lớn và với cha mẹ các em.

Đối với GV đại học, Hội nghị quốc tế về “Giáo dục đại học vào thế kỷ XXI - Tầm nhìn và hành động” (1998) đã nêu lên những năng lực cần có của một GV mẫu mực như sau: 1) Có kiến thức và thông hiểu về các cách khoa học khác nhau của SV. 2) Có kiến thức, năng lực và thái độ về mặt theo dõi và đánh giá SV, nhằm giúp họ tiến bộ. 3) Tự nguyện hoàn thiện bản thân trong ngành nghề của mình; biết ứng dụng những tiêu chí nghề nghiệp và luôn luôn cập nhật những thành tựu mới nhất. luan an 13 4) Biết ứng dụng những kiến thức về công nghệ thông tin vào môn học, ngành học của mình.

5) Có khả năng nhận biết được những tín hiệu của “thị trường” bên ngoài về nhu cầu của giới chủ đối với những người tốt nghiệp. 6) Làm chủ được những thành tựu mới về dạy và học, từ cách dạy học mặt giáp mặt đến cách dạy học từ xa. 7) Chú ý đến những quan điểm và mong ước của “khách hàng”, tức là của những đối tác và SV khác nhau. 8) Hiểu được những tác động của những nhân tố quốc tế và đa văn hóa đối với những chương trình đào tạo.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ mang tiêu đề "Luận án tiến sĩ về phát triển đội ngũ giảng viên khối ngành kỹ thuật tại các trường đại học vùng đồng bằng sông Cửu Long" của tác giả Nguyễn Minh Tuấn, dưới sự hướng dẫn của Phan Quốc Lâm và TS. Nguyễn Văn Đệ, tập trung vào việc nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên trong lĩnh vực kỹ thuật tại các trường đại học miền Tây. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về tình hình hiện tại mà còn đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm cải thiện chất lượng giảng dạy và đào tạo, từ đó góp phần nâng cao năng lực cho sinh viên trong khu vực.

Để mở rộng thêm kiến thức về quản lý giáo dục và phát triển đội ngũ giảng viên, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như "Luận án tiến sĩ về quản lý đào tạo ngành kỹ thuật công nghệ tại Đại học Tây Đô", nơi nghiên cứu về quản lý giáo dục trong lĩnh vực kỹ thuật, hay "Luận án tiến sĩ về phát triển năng lực hợp tác giải quyết vấn đề cho sinh viên các ngành kỹ thuật", giúp bạn hiểu rõ hơn về việc phát triển kỹ năng cho sinh viên trong ngành kỹ thuật. Những tài liệu này sẽ cung cấp cho bạn những góc nhìn đa dạng và sâu sắc hơn về các vấn đề liên quan đến giáo dục và đào tạo trong lĩnh vực kỹ thuật.